Pfennig

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Phổ: 1 pfennig năm 1852. Chữ mặt phải: 360 [thành] một Thaler.
Đế chế Đức: Đồng xu sắt 10 pfennig năm 1917

Pfennig (tiếng Đức: [ˈpfɛnɪk]  (Speaker Icon.svg nghe); pl pfennigs hoặc Về âm thanh nàypfennige < Về âm thanh nàypfennige ; ký hiệu Pf. hoặc ₰) hoặc pennymột loại tiền tệ của Đức trước đây từ thế kỷ 9 đến khi nước Đức thay thế đồng Mác bằng Euro vào năm 2002. Mặc dù là một đồng tiền có giá trị trong thời Trung cổ, nhưng nó đã mất giá trị qua nhiều năm và là đồng tiền nhỏ của đồng MarkĐế chế Đức, Tây Đức, Đông Đức, và nước Đức thống nhất cho đến khi đồng euro ra đời và nó bị bãi bỏ. Pfennig cũng là tên của tiểu đơn vị của Mark Danzig (1922–1923) và Gulden Danzig (1923–1939) ở Thành phố Tự do Danzig (Gdańsk, Ba Lan ngày nay).

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Thế kỷ VII, Charlemagne đã quyết định rằng 240 Pfennig phải được làm bằng 1 Pound (khoảng 0.45359237 kg) bạc sau cuộc cải cách đúc tiền vào khoảng thập niên 790. Cho tới Thế kỷ XIII, những đồng Pfennig vẫn được làm bằng bạc nguyên chất có giá trị cao, nhưng từ Thế kỷ XII trở đi, nhà vua Đức không thể kiểm soát việc đúc tiền nữa nên các địa phương đã bắt đầu dùng những đồng Pfennig của riêng mình. Thường thì các kim loại có giá trị thấp hơn như đồng với viền thiếc hay cả thủy ngân) và ít kim loại hơn được đóng trên 1 đồng xu, nên những đồng Pfennig của những tỉnh thành khác nhau có giá trị khác nhau tùy vào chất lượng của kim loại được dùng và độ chặt của kim loại. Sau một số thập kỷ, 2 loại Pfennig riêng đã được xác định. Một là Weißpfennige (phát âm: Weisspfennige) có nghĩa là Pfennig trắng và được xác định khi 1 đồng xu có hơn 50g bạc và dĩ nhiên, đồng Pfennig trắng có giá trị cao hơn. Ngược lại với Pfennig trắng là Schwarzpfennige (phát âm: Schwarzpfennige) có nghĩa là Pfennig đen. Pfennig đen có rất nhiều xu được sản xuất và những đồng xu đó thường không có chút bạc nào hay chỉ có rất ít và loại này có gia trị thấp hơn loại Pfennig trắng.

Những đồng Pfennig được làm mới sau này là Pfennig Häller hay Pfennig của thành Schwäbisch Hall, sau đó được gọi là Heller, được làm ra ơ hầu như tất cả các vùng trong nước Đức và đồng Pfennig Kreuzer được làm ở Áo, Thụy Sĩ và một số vùng thuộc miền Bắc Đức.

Vào những thập niên cuối Thế kỷ XVII, đồng Pfennig bị mất gần như toàn bộ giá tr. Những đồng Pfennig cuối cùng mang trong mình chút ít bạc nguyên chất trở thành hàng hiếm, rồi sau đó mẻ tiền cuối cùng chứa bạc được ra lò vào năm 1805.

Đồng Goldmark, ra mắt vào năm 1871 (cùng lúc với sự ra lò của xu 20 Pfennig) là tiền tệ của Đế chế thứ hai, tức Đế quốc Đức, đã xác định: 100 pfennig = 1 mark. Kiểu chia này đã được giữ cho đến năm 2001, khi Mark Đức bị ngừng lưu hành và Euro trở thành kẻ kế nhiệm

Những đồng 1 và 2 Pfennig trong loạt tiền cuối cùng của Mark Đông Đứcsắt với lớp viền bằng đồng. Đồng 5 Pfennig thì lại có viền bằng thau. Sau này, nó được gọi là Groschen, và vẫn là tên thông dụng của 5 Pfennig ở vùng Sông Elbe.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Pfennig có liên quan từ nguyên với đồng penny của Anh, penning Thụy Điển, cũng là mô hình cho penni Phần Lan (1860 – 2001), penn Estonia (1918 – 1927), fenig Ba Lan (1917 – 1918), từ tiếng Litva có nghĩa là pinigaipfenig (fening) của Bosnia và Herzegovina (1998 – nay). Từ nguyên của tất cả những thứ này không hoàn toàn rõ ràng, nhưng dường như dựa vào cách thức đúc tiền xu trong thời Trung cổ: vật liệu cơ bản là đĩa kim loại phẳng mỏng. Giá trị được in nổi từ một mặt, tạo ra một đồng xu trông giống cái chảo (tiếng Đức: Pfanne). Ở một số nước Đức (chẳng hạn như Phổ và Bavaria), tiền xu có những tên gần giống nhau nhưng khác nhau, như pfenning, penning, pending, pfanding và penny. Điều này là để phân biệt các đơn vị tiền tệ khác nhau (thuộc các trạng thái khác nhau trong Deutscher Bund) được sử dụng đồng thời.

Ký hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Với tư cách là một ký hiệu tiền tệ, ký hiệu cho pfennig là một biến thể của chữ cái nhỏ 'd' cho 'denarius' trong hệ thống chữ Kurrent của Đức đã được sửa đổi, thay vào đó, phần cuối của ký tự Kurrent cực nhỏ 'd', ở đầu dấu thăng trong một vòng ngược chiều kim đồng hồ, thay vào đó được đưa xuống phía sau bên phải, để tạo thành một dấu đi xuống, nối theo chiều kim đồng hồ, do đó làm cho nó trở thành một biểu tượng riêng biệt, khác với bất kỳ chữ cái Kurrent khác theo đúng nghĩa của nó: ; khi so sánh với chữ Kurrent 'd' bé hơn được đưa ra.

Biểu tượng cho đồng pfennig gần như không còn được sử dụng kể từ những năm 1950, với sự sụp đổ và cuối cùng là sự hủy bỏ của Reichsmark cùng với đơn vị tiền Reichspfennig của nó, thêm vào đó là việc Đức Quốc xã bãi bỏ Kurrent vào ngày 3 tháng 1 năm 1941, do đó làm cho nó ngày càng trở nên khó hiểu và ít phổ biến dần theo mã chữ cái Kurrent kể từ thời điểm đó.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]