Phân rã alpha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bản mẫu:Vật lý nguyên tử

Phát hiên Hạt alpha: Hạt alpha đầu tiên được xác định như bức xạ có khả năng đâm xuyên kém nhất do các chất trong tự nhiên phát ra.

Năm 1903,Rutherford xác định tỉ số điện tích khối lượng bằng cách làm lệch hạt alpha phát ra từ radium trong điện trường và từ trường.Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong các thí nghiệm đầu tiên,kết quả của Rutherford chỉ cao hơn 25% giá trị được chấp nhận hiện nay.

Năm 1909, Rutherford chỉ ra như đã dự đoán,hạt alpha là hạt nhân của nguyên tử Helium.Trong thí nghiệm của ông,hạt alpha xuyên qua thành và đi vào trong ống nghiệm.Sau vài ngày thu thập đủ số lượng hạt alpha,phương pháp phổ học nguyên tử cho thấy sự tồn tại của helium trong ống nghiệm.

Phân rã alpha

Phân rã alpha là một loại phân rã phóng xạ trong đó một hạt nhân nguyên tử phát ra một hạt alpha và qua đó biến đổi (hay "phân rã") hay làm giảm cả số hiệu nguyên tử lẫn số neutron đi 2 đơn vị, còn số khối lượng bị giảm mất 4 đơn vị. Ví dụ:

23892U  →  23490Th  42He2+ [1]

mà cũng có thể viết là:

23892U  → 23490Th  α  

Hạt alpha gồm hai proton và hai neutron liên kết với nhau thành một hạt giống hệt hạt nhân nguyên tử heli.

Tia alpha là chùm của các hạt He bay ra với vận tốc khoảng 2*107 (m/s),đi được vài centimet trong không khí và vài micromet trong chất rắn.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Suchocki, John. Conceptual Chemistry, 2007. Page 119.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]