Phêrô Trần Lục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Linh mục Phêrô Trần Lục (Cố Sáu)

Phêrô Trần Lục (1825-1899), còn được biết với biệt danh cụ Sáu, là một linh mục Thiên Chúa giáo người Việt. Ông nổi tiếng là một giáo sĩ nhiệt thành, là người đã cho khởi công xây dựng Nhà thờ Phát Diệm. Tuy vậy, ông cũng bị mang nhiều tiếng xấu khi hỗ trợ đắc lực cho Thực dân Pháp trong thời kỳ đầu người Pháp đô hộ Việt Nam. Trần Lục là người đã hướng dẫn và cung cấp cho quân xâm lược 150 tay súng Công giáo để đánh chiếm thành lũy Ninh Bình của nước ta, cũng là người đã huy động 5.000 giáo dân Việt Nam giúp Tây tiêu diệt chiến khu Ba Đình của anh hùng Đinh Công Tráng, và ông đã từng bị lãnh tụ chống xâm lăng Phan Đình Phùng đè ra hỏi tội và đánh đòn công khai vì tội hống hách ức hiếp dân chúng. Trần Lục được người Pháp thưởng hai Bắc Đẩu Bội Tinh vì đã hỗ trợ đắc lực cho quân viễn chinh Pháp.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật Trần Văn Hữu, sinh năm 1825, quê ở làng Mỹ Quan, tổng Cao Vịnh, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa (nay là thôn Mỹ Quan, xã Hà Vinh, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa). Ông là con thứ hai trong gia đình 7 người con (gồm 5 trai 2 gái). Cha ông là ông Trần Văn Nhu, người Nam Ðịnh, còn mẹ ông không rõ tên, là người gốc Ninh Bình.[1]

Khi rửa tội, ông được đặt tên thánh là Phêrô. Năm 1840, ông rời gia đình theo linh mục Trần Văn Tiếu làm phụ lễ tại giáo xứ Bạch Bát. Năm 1845, ông được nhận vào Tiểu chủng viện Vĩnh Trị, đổi tên thành Trần Văn Triêm để tránh trùng tên với một chủng sinh khác. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1850 và chịu chức Sáu (diacre) tại nhà thờ Tràng Vĩnh Trị, xứ Kẻ Vĩnh, Nam Định[2], ông được gửi đi thực tập truyền giáo trong một số giáo xứ cho đến năm 1855 thì được nhận vào Đại chủng viện Kẻ Non (Hà Nam), bấy giờ do Giám mục Charles Hubert Jeantet (tên Việt là Khiêm) cai quản, để tiếp tục học thêm về Triết lý và Thần học và thụ phong Phó tế.

Lén lút truyền đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy nhiên, nhân việc chiến thuyền Pháp Catinat vào cửa Đà Nẵng, cho người đem thư lên trách triều đình Việt Nam về việc giết giáo sĩ đạo Thiên Chúa, tự tiện bắn phá các đồn lũy rồi bỏ đi năm 1856, vua Tự Đức càng ra sức cấm đạo quyết liệt. Trong năm 1857, liên tiếp 4 sắc chỉ cấm đạo được ban hành. Tiểu chủng viện Vĩnh Trị bị san thành bình địa[3]. Các cơ sở Công giáo khác cũng bị đốt phá và tiêu hủy[4]. Ngày 13 tháng 7 năm 1858, ông bị bắt và bị đày lên Lạng Sơn. Em trai của ông là Gioan Trần Văn Pháp (hay Truật), cũng bị đày và chết tại đây.[1]

Tuy nhiên, tháng 1 năm 1860, ông được Giám mục Jeantet Khiêm, bấy giờ là Đại diện Tông tòa Tây Đàng Ngoài, bí mật triệu hồi và phong chức linh mục ở Kẻ Trừ (nay là Giáo xứ Từ Châu, xã Liên Châu, huyện Thanh Oai, Hà Nội). Do nhiều năm chịu chức Sáu, được các giáo dân thường gọi là Cụ Sáu, ông lấy tên giả là Trần Lục để tránh lộ thân phận. Sau đó, ông trở về Lạng Sơn để cai quản giáo dân bị lưu đày tại đây mãi đến năm 1862, khi vua Tự Ðức ban hành lệnh tha cấm đạo, ông mới được trả tự do.

Quản xứ Phát Diệm[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng linh mục Phêrô Trần Lục trong nhà thờ đá Phát Diệm

Sau khi được trả tự do, ông được Giám mục Jeantet Khiêm phân về quản nhiệm ba xứ Mỹ Diệm, Kẻ Dừa, Tam Tổng. Bấy giờ, cả ba xứ chỉ có một nhà thờ nhỏ lợp tranh tại làng Trung Đồng (nay thuộc xã Yên Nhân, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình). Sau khi ông về quản nhiệm, đã cho dời nhà thờ xứ về Phát Diệm.[5]

Năm 1865, ông được Giám mục Jeantet Khiêm bổ nhiệm làm Chánh xứ Phát Diệm. Năm 1871, ông đã huy động giáo dân xây dựng một nhà thờ nhỏ lợp ngói.

Năm 1873, Francis Garnier đánh Hà Nộichiếm Nam Ðịnh, Ninh Bình, Hải Dương, Hải Phòng, gây nên Biến cố Bắc Kỳ 1873. Vua Tự Ðức phái Trần Đình Túc, Trương Gia Hội cùng hai giáo sĩ là Giám mục Joseph Hyacinthe Sohier (tên Việt là Bình)[6] và linh mục Danzelger (tên Việt là Đăng) ra Hà Nội để điều đình với Garnier. Ông được cho là đã tháp tùng phái đoàn này. Việc điều đình chưa ngã ngũ thì Francis Garnier bị quân Cờ Đen phục kích giết chết tại Cầu Giấy. Vui mừng trước sự việc này, Tự Đức liền triệu hồi phái đoàn điều đình trở về. Riêng ông được vua thưởng cho 1 Kim khánh và 5 Kim tiền.

Với sự ưu ái của triều đình, ông bắt tay vào việc xây dựng một nhà thờ mới từ năm 1875. Mặc dù không phải là một kiến trúc sư, ông đã tiếp nhận và dung hòa rất nhiều trường phái mỹ thuật để xây dựng một nhà thờ đá rất đồ sộ và mỹ thuật, có một phong cách riêng đặc biệt cho đến tận ngày nay. Năm 1901, Nhà thờ Phát Diệm được chọn làm Tòa giám mục của Giáo phận Thanh, sau đổi thành Giáo phận Phát Diệm.

Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Ông qua đời ngày 6 tháng 7 năm 1899. Trước khi qua đời, ông có trăng trối hãy táng xác ông giữa lối ra vào nhà thờ, "để người ta đi lại, xéo trên mồ"[2]. Tuy nhiên, giáo dân đã dịch qua khỏi lối đi và làm vòng rào bảo vệ.

Trong đám tang của ông, Bố chánh Thanh Hóa thay mặt triều đình Đại Nam và Công sứ Ninh Bình thay mặt chính phủ Bảo hộ Pháp đến dự và đọc điếu văn.

Những tiếng xấu[sửa | sửa mã nguồn]

Linh mục Trần Lục đã hướng dẫn và cung cấp cho quân Pháp xâm lược 150 tay súng Công giáo để đánh chiếm thành lũy Ninh Bình của nước ta, và đã huy động 5.000 giáo dân Việt Nam giúp Tây tiêu diệt chiến khu Ba Đình của anh hùng Đinh Công Tráng. Linh mục Trần Lục đã bị Phan Đình Phùng, khi ấy làm tri phủ Yên Khánh, đè ra hỏi tội và cho đánh đòn công khai.[7]

Linh mục Trần Lục được chính quyền Pháp tặng hai Bắc Đẩu Bội Tinh để tưởng thưởng công lao.

Đối đáp với Tuần Phủ Trần Hy Tăng[sửa | sửa mã nguồn]

[8]

Nhà sử học Nguyễn Mạnh Quang có viết lại một giai thoại về việc linh mục Trần Lục ra câu đối với tuần phủ Trần Hy Tăng (tên thật là Trần Bích San), một người có tiếng là đỗ đạt cao, văn hay chữ tốt trong triều đình nhà Nguyễn. Vế đối của Trần Lục viết bằng chữ Nôm, nội dung như sau:

Vế đối này hiểm hóc ở chỗ chữ "cụ" có rất nhiều nghĩa, đó là "sợ", "đều", "đủ", những nghĩa ấy đều được đề cập trong vế đối cả. Trần Lục cho rằng Trần Hy Tăng vốn chỉ giỏi Hán văn nên sẽ không đối lại được câu này. Nhưng Trần Hy Tăng đã nhanh chóng đáp trả:

Chữ "đạo" trong câu đáp trả cũng có nhiều nghĩa, đó là "đạo lý", "đường đi", "dẫn" và "ăn trộm". Ngoài ra, hai chữ "cụ" và "đạo" ghép lại với nhau thì thành ra "cụ đạo", tức là các linh mục Công giáo. Câu đối của Trần Hy Tăng chẳng khác nào một cái tát vào mặt khiến Trần Lục rất tức giận nhưng cũng vẫn phải thán phục trước khả năng ứng đối của địch thủ.[9][10]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Msgr. Trần Ngọc Thụ, "Sự nghiệm của cha Trần Lục"
  2. ^ a ă Linh mục John Trần Công Nghị, "Lịch sử Giáo phận Phát Diệm", 2004
  3. ^ Chỉ dụ ngày 1 tháng 12 năm 1857
  4. ^ Chỉ dụ ngày 8 tháng 12 năm 1857.
  5. ^ Theo như tài liệu "Dạo chơi Phát Diệm" có viết rằng: "Theo như người ta nói thì trước kia nhà xứ Phát Diệm ở xã Trung Đồng, huyện Yên Mô, nằm giáp đê Cự Lĩnh; năm 1862 cha Trần Lục về làm chính xứ đã di chuyển nhà xứ xuống giữa làng Phát Diệm". Dẫn theo Linh mục John Trần Công Nghị, "Lịch sử Giáo phận Phát Diệm".
  6. ^ Bấy giờ là Đại diện Tông tòa Bắc Đàng Trong
  7. ^ Đào Trinh Nhất (31/1/1957). “3 - Ra làm quan”. Phan Đình Phùng, nhà lãnh đạo 10 năm kháng chiến 1886-1895 ở Nghệ Tĩnh. Nam phần Việt Nam: Tân Việt. tr. 19–20. Bởi vậy, khi làm Tri phủ Yên Khánh ở Ninh Bình, thấy một ông cố đạo bản xứ hay ỷ thế tôn giáo, hà hiếp lương dân, cụ Phan không kiêng nể ngần ngại gì, cứ việc hô lính đè cổ giáo sĩ đó xuống hỏi tội và đánh thẳng tay. Giáo sĩ bị trận đòn ấy là cụ Trần Lục, tục gọi là cụ Sáu, mấy năm sau nhờ thế lực Pháp mà được triều đình phong làm Tuyên phủ sứ có oai quyền lừng lẫy một lúc ở vùng Phát Diệm Ninh Bình, ai cũng phải sợ. Người ta nói ông có cái đức giết người như rạ, không kém gì Tôn Thất Thuyết. Cụ Phan đánh một ông cố đạo, là đánh kẻ có tội hà hiếp người, chớ không phải bày tỏ thâm ý ghét đạo Thiên Chúa.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  8. ^ Có ý kiến khác cho rằng người ra vế đối đầu là một vị linh mục, ông ta viết câu đối xong thì cho treo lên tại nhà thờ. Người viết vế đáp lại là một cụ đồ ở địa phương. Sau khi thấy cụ đồ viết vế đáp lại như vậy, vị linh mục đã cho gỡ câu đối xuống, không treo nữa.
  9. ^ Mối Ác Cảm Của Nhân dân Thế giới Đối Với Giáo hội La Mã, Chương 14
  10. ^ NĂM VỊ TAM NGUYÊN TRONG LỊCH SỬ KHOA CỬ LỊCH TRIỀU VIỆT NAM

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]