Phương ngữ Khariboli

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Tiếng Khariboli

खड़ी बोली
کھڑی بولی
Kauravi (कौरवी)
Phát âmkʰəɽiː boːliː
Sử dụng tạiẤn Độ
Khu vựcDelhi, Haryana, Tây Uttar Pradesh, Rajasthan, Uttarakhand.
Tổng số người nói240 triệu
Phân loạiẤn-Âu
Dạng chuẩn
Hệ chữ viếtDevanagarichữ Urdu
GlottologKhông có
Linguasphere59-AAF-qd
Hindustani map.png
Khu vực màu đỏ là nơi tiếng Khariboli/Kauravi là ngôn ngữ bản địa

Tiếng Khariboli[1] (còn được gọi là Dehlavi hoặc phương ngữ Delhi) là phương ngữ uy tín của tiếng Hindustan, trong đó tiếng Hindi chuẩn và tiếng Urdu chuẩn là các ngôn ngữ tiêu chuẩn và phong cách văn học, là ngôn ngữ chính thức tại Ấn Độ và Pakistan.[2] Tuy nhiên, thuật ngữ "Khariboli" được sử dụng cho bất kỳ phương ngữ văn học nào, bao gồm Braj Bhasatiếng Awadh. Là cơ sở cho ngôn ngữ Hindusan trung cổ, tiếng Khariboli là một phần của phân nhóm miền Tây của nhóm ngôn ngữ Ấn-Arya Trung tâm (nhóm ngôn ngữ Hindi), ngữ chi Ấn-Arya. Nó được nói chủ yếu ở khu vực nông thôn Ấn Độ ở xung quanh Delhi, Tây Uttar Pradesh và miền nam Uttarakhand.[3]

Trong văn liệu hàn lâm, thuật ngữ Kauravi (कौरवी) đôi khi được áp dụng cho phương ngữ Khari được nói ở mạn tây của khu vực nói tiếng Khariboli. Học giả Dhirendra Verma cũng sử dụng tên gọi Sirhindi.

Tiếng Khariboli được cho là lúc đầu đã phát triển đồng thời với các phương ngữ Awadh, BhojpurBraj lân cận trong giai đoạn 900-1200 TCN.

Phân bố địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Khariboli được nói ở vùng nông thôn khu vực Delhi và tây bắc Uttar Pradesh, cũng như ở một số khu vực lân cận của HaryanaUttarakhand. Địa lý của phần này của Bắc Ấn Độ được mô tả theo truyền thống là các doab.

Haryana, các huyện sau đây nói tiếng Khari:

Rajasthan, nó được nói ở các vùng đông bắc bao gồm:

Uttar Pradesh, các huyện sau của doab Yamuna - Ganges nói tiếng Khari:

Trong khu vực xuyên sông Hằng, nó được sử dụng ở các huyện sau của vùng Rohilkhand ở Uttar Pradesh:

Uttarakhand, các huyện sau của doab Yamuna - Ganges nói một phần là tiếng Khari:

Trong khu vực xuyên sông Hằng, nó được nói một phần tại các huyện sau của Uttarakhand:

Tiếng Khariboli trong văn hóa đại chúng Hindustan[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Khariboli thường được xem là mộc mạc bởi những người nói tiếng Hindustan chuẩn và các yếu tố của nó đã được sử dụng trong Hum Log, vở kịch truyền hình đầu tiên của Ấn Độ, trong đó gia đình chính được miêu tả là có nguồn gốc ở Tây Uttar Pradesh.[4][5]

Các phương ngữ Hindustan khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Khariboli có bao gồm bốn ngữ vực của tiếng Hindustan: Hindi chuẩn, Urdu chuẩn, DakhineRekhta. Tiếng Hindi chuẩn (cũng là tiếng Hindi cao, tiếng Hindi Nagari) được sử dụng làm lingua franca tại miền Bắc Ấn Độ (vành đai tiếng Hindi), tiếng Urdu chuẩn là lingua franca tại Pakistan, tiếng Dakhine là phương ngữ văn học lịch sử của vùng Deccantiếng Rekhta là "phương ngữ hỗn hợp" được sử dụng trong thơ ca thời trung cổ.[6] Những ngữ vực này cùng với tiếng Sansiboli tạo thành nhóm phương ngữ Hindustan. Nhóm này cùng với tiếng Haryana, Braj Bhasha, tiếng Kanaujitiếng Bundeli tạo thành nhóm phương ngữ Hindi Tây.

Ảnh hưởng sớm[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực xung quanh Delhi từ lâu đã là trung tâm quyền lực ở miền bắc Ấn Độ, và một cách tự nhiên, phương ngữ Khari Boli được coi là nhã nhặn và có tiêu chuẩn cao hơn các phương ngữ tiếng Hindi khác. Quan điểm này dần dần có chỗ đứng trong thế kỷ 19; trước thời kỳ đó, các phương ngữ khác như Awadh, Braj BhashaSadhukaddi là những phương ngữ được ưa thích bởi các nhà văn. Tiếng Hindustan chuẩn lần đầu tiên được phát triển với sự di cư của những người nói tiếng Khari Boli Ba Tư từ Delhi đến vùng Awadh, đặc biệt là Amir Khusro, pha trộn 'sự thô bạo' của tiếng Khari Boli với 'sự mềm mại' của tiếng Awadh để tạo thành một ngôn ngữ mới mà họ gọi là "Hindavi." Nó cũng được gọi là Hindustan, sau đó chuyển hướng sang tiếng Hindi và tiếng Urdu.

Cơ sở cho tiếng Hindustan chuẩn[sửa | sửa mã nguồn]

Những ví dụ sớm nhất về tiếng Khariboli có thể được tìm thấy trong các tác phẩm của Amir Khusro (1253-1325).[7]

Trước sự nổi lên của tiếng Khariboli, các phương ngữ văn học của tiếng Hindi là những ngôn ngữ được các vị thánh Bhakti chấp nhận: Braj Bhasha (tín đồ của thần Krishna), tiếng Awadh (được các tín đồ Rama tiếp nhận) và tiếng Maithil (tín đồ Vaishnavism ở Bihar).[7] Tuy nhiên, sau khi phong trào Bhakti suy thoái thành các giáo phái nghi lễ, những ngôn ngữ này được coi là nhà quê và không được cải tiến.[8] Tiếng Khariboli, mặt khác, được nói ở khu vực đô thị xung quanh các hội đồng Mughal, nơi tiếng Ba Tư là ngôn ngữ chính thức. Do đó, tiếng Khariboli chịu ảnh hưởng từ tiếng Ba Tư dần dần được coi là một phương ngữ uy tín, mặc dù hầu như không có tác phẩm văn học nào được viết bằng tiếng Khariboli trước thời kỳ thuộc Anh ở Ấn Độ.

Tiếng Urdu, phiên bản tiếng Ba Tư hoá nặng nề của tiếng Khariboli, đã thay thế tiếng Ba Tư thành ngôn ngữ văn học ở Bắc Ấn vào đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, sự liên kết của tiếng Urdu với người Hồi giáo đã thúc đẩy người Ấn Độ giáo phát triển phiên bản tiếng Phạn của riêng họ, dẫn đến sự hình thành của tiếng Hindi chuẩn hiện đại.[9] Sau khi Ấn Độ độc lập vào năm 1947, phương ngữ dựa trên tiếng Khariboli đã chính thức được công nhận là phiên bản được phê duyệt của ngôn ngữ Hindi, được tuyên bố là một trong những ngôn ngữ chính thức cho chức năng của chính quyền trung ương.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Devanagari: खड़ी बोली, کھڑی بولی khaṛī bolī; lit. 'standing dialect'
  2. ^ Colin P. Masica (ngày 9 tháng 9 năm 1993). The Indo-Aryan Languages. Cambridge University Press. tr. 28. ISBN 978-0-521-29944-2. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2012. 
  3. ^ , ISBN 978-90-272-3812-2  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  4. ^ Entertainment-education: a communication strategy for social change, ISBN 978-0-8058-3350-8, ... Joshi creatively combined Khadi Boli, a much used, rustic, yet popular derivative of the Hindi language in North India, with conventional Hindi... 
  5. ^ Dhodia identity: anthropological approach, ... The written script and spoken language of the urban folk differ from the rural dialect or khadi boli. This is unrefined and crude tongue of the rustic folks of the village... 
  6. ^ http://www.columbia.edu/itc/mealac/pritchett/00urduhindilinks/workshop2012/bangha_rekhta.pdf
  7. ^ a ă Kloss, Heinz; McConnell, Grant D. biên tập (1978). Les Langues écrites Du Monde: Relevé Du Degré Et Des Modes D'utilisation (The Written Languages of the World: A Survey of the Degree and Modes of Use). Presses Université Laval. tr. 198–199. ISBN 978-2-7637-7186-1. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2012. 
  8. ^ Sheldon I. Pollock (ngày 19 tháng 5 năm 2003). Literary Cultures in History: Reconstructions from South Asia. University of California Press. tr. 984. ISBN 978-0-520-22821-4. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2012. 
  9. ^ John Joseph Gumperz (1971). Language in Social Groups. Stanford University Press. tr. 53. ISBN 978-0-8047-0798-5. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2012.