Phương ngữ Nam Bộ (tiếng Việt)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Phương ngữ Nam Bộ là một trong các nhóm phương ngữ của tiếng Việt. Phương ngữ này được cư dân người Việt sử dụng tại khu vực Nam Bộ, Việt Nam. Phương ngữ này có cách phát âm, từ vựng, cách sử dụng từ ngữ khác biệt khá lớn so với tiếng Việt ở các khu vực khác của Việt Nam.

Kể từ khi chúa Nguyễn Hoàng vượt Hoành Sơn vào Đàng Trong bắt đầu một thời kỳ Nam tiến mở mang bờ cõi, cư dân Việt từ miền Bắcmiền Trung Việt Nam bắt đầu di cư vào. Do điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và văn hóa (tiếp xúc với cư dân bản địa), tiếng Việt ở khu vực này dần thay đổi. Cách phát âm thay đổi nhiều: "hoạch" thành "goạch", âm "v" thành âm "d", "au" thành ao, "an" thành "ang". Nhiều từ đã bị đọc chệch đi do húy kỵ các vua chúa nhà Nguyễn: "hoàng" thành "huỳnh", "cảnh" thành "kiểng", "kính" thành "kiếng", "hoa" thành "huê". Một số lượng từ vựng tiếng Khmer được vay mượn như: xoài, bò hóc, ghe, ghe ngo, vỏ lãi. Có nhiều từ tiếng Hoa của cư dân Quảng Châu, Phúc Kiến được vay mượn âm như: tẩy (ly đá), chạp pô, xì dầu, xì quách, bò bía, chế, hia, lì xì,...

Một số nguyên âm và từ ngữ được đọc theo phương ngữ Nam Bộ[sửa | sửa mã nguồn]

- Âm on sẽ đọc là oong (ví dụ từ còn mãi sẽ đọc là coòng mãi, riêng chữ mãi giọng Nam Bộ sẽ đọc nghe như nửa dấu hỏi khi luyến lên sẽ thành dấu sắc).

- Âm in sẽ đọc là ưn (ví dụ: chín sẽ đọc là chứn)

- Âm inh sẽ đọc là ưn (ví dụ: xinh sẽ đọc là xưn)

- Âm anh sẽ đọc là ăn (ví dụ: chanh sẽ đọc là chăn

- Phụ âm d sẽ đọc là y (ví dụ: con dê đọc là coong yê)

- Âm ăn sẽ đọc là ăng (ví dụ: đang ăn sẽ đọc là đang ăng)

- Phụ âm ch sẽ đọc ngọng như nửa chờ nửa yờ

- Âm it thành âm ưt (ví dụ: ít khi thành ứt khi)

- Âm ich cũng đọc thành âm ưt (ví dụ: chim chích thành chim chứt)

- Âm oai thành âm oi (ví dụ trái xoài đọc là trái xòi); đây là âm theo phương ngữ Tây Nam Bộ.

- Phụ âm v thành y (chỉ có ở phương ngữ Tây Nam Bộ, người Sài Gòn thỉnh thoảng cũng đọc lẫn lộn giữa vd thành y. Ví dụ: về thành yề hay yìa

- Phụ âm quờ, qua đọc là thành guờgoa (ví dụ: quả bóng đọc là gỏa bóng, quai bị thì đọc là goai bị). Chỉ có phương ngữ Tây Nam Bộ mới đọc ngọng như vậy.

- Chữ quê sẽ đọc là chữ guê

- Chữ quên sẽ đọc là quơn (giọng Đông Nam Bộ) và guơn (giọng Tây Nam Bộ).

- Âm iêt thành iíc (ví dụ: tiết học sẽ đọc thành tiíc học).

- Âm iêng đọc là iing (ví dụ: cồng chiêng sẽ đọc là cồng chiing)

- Âm iêu sẽ đọc là ưu (người ngoài Bắc sẽ nói con hươu thành con hiêu, nhưng phương ngữ Nam Bộ sẽ đọc ngọng lại thành coong hưu)

- Âm ươu sẽ đọc ngọng là ưu ( ví dụ: nướu răng thì ngoài Bắc sẽ đọc là niếu răng còn Nam Bộ sẽ đọc ngọng là nứu răng)

- Âm iêu sẽ đọc là iu (ví dụ: chiều tà sẽ đọc là chìu tà)

- Âm ươi sẽ đọc ngọng là ưi (ví dụ: dưới kia sẽ đọc ngọng là yứi kia)

- Âm ưt sẽ đọc là ưc (ví dụ: sứt vỡ sẽ đọc ngọng là xức vỡ hay xức yỡ)

- Âm uych sẽ đọc là uứt (ví dụ: huých tay sẽ đọc là huứt tay)

- Âm ay sẽ đọc ngọng là ai (ví dụ: ban ngày đọc là ban ngài, chỉ có trường hợp như vùng Tây Nam Bộ mới nói vậy).

- Âm ươn sẽ đọc ngọng thành ưưng (ví dụ: lươn lẹo sẽ đọc ngọng là lưưng lẹo)

- Âm ương cũng sẽ đọc là ưưng (ví dụ: đường đi sẽ đọc ngọng là đưừng đi).

- Âm uôi sẽ đọc ngọng là ui (ví dụ: chuối tây sẽ đọc là chúi tây)

- Âm uêch sẽ đọc ngọng là âm uât (ví dụ: nguệch ngoạc sẽ đọc ngọng là nguật ngoạc)

- Âm uênh sẽ đọc là uân (ví dụ: huênh hoang sẽ đọc ngọng là huân hoang).

- Âm uyên sẽ đọc ngọng là uyng (ví dụ: xuyên thấu sẽ đọc ngọng là xuyng thấu)

- Âm uôt sẽ đọc là nửa ut nửa uốcuuc (ví dụ: tuốt lúa sẽ đọc ngọng là tuúc lúa).

- Âm ươc sẽ đọc ngọng như nửa ưc nửa ươt

- Âm êt sẽ đọc ngọng là ớt (ví dụ: chết rồi thành chớt rồi).

- Âm ât thành âc (ví dụ: lật đổ thành lậc đổ)

- Âm ân thành âng (ví dụ: chân trời thành châng trời)

- Âm uât thành uấc (ví dụ: quật ngã đọc ngọng là quậc ngả)

- Âm uyêt thành âm uyc (ví dụ: tuyết trắng đọc ngọng là tuýc trắng).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]