Phương trình trạng thái khí lý tưởng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Phương trình trạng thái khí lý tưởng là một phương trình thể hiện mối liên hệ giữa các đại lượng áp suất, thể tích, và nhiệt độ của một khối khí lý tưởng nằm trong cân bằng nhiệt động lực học. Nó cũng được sử dụng như là một cách đơn giản để ước lượng hành vi của khối khí trong các điều kiện khác nhau, mặc dù vẫn còn một số hạn chế. Người đầu tiên viết ra phương trình này là Émile Clapeyron vào năm 1834 như một sự kết hợp kinh nghiệm của định luật Boyle, định luật Charlesđịnh luật Avogadro.[1]Phương trình này có dạng:

với

áp suất khối khí
thể tích khối khí
là số mol của khối khí
hằng số khí
nhiệt độ khối khí

Trong hệ đo lường quốc tế, p đo bằng pascal, V đo bằng mét khối, T đo bằng kelvinn đo bằng mol thì hằng số R là:

8.314472 [m3·Pa·mol-1·K-1]

Trong hệ đo lường khác, giá trị của R cũng hay được dùng là ≈ 0.0821 [L·atm·mol−1·K−1]

Phương trình này chỉ là gần đúng cho các khí thực. Nó sẽ chính xác hơn nếu khí thực nằm trong trạng thái gần với khí lý tưởng, như cho các khí đơn nguyên tử, ở nhiệt độ cao và áp suất thấp. Phương trình này bỏ qua kích thước của các hạt trong chất khí so với toàn bộ thể tích của khí, cũng như bỏ qua tương tác giữa các hạt, ngoài tương tác va chạm đàn hồi tại khoảng cách vô cùng nhỏ giữa chúng. Với khí thực các phương trình trạng thái khác như phương trình Van der Waals có tính đến các hiệu ứng kể trên và chính xác hơn.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Clapeyron, E (1834). “Mémoire sur la puissance motrice de la chaleur”. Journal de l'École Polytechnique (bằng tiếng Pháp) XIV: 153–90.  Facsimile at the Bibliothèque nationale de France (pp. 153–90).