Phục bích tại châu Âu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Phục bích (chữ Hán: 復辟), còn được phiên âm là phục tích hay phục tịch, nghĩa đen là "khôi phục ngôi vua" là trường hợp một quân chủ đã từ nhiệm hoặc đã bị phế truất hay từng bị lật đổ bởi các cuộc cách mạngđảo chính trong nước, thậm chí phải lưu vong do nạn ngoại xâm nhưng sau đó khôi phục lại được ngôi vị của mình.

Dưới đây là bản danh sách liệt kê tất cả những cuộc phục bích trong lịch sử nhân loại trên phạm vi toàn châu Âu tự cổ chí kim, ngoài những vị vua chính thống được công nhận ở đây có bổ sung thêm những nhân vật có quyền lực tương đương quân chủ bao gồm: các vị vua tự xưng tồn tại ngắn ngủi, những vị quyền thần thế tập (Lãnh chúa, Mạc phủ), những vị đứng đầu một chính thể độc lập kiểu như Tiết độ sứ hay Thống đốc và quân phiệt cát cứ thời loạn hoặc những vị nhiếp chính cùng hoàng tử giám quốc.

Hy Lạp - Bắc Macedonia[sửa | sửa mã nguồn]

Thành bang Sparta[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc vương Sparta Oebalus qua đời, Tydareus được thừa kế ngôi vị cai quản Sparta, nhưng ông bị anh trai là Hippocoon với sự giúp đỡ của các con trai của ông ta dùng vũ lực chiếm lấy ngai vàng.[1] Buồn bực, Tydareus đi đến Etoli, cầu xin vua Etoli là Herials mang quân để mình trả thù. Vua Etoli gả con gái là nàng Leda xinh đẹp cho Tydareus, tiếp đó đưa Tydareus trở về Sparta, giết Hippocoon để trở lại làm vua và Leda được phong làm hoàng hậu.[2]

Thành bang PylosThành bang Athena[sửa | sửa mã nguồn]

Theo huyền sử Hy Lạp, không rõ năm bao nhiêu, quân chủ Melanthus bị đánh đuổi khỏi thành bang Pylos, đất nước ông đang thống trị.[3] Melanthus đã kế vị vua cha Andropompo trên ngai vàng ở Messenia, nhưng ông đã bị con cháu của Heracles trục xuất, người được gọi là Heraclidae, người đã xâm chiếm Messenia và thủ đô Pilo và theo lời khuyên của nhà tiên tri, ông sang định cư ở Attica, được công nhận là công dân ở đây và tham gia làm việc trong cơ quan hành pháp.[4] Năm 1126 TCN, triều đại Attica, một hậu duệ của Theseus là quốc vương Timetes thành bang Athena xảy ra chiến tranh với người Boeotian, họ tranh chấp thành phố Oeno. Khi cuộc chiến hao người tốn của dường như đang vô vọng, họ đã quyết định giải quyết tranh chấp bằng một cuộc chiến đơn lẻ giữa các vị vua của hai nước.[5] Nhà vua Athena Timetes từ chối vì tuổi tác cùng tình trạng sức khỏe, khó có thể đấu lại Xanthos, vua của Thebes. Ông đã tuyên bố rằng sẵn sàng từ bỏ quân vị để ủng hộ bất cứ ai có thể đánh bại vua của Thebes trong cuộc chiến đơn đả độc đấu, Melanthus chấp nhận, và cuộc quyết chiến đã diễn ra. Khi Melanthus chuẩn bị đi, Xanthos xuất hiện đằng sau hình dáng của một chiến binh được trang bị aegis đen. Đó là Dionysos Melanaegis, nhưng Melanthus đã nhầm ông ta với một chiến binh.[6] Sau đó, ông chỉ trích Xanthos vì vi phạm các điều kiện của cuộc đấu tay đôi và nhờ đến sự giúp đỡ từ bên ngoài. Ngạc nhiên, Xanthos quay lại để xem ai đang đến giải cứu, và Melanthus đã lợi dụng điều đó để đâm anh ta bằng một ngọn giáo, do đó đã đảm bảo chiến thắng cho người Athena, ông nghiễm nhiên trở thành vua của họ.[7]

Vương quốc Macedonia[sửa | sửa mã nguồn]

Amyntas III

Năm 393 TCN, Amyntas III lên ngôi sau mười năm đất nước hỗn loạn bắt đầu từ cái chết của Archelaus I, người bảo trợ nghệ thuật và văn chương.[8] Tuy nhiên, ông vốn có nhiều kẻ thù, do vậy ngay trong năm đó ông bị lật đổ bởi người Illyria.[9] Năm 392 TCN, với sự trợ giúp của người Thessalia, Amyntas III đã giành lại vương quốc của mình.[10] Medius, người đứng đầu dòng họ Aleuadae của Larissa, được cho là đã cung cấp viện trợ cho Amyntas trong việc khôi phục ngai vàng.[11]

Pyrros

Năm 288 TCN, Pyrros và Lysimachos lần lượt xâm lược Macedonia và đánh đuổi Demetrios khỏi đất nước, Lysimachos để Pyrros sở hữu Macedonia trong vòng 7 tháng với danh hiệu của một vị vua trước khi ông xâm lược.[12] Vì không tin chắc vào sự trung thành của người Macedonia nên Pyrros đồng ý, Pyrros bèn ký hòa ước với Demetrios, rồi sau đó Demetrios tiến đánh lãnh thổ của Lysimachos ở Tiểu Á.[13] Nhưng khi Demetrios dẫn quân đi, Pyrros liền kích động thần dân người Thessaly của Demetrios nổi loạn, Pyrros cũng vây đánh một số thành phố của Demetrios.[14] Nhưng sau khi Demetrios thua trận ở Syria, Lysimachos bất ngờ tấn công Pyrros, chiếm được nhiều lương thảo và gây tổn thất nặng nề cho quân đội của Pyrros.[15] Sau đó bằng cách hối lộ, tung tin đồn và khơi dậy lòng tự tôn của người Macedonia, Lysimachos thuyết phục được dân Macedonia quay sang chống lại Pyrros.[16] Thấy tình thế không thuận lợi, vào năm 285 TCN, ông lui quân về Ipiros, để cho Lysimachos làm vua Macedonia.[17] Năm 274 TCN, Pyrros tức giận vua Macedonia Antigonos II Gonatas vì không chi viện trong cuộc chiến chống La Mã nên phát động cuộc tấn công quy mô lớn sang nước này.[18] Pyrros đánh bại hoàn toàn quân Macedonia, không còn lựa chọn nào khác, Antigonos II Gonatas cùng tàn quân trốn khỏi Macedonia và an trí ở Thessalonike.[19] Pyrros xưng vương cai trị phần lớn Macedonia và Thessaly trở thành vua Macedonia lần thứ hai, trong khi Antigonos II Gonatas chỉ còn giữ hai thành phố ven biển và một hạm đội.[20]

Antigonos II Gonatas

Năm 277 TCN, người Gaule đánh bại Antigonos II Gonatas, ông chỉ huy tàn quân khởi hành tới Hellespont, vùng đất gần Lysimachia, nơi nối với Thrace Chersonese, như vậy ngôi vua xứ Macedonia bị bỏ trống.[21] Năm 274 TCN, sau khi kết thúc cuộc chiến tranh với người La Mã, Pyrros của Ipiros cử binh đuổi theo phần còn lại lực lượng quân đội của Antigonos II Gonatas.[22] Antigonos II Gonatas đã trốn thoát bằng cách che giấu danh tính của mình, Pyrrhus bây giờ nắm quyền kiểm soát thượng Macedonia và Thessaly trong khi Antigonos II Gonatas chiếm giữ các thị trấn ven biển.[23] Năm 272 TCN, Pyrros và Antigonos đều đưa quân đến Argos, trong cuộc giao tranh quyết liệt đó Pyrros đã tử trận.[24] Toàn bộ quân đội của Pyrros bị Antigonos II bắt giữ và tiếp đãi nồng hậu, Antigonos II trở thành vua toàn cõi Macedonia lần thứ hai trong lịch sử.[25]

Vương quốc Ipiros[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 316 TCN, khi Olympias xứ Macedonia gặp phải sự chống phá kịch liệt từ tướng Kassandros, Aeacides quyết định đem quân đến giúp Olympias.[26] Do bất mãn với quyết định này, người dân Ipiros đã nổi dậy chống lại Aeacides và trục xuất ông khỏi vương quốc.[27] Nhưng sau khi quá mệt mỏi với những luật lệ hà khắc của xứ Macedonia, người Ipiros lại tôn Aeacides làm thủ lĩnh trong năm 313 TCN.[28] Kassandros biết tin ngay lập tức cử em mình là Philippos đem quân tấn công Ipiros, Philippos đã đánh bại quân của Aeacides trong cả hai trận đánh cùng năm đó và trong trận thứ hai Aeacides đã thiệt mạng.[29]

cái chết của Pyrros

Năm 302 TCN, trong lúc Pyrros đi dự một đám cưới ở bộ lạc Taulanti, dân Molossia phế truất Pyrros và Neoptolemos II lên thay, cuộc nổi dậy này có sự chống lưng của thủ lĩnh Macedonia Kassandros.[30] Pyrros thất thế đầu hàng rồi trở thành thuộc tướng của Demetrios, sau cuộc chiến tranh Diodochi lần thứ tư, Demetrios ký hòa ước với vua Ai Cập Ptolemaios, khiến Pyrros phải làm con tin cho Ptolemaios.[31] Năm 299 TCN, Pyrros dời đến thủ đô Alexandria của Ai Cập. Tại đây, Pyrros đã lập được nhiều mối quen biết với những người có quyền thế, đặc biệt là vương hậu. Qua những chuyến đi săn và tài năng trên chiến trường, Pyrros đã chiếm được thiện cảm của vua Ai Cập, Ptolemaios gả con gái là Antigone cho Pyrros.[32] Được Ptolemaios giúp đỡ về tài chính và quân sự, Pyrros đã tập trung đủ vốn để lập một đội quân. Năm 297 TCN, Ptolemaios tuyên bố phục ngôi cho Pyrros, và đưa Pyrros cùng đoàn quân đánh thuê về nước.[33] Về Ipiros, Pyrros bày tỏ ý định cùng trị vì với vua Ipiros bấy giờ là Neoptolemos II của mình, Neoptolemos II chấp nhận.[34] Năm 295 TCN, Pyrros thấy thời cơ đến, bèn giết Neoptolemos II trong một buổi tiệc, ông công bố với dân chúng rằng Neoptolemos làm phản nên bị chết, từ đây Pyrros trở thành vua duy nhất của Ipiros.[35]

Vương quốc của Cimmerian Bosporus[sửa | sửa mã nguồn]

Asandros

Năm 46 TCN, nhà độc tài La Mã Gaius Julius Caesar chỉ định một người chú bên nội của Dynamis (vợ Asandros cũng là người đồng cai trị với ông), Mithridates II tuyên chiến với Vương quốc Bosporos và khẳng định vương quyền cho chính ông ta, Asandros và Dynamis bị đánh bại nhanh chóng bởi Mithridates I và đã buộc phải sống lưu vong chính trị.[36] Mithridates I tuy trở thành vua của Bosporus, nhưng chỉ được khoảng hai năm thì bị buộc phải thoái vị.[37] Bởi vì sau cái chết của Julius Caesar năm 44 TCN, Vương quốc Bosporos đã được phục hồi cho Asandros và Dynamis bởi cháu trai lớn của Julius Caesar và người thừa kế Octavian (Hoàng đế La Mã Augustus trong tương lai).[38]

Vương quốc Hy Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Konstantinos I
Georgios II

Năm 1917, vua Konstantinos I thoái vị nhường cho con trai là hoàng tử Alexander. Lý do cuộc chuyển giao quyền lực này là vì trong thế chiến I, Konstantinos I và George con trai cả của ông, bị các cường quốc Entente và những người theo Eleftherios Venizelos đẩy đi lưu vong.[39] Không có kinh nghiệm chính trị thực sự, vị vua mới đã bị những người của Venizelos tước quyền lực và bị giam cầm trong cung riêng của ông ta, Eleftherios Venizelos là thủ tướng, là người cai trị hiệu quả với sự hỗ trợ của tổ chức Entente.[40] Mặc dù giảm xuống vị thế của một nhà vua rối, Alexander vẫn hỗ trợ quân đội Hy Lạp trong cuộc chiến chống lại đế chế Ottoman và Bulgaria.[41] Alexander có cuộc kết hôn gây tranh cãi với người vợ thường dân Aspasia Manos năm 1919, gây ra một vụ bê bối lớn buộc cặp vợ chồng phải rời khỏi Hy Lạp vài tháng.[42] Năm 1920, ngay sau khi trở về Hy Lạp với vợ, Alexander bị một con khỉ Barbary cắn và chết vì nhiễm khuẩn huyết, cái chết đột ngột của ông này đã dẫn đến các câu hỏi về sự sống còn của chế độ quân chủ và góp phần vào sự sụp đổ của chế độ Venizelist, cuộc tổng tuyển cử và trưng cầu dân ý được tổ chức, địa vị của Konstantinos I đã phục hồi.[43]

Năm 1923, Georgios II dời khỏi Hy Lạp sang România, ông tuyên bố thoái vị vào năm 1924 và chỉ định tổng tư lệnh hải quân Παύλος Κουντουριώτης làm nhiếp chính.[44] Ngay sau đó, nền đệ nhị cộng hòa Hy Lạp thành lập. Năm 1932, Georgios II từ România chuyển sang định cư tại Anh quốc.[45] Nhưng nền cộng hòa Hy Lạp này liên tục xảy ra đảo chính và diễn biến hòa bình kết hợp với bạo loạn lật đổ làm cho nền chính trị trong nước bất ổn, phe phục hoàng do bộ trưởng quân sự Γεώργιος Κονδύλης nên nắm quyền năm 1935 đã tổ chức trưng cầu dân ý, kết quả 97% dân chúng tán thành khôi phục chế độ quân chủ, Georgios II từ Anh quốc được rước về nước để trở lại làm vua.[46]

Đế quốc Đông La Mã[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Leońska[sửa | sửa mã nguồn]

Tarasicodissa

Năm 475, Verina quyết định lật đổ người em rể Tarasicodissa để đưa người tình là Patricius lên thay thế với sự giúp đỡ tận tình của người em trai Basiliscus, những kẻ chủ mưu đã cố ý gây ra một loạt vụ bạo loạn ở thủ đô để chống lại vị hoàng đế gốc Isauria.[47] Tarasicodissa dẫn vợ con trốn khỏi Constantinopolis trước tình thế hỗn loạn tràn lan trong kinh thành, Basiliscus phái IllusTrocundes cấp tốc truy đuổi Tarasicodissa khiến ông buộc phải cố thủ trong một pháo đài dọc đường, chẳng mấy chốc Illus đã mang quân tới bao vây phong tỏa.[48] Basiliscus vội vàng tự mình làm lễ đăng quang Hoàng đế Đông La Mã, rồi bí mật thủ tiêu người tình của Verina là Patricius nhằm loại trừ mối hiểm họa ảnh hưởng đến ngôi vị sau này.[49] Do Basiliscus tiến hành nhiều chính sách gây mất lòng dân nên Tarasicodissa đã sai người mang vàng bạc sang thuyết phục Illus đứng về phía mình, cả hai cùng tiến quân về Constantinopolis.[50] Basiliscus phái Armatus điểm binh nhằm bảo vệ kinh đô trước áp lực từ bên ngoài, vì quá ham tiền bạc nên chẳng mấy chốc Armatus đã bị mua chuộc, do vậy mà quân của Armatus đã làm lơ để mặc cho quân của Tarasicodissa tự do tiến vào Constantinopolis.[51] Năm 476, thấy binh lực hùng mạnh của Tarasicodissa, Viện Nguyên lão liền cử người lén mở cổng thành cho quân Isauria xông vào, điều đó đã giúp vị hoàng đế bị phế truất trở lại ngôi báu, Basiliscus đại bại đành quy hàng.[52]

Nhà Heraklijska[sửa | sửa mã nguồn]

Justinianos II

Năm 695, dân chúng nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Leontios, strategos của Hellas và tôn ông lên làm Hoàng đế.[53] Sự kiện này này do hoàng đế Đông La Mã Justinianos II gây bất mãn tôn giáo liên tục, xung đột với giới quý tộc và sự không hài lòng về chính sách tái định cư của ông cuối cùng đã dồn thần dân của ông vào một cuộc bạo loạn.[54] Justinianos II bị loạn quân tiến vào kinh thành phế truất và cắt đứt mũi (sau này được thay thế bằng một bản sao bằng vàng của cái mũi nguyên gốc) nhằm ngăn ngừa phục vị, ông bị triều đình mới đày đến Cherson ở Krym. Leontios sau ba năm trị vì thì lần lượt bị người tiếm vị tiếp theo là Tiberios Apsimaros hạ bệ và tống giam.[55] Trong lúc sống lưu vong, Justinianos đã bắt đầu tính mưu kế và tập hợp những người ủng hộ nỗ lực giành lại ngôi vị hoàng đế, ông có nghĩa vụ phải tới Cherson và nhà chức trách quyết định trả ông trở về Constantinopolis vào năm 703.[56] Nhân dịp đó ông trốn khỏi Cherson và nhận được sự giúp đỡ từ Ibusirus Gliabanus (Busir Glavan), khả hãn của người Khazar đón tiếp cựu hoàng một cách nhiệt tình và còn gả cô em gái của mình làm vợ nữa.[57] Justinianos tiếp cận vua Tervel của Bulgaria, Tervel đồng ý chu cấp tất cả sự hỗ trợ quân sự cần thiết cho Justiniano phục vị để đổi lấy những cân nhắc về tài chính, phần thưởng là một vương miện của Caesar và Justinianos phải gả cô con gái Anastasia cho mình.[58] Năm 705, Justinianos dẫn đầu một đội quân tiến đến trước dãy tường thành của Constantinopolis. Ông đã lén xâm nhập qua một đường ống dẫn nước chưa sử dụng dưới chân tường thành phố, khuấy động phe cánh ủng hộ của mình và chia nhau nắm quyền kiểm soát thành phố trong một cuộc đảo chính lúc nửa đêm, như vậy Justinianos đã thành công và lại lên ngôi một lần nữa.[59]

Zoë Porphyrogenita

Nhà Macedońska[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 18/04/1042, Hoàng đế Mikhael V Kalaphates đã cho đày người mẹ nuôi và đồng trị vì Zoë Porphyrogenita, để rồi trở thành vị hoàng đế duy nhất nắm trọn quyền hành trong tay.[60] Việc công bố sự kiện này vào buổi sáng đã dẫn đến một cuộc nổi loạn của dân chúng ở kinh thành Constantinopolis, cung điện bị một đám đông vây quanh kêu gọi phục hồi địa vị của Zoë Porphyrogenita ngay lập tức.[61] Lời đề nghị này được đáp ứng, và Zoë Porphyrogenita quay trở lại trong vai trò đồng trị vì với người em gái Theodora vào hai ngày sau.[62] Theodora tuyên bố hoàng đế Mikhael V Kalaphates bị phế truất, và ông ta đã chạy sang tìm kiếm nơi chốn an toàn trong tu viện Stoudios.[63] Dù Mikhael đã tuyên thệ khoác áo thầy tu rồi thế mà vẫn bị triều đình bắt giam, chọc mù mắt và xử cung hình.[64]

Nhà Angelosów[sửa | sửa mã nguồn]

Isaakios II Angelos

Năm 1195, Alexios Angelos, anh trai của Hoàng đế Isaakios II Angelos, lợi dụng quân chủ bận ra ngoài quân doanh đi săn, đã tự mình xưng đế và được binh lính công nhận với hiệu là Alexios III.[65] Isaakios II Angelos bị tân đế tập kích bất ngờ, bắt sống rồi sai người chọc mù mắt và đem giam tại Constantinopolis.[66] Sau tám năm bị giam cầm, Isaakios II Angelos được đem ra từ chốn ngục tù để lên ngôi một lần nữa sau khi các quốc gia phương Tây tiến hành một cuộc Thập tự chinh thứ tư và Alexios III Angelos cùng đám tùy tùng trốn khỏi kinh thành.[67] Những năm tháng tù đày đã làm suy nhược cả tâm trí và cơ thể của ông, và thái tử Alexios IV Angelos được đặt lên ngôi báu như một vị vua có năng lực trị quốc một năm sau đó.[68] Chẳng bao lâu, viên đại thần có thế lực trong triều là Alexios Doukas Mourtzouphlos đã lợi dụng cuộc bạo loạn tại thủ đô để bắt giam Alexios IV Angelos và tiếm vị lấy hiệu là Alexios V, do quá sốc trước sự việc như vậy, Isaakios II Angelos qua đời.[69]

Ioannes VI Kantakouzenos

Nhà Palaiologos[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1341, Hoàng đế Andronikos III Palaiologos qua đời, Ioannes VI Kantakouzenos bỗng được chỉ định làm nhiếp chính và người giám hộ của Ioannes V Palaiologos mới lên chín.[70] Nhân lúc Ioannes VI Kantakouzenos rời Constantinopolis đi thị sát xứ Morea, kẻ thù của ông đã nắm lấy cơ hội này mà tôn phò Ioannes V Palaiologos làm hoàng đế và ra lệnh giải tán quân đội trung thành với Ioannes VI Kantakouzenos.[71] Khi đó, tại DidymoteichonThracia, tin tức lan truyền đến nơi thì Ioannes VI Kantakouzenos cũng được binh sĩ ủng lập, kể từ đây đã đánh dấu sự bắt đầu của cuộc nội chiến giữa Ioannes Kantakouzenos và chế độ nhiếp chính ở Constantinopolis dẫn đầu bởi Anna xứ Savoy, Apokaukos và Thượng phụ.[72] Năm 1347, Ioannes Kantakouzenos tiến vào thủ đô, Ioannes V Palaiologos đành chịu lép vế và tuân theo điều kiện chia sẻ quyền lực của ông, như vậy cả hai cùng làm hoàng đế Đông La Mã.[73]

Ioannes V Palaiologos

Năm 1373, sultan của đế quốc OttomanMurad I buộc Ioannes V Palaiologos phải chịu sự thần phục như một chư hầu, con trai nhà vua là Andronikos IV Palaiologos liền liên minh với con trai của Murad là Savcı Bey dấy loạn chống lại cha mình nhưng thất bại nên bị nhốt trong .[74] Năm 1376, người Genova đã giúp Andronikos IV Palaiologos trốn khỏi nhà tù tới chỗ sultan Murad I và đồng ý trả lại Gallipoli để được sự ủng hộ của vua Thổ cho nỗ lực cướp ngôi của ông. Sultan cho chu cấp đầy đủ một lực lượng hỗn hợp gồm kỵ binh và bộ binh cho Andronikos để có thể nắm quyền kiểm soát Constantinopolis.[75] Sau khi chiếm được thành phố, Andronikos liền sai người bắt giam cả hai cha con Iohannes V và Manuel II. Năm 1379, hai cha con Ioannes và Manuel đã trốn đến chỗ sultan Murad và cũng nhờ sự hỗ trợ của Venezia nên họ đã lật đổ Andronikos vào cuối năm đó, người Venezia đã đưa Ioannes V Palaiologos phục vị cùng với Manuel II.[76] Andronikos bèn trốn sang Galata và ở đó cho đến năm 1381 thì một lần nữa được làm đồng hoàng đế và thừa kế ngôi vị bất chấp sự phản bội trước đây.[77] Năm 1390, Ioannes VII Palaiologos đã ra lệnh trục xuất ông nội Ioannes V Palaiologos và tự mình giữ vững ngôi vị được năm tháng, đến khi Ioannes V Palaiologos được đưa trở lại ngôi báu lần thứ ba bởi người con Manuel với sự giúp đỡ của nước Cộng hòa Venezia, Ioannes VII phải bỏ chạy sang nương náu Bayezid I của Đế quốc Ottoman.[78]

Ireland[sửa | sửa mã nguồn]

Những vị vua tối cao của Ireland[sửa | sửa mã nguồn]

Máel Sechaill mac Domnaill

Năm 1002, Máel Sechaill mac Domnaill từ bỏ danh hiệu của mình, bàn giao quyền lực cho Brian Boru, mọi việc đều có nguyên nhân mới dẫn đến đến kết quả.[79] Chả là Máel Sechaill mac Domnaill và Brian Boru thách thức nhau trong trận chiến tại đồi Tara ở tỉnh Meath, Máel Sechaill mac Domnaill hẹn với Brian Boru thời hạn kéo dài một tháng để ông có thể huy động lực lượng của mình, nhưng Máel Sechaill mac Domnaill đã không tập hợp được những người cai trị trong khu vực, những người được cho là thuộc cấp của ông vào thời điểm cuối cùng, và ông buộc phải thiện nhượng cho Brian Boru theo đúng thỏa thuận.[80] Nhờ cái chết của Brian Boru, con trai, cháu trai của ông ta và nhiều quý tộc Munster khác tại Clontarf năm 1014, Máel Sechaill mac Domnaill đã thành công trong việc giành lại vương quyền cao quý, với sự trợ giúp của người anh em họ phía bắc Flaithbertach Ua Néill (quốc vương xứ Ailech).[81]

Vương quốc Leinster[sửa | sửa mã nguồn]

Diarmait Mac Murchada

Năm 656, sự xuất hiện của Crundmáel Erbuilc đã làm gián đoạn thời gian thống trị của Fáelán mac Colmáin trong một quãng ngắn, sau đó trật tự đã lập lại rất gọn gàng khi Fáelán mac Colmáin tuyên bố phục tịch.[82]

Năm 1166, Diarmait Mac Murchada bị phế truất bởi quốc vương tối cao Ireland Ruaidrí Ua Conchobair, nguyên nhân xuất xứ từ năm 1152, khi ông bắt cóc Derbforgaill (vợ của vua Tiernan O'Rourke xứ Breifne.[83] Trong khi Tiernan O'Rourke có mối quan hệ thân mật với Ruaidrí Ua Conchobair, do đó khi quốc vương Ruaidrí Ua Conchobair vừa đăng cơ, Tiernan O'Rourke đã kêu gọi Ruaidrí Ua Conchobair trả mối hận cho mình, Diarmait Mac Murchada trốn sang Wales và từ đó đến Anh và Pháp tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía Henry II của Anh trong việc tuyển mộ binh sĩ để đòi lại vương quyền.[84] Henry II ủy quyền cho Diarmait Mac Murchada tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người lính và lính đánh thuê trong vương quốc của ông ta, những người đồng ý giúp đỡ bao gồm Richard de Clare và anh em cùng cha khác mẹ Robert FitzStephenMaurice FitzGerald, Robert FitzStephen và Maurice FitzGerald đã được hứa hẹn những vùng đất ở Wexford và những nơi khác cho các dịch vụ của họ.[85] Năm 1169, Diarmait Mac Murchada tổ chức một đội quân lính đánh thuê gồm lính Anh và xứ Wales, họ đổ bộ xuống vịnh Bannow, rồi bí mật bao vây Wexford, đột kích Vương quốc Ossory, đồng thời phát động các cuộc tấn công vào các lãnh thổ của Uí Tuathail, Uí BroinUí Conchobhair Failghe.[86] Khi Diarmait Mac Murchada về đến Leinster, với sự trung gian của Giáo hội, các chỉ huy của hai đội quân bắt đầu đàm phán tại căn cứ chính trị của Ferns, kết thúc bằng một thỏa thuận đã đạt được, theo đó Diarmait Mac Murchada được phép trở lại làm vua Leinster.[87]

Vương quốc Osraige[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 905, Diarmait mac Cerbaill bị phế truất, anh trai ông là Cellach mac Cerbaill lên cầm quyền trị nước.[88] Khi Cellach mac Cerbaill bị giết trong trận chiến Mag Ailbe chiến đấu bên cạnh vị giám mục của nhà vua lừng lẫy Cashel Cormac mac Cuilennáin năm 908, Diarmait mac Cerbaill trở lại vương quyền bởi người anh em họ, cũng là vị vua tối cao của Ireland đương thời, Flann Sinna.[89]

Vương quốc Munster[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 698, Ailill mac Cathail giành được ngai vàng từ tay Eterscel mac Máele Umai, đến năm 701 thì ngai vàng đó lại chuyển sang cho Cormac mac Ailello.[90] Năm 713, Cormac mac Ailello chết, Eterscel mac Máele Umai tận dụng thời cơ quay về chiếm lại địa vị của mình sau mười năm năm lưu vong nơi đất khách quê người.[91]

Năm 970, Mathgamain mac Cennétig hạ bệ và thay thế ngôi vị của Máel Muad mac Brain, biến động đó khiến Máel Muad mac Brain phải trốn chạy sang nương tựa đồng minh thân cận là vua Donnubán mac Cathail xứ Uí Fidgenti.[92] Năm 976, Mathgamain mac Cennétig bị Donnubán mac Cathail bắt giữ vào năm 976 trong một cuộc xung đột thường niên, Donnubán mac Cathail đã trao lại ông ta cho Máel Muad mac Brain, Máel Muad mac Brain giết chết Mathgamain mac Cennétig rồi trở lại Munster tuyên bố phục vị.[93]

Năm 1114, Muirchertach Mór mac Toirdhleabhach Ua Briain bị bệnh đến mức "trở thành một bộ xương sống", để đối phó với sự bất hạnh của nhà vua, anh trai của ông là Diarmait Ua Briain đã tiến hành chính biến nắm giữ quyền kiểm soát vương quốc và trục xuất Muirchertach Mór mac Toirdhleabhach Ua Briain.[94] Sang năm sau, Muirchertach Mór mac Toirdhleabhach Ua Briain lấy lại được sức mạnh của mình và thực hiện một chiến dịch để giành lại quyền kiểm soát Munster, ông thành công trong việc đánh bại Diarmait Ua Briain, nhưng cũng đến năm 1116 ngai vàng lại tuột khỏi tay Muirchertach Mór mac Toirdhleabhach Ua Briain lần nữa cũng bởi người anh trai Diarmait Ua Briain.[95] Phải đến năm 1118, Muirchertach Mór mac Toirdhleabhach Ua Briain mới chính thức giật được ngôi báu, nhưng chỉ một năm sau thì ông qua đời.[96]

Năm 1115, Diarmait Ua Briain chưa ngồi ấm chỗ trên cương vị quân chủ Munster thì người em trai Muirchertach Mór mac Toirdhleabhach Ua Briain đã kịp thời hồi phục, đến năm 1116 ông tuy chiếm được ngai vàng lần nữa nhưng cũng chỉ giữ được non hai năm thì lại để thất thủ nên đành phải từ bỏ.[97]

Vương quốc Ailech[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1030, Flaithbertach Ua Néill quyết định thoái vị để nhường ngôi cho con trai mình là Áed mac Flaithbertaig Ua Néill, ông thực hiện một chuyến hành hương đến Rome.[98] Năm 1031, Flaithbertach Ua Néill trở về nhà, từ đó, ông có được biệt danh của mình, Flaithbertach an Trostáin (có nghĩa là "Flaithbertach của Trostáin", đó là Flaithbertach của nhân viên Pilgrim).[99] Năm 1033, Áed mac Flaithbertaig Ua Néill lìa đời, Flaithbertach Ua Néill miễn cưỡng lên ngôi, ông trở thành vua Ailech một lần nữa cho đến khi băng hà.[100]

Năm 1142, Muirchertach MacLochlainn ou Muircheartach mac Neill Ua Lochlainn đã đánh bại các vị vua chư hầu nhỏ khác, nhưng trong chiến dịch này ông đã bị thương nặng phải cần thời gian điều trị, do đó Domnall Ua Gairmledaig lợi dụng cơ hội đã tuyên bố phế truất Muirchertach MacLochlainn ou Muircheartach mac Neill Ua Lochlainn vào năm sau.[101] Năm 1145, Muirchertach MacLochlainn ou Muircheartach mac Neill Ua Lochlainn hoàn toàn bình phục, ông tìm thấy vương quốc của mình lần thứ hai với sự hỗ trợ quân lực từ các Vương quốc AirgíallaVương quốc Tir Conaill, từ năm 1150 trở đi, ông là "Ard ri Erenn co fressabra" có nghĩa là "Vua tối cao" trong phe đối lập.[102]

Vương quốc Thomond[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1198, Muircheartach Dall Ó Briain bị chính người anh em ruột thịt của mình là Conchobhar Ruadh Ó Briain lật đổ, đến năm 1203 ông mới tiêu diệt được đối thủ để giành lại ngai vàng.[103]

Năm 1276, Brian Ruadh Ó Briain bị trục xuất khỏi pháo đài Clonroad bởi phe đối lập, ông buộc lòng phải chạy trốn khỏi Shannon cùng với con trai Donnchad và những tuỳ tùng thân cận.[104] Nguồn cơn vụ việc bắt đầu từ sự bất mãn của Sioda mac Neill Mac Conmara, người trước đây đã ủng hộ Brian Ruadh Ó Briain làm vua, nhưng đến năm 1275 do bất đồng quan điểm ông ta đã đứng lên công khai chống lại Brian Ruadh Ó Briain và đứng về phía người cháu trai Thoirdelbach mac Taigd Cael Uisce Ó Briain.[105] Brian Ruadh Ó Briain được Thomas de Clare (nhân vật có thế lực trong nước bấy giờ) giúp đỡ, sau một trận chiến ở Limerick, các lực lượng ủng hộ Brian Ruadh Ó Briain đánh chiếm Clonroad trong khi không có Toirdelbach mac Taigd Cael Uisce Ó Briain, thu thập tất cả sức mạnh của mình, Brian Ruadh Ó Briain tiếp tục dẫn dắt Quin trong County Clare ngày nay và tuyên bố phục vị vào năm 1277.[106] Nhưng Thoirdelbach mac Taigd Cael Uisce Ó Briain không để yên như vậy, ông ta đem binh về tấn công trả đũa, các đối thủ gặp lại nhau tại MoyTHERan, kết quả Brian Ruadh Ó Briain bị đánh bại sau một trận chiến dai dẳng.[107] Brian Ruadh Ó Briain và gia đình quay trở lại lâu đài Bunratty, pháo đài mới của Clare, trung tâm quyền lực Bunratty của Thomas de Clare, tại nơi đây ông bị xử tử bởi đồng minh Anglo-Norman Thomas de Clare, bởi ông này đã quyết định hòa giải với Thoirdelbach mac Taigd Cael Uisce Ó Briain vì nhận thấy Brian Ruadh Ó Briain đã hết thời.[108]

Năm 1276, nhân lúc Thoirdelbach mac Taigd Cael Uisce Ó Briain không có trong kinh thành, Brian Ruadh Ó Briain mở cuộc tập kích bất ngờ chiếm đóng nhanh chóng, tuyên bố phục tịch.[109] Nhưng Thoirdelbach mac Taigd Cael Uisce Ó Briain đã kịp thời huy động lực lượng, đem quân về giải phóng thủ đô, đánh bại Brian Ruadh Ó Briain, sau đó bắt tay làm hòa với Thomas de Clare khiến ông này sát hại Brian Ruadh Ó Briain.[110]

Năm 1343, Diarmait mac Toirdhelbaich Ó Briain lên ngôi sau cái chết của người anh trai Muircheartach mac Toirdhelbaich Ó Briain, việc kế vị này được thực hiện theo một thỏa thuận đạt được giữa họ vào năm 1336 với sự chấp thuận của gia tộc hùng mạnh McNamara (những người thực sự nắm quyền lực ở chính trường Thomond lúc bấy giờ).[111] Nhưng chỉ mấy tháng sau, gia tộc McNamara lại thay đổi ý định, họ phế truất Diarmait mac Toirdhelbaich Ó Briain để đưa Brian Bán Ó Briain của "gia tộc Briain" lên cầm quyền.[112] Năm 1350, Brian Bán Ó Briain bị ám sát bởi các con trai của Lorcan Mac Ceothach, Diarmait mac Toirdhelbaich Ó Briain được mời về kinh, nhờ vậy ông đã khôi phục lại ngai vàng của mình.[113]

Vương quốc Meath[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1130, Diarmait mac Domnaill Ua Mael Sechlainn mất ngôi, người thay thế ông khuyết danh trong sử liệu, chỉ biết rằng người này bị quốc vương tối cao Ireland là Conchobair Tairrdelbach bắt cóc để trao ngai vàng Meath cho con trai ông ta là Conchobar Ua Conchobair vào năm 1143.[114] Năm 1144, Conchobar Ua Conchobair cảm đột tử, Donnchad mac Muirchertaig Ua Mael Sechlainn lên ngôi, đến năm 1152 thì ngôi vị đó được Mael Sechlainn mac Murchada Ua Mael Sechlainn tiếp quản.[115] Từ năm 1155 đến năm 1169, quyền lực tại Meath chỉ là sự giằng qua giật lại giữa hai đối thủ: Diarmait mac Domnaill Ua Mael Sechlainn và Donnchad mac Domnaill Ua Mael Sechlainn.[116]

Năm 1155, khi Donnchad mac Domnaill Ua Mael Sechlainn mới đoạt được chính quyền từ tay Mael Sechlainn mac Murchada Ua Mael Sechlainn thì cựu vương Diarmait mac Domnaill Ua Mael Sechlainn đã trở lại đánh bật ông để phục vị.[117] Năm 1156, Donnchad mac Domnaill Ua Mael Sechlainn quay về làm vua lần thứ hai được một năm thì bị Diarmait mac Domnaill Ua Mael Sechlainn cướp mất, nhưng cũng chỉ một năm sau ông đã đòi được món nợ với đối thủ của mình.[118] Tuy nhiên, quãng thời gian một năm ông giữ ngôi trôi đi nhanh chóng, vì đầu năm 1157 Diarmait mac Domnaill Ua Mael Sechlainn tốen hành trục xuất ông lần thứ hai.[119] Năm 1158, Donnchad mac Domnaill Ua Mael Sechlainn đánh đổ Diarmait mac Domnaill Ua Mael Sechlainn lần nữa mà đoạt ngôi, rồi hai năm sau ông vẫn phải ra đi để nhường ghế cho Diarmait mac Domnaill Ua Mael Sechlainn lần thứ tư bước lên vũ đài chính trị.[120]

Vương quốc Connacht[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1288, Cathal mac Conchobair Ruadh Ua Conchobair bị người em ruột Maghnus mac Conchobair Ruadh Ua Conchobair hất cẳng khỏi chính trường, ông phải chạy trốn chui lủi bí mật tập hợp lực lượng chờ thời cơ rửa hận.[82] Năm 1293, sau cái chết của Maghnus mac Conchobair Ruadh Ua Conchobair, Cathal mac Conchobair Ruadh Ua Conchobair xâm nhập kinh đô tái lập sự thống trị, nhưng chỉ vài tháng sau ông lại bị lật đổ bởi Aedh mac Eoghan Ó Conchobair.[121]

Sau trận Athenry lần thứ hai năm 1316, Toirdelbach Ó Conchobair hạ bệ Ruaidri na bhFeadh Ó Conchobair để giành vương quyền về cho mình, nhưng chính ông lại bị Cathal mac Domhnall Ó Conchobair tước đoạt ngai vàng vào năm sau.[122] Năm 1324, Toirdelbach Ó Conchobair mới tiêu diệt được thế lực của Cathal mac Domhnall Ó Conchobair để tái chiếm ngôi báu, lần này ông trị vì cho đến hết đời.[123]

Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Æthelred the Unready
Henry VI

Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Wessex[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1013, vua Đan Mạch Svend Tveskæg đem quân tấn công nước Anh, Æthelred the Unready đại bại bỏ chạy sang khu vực Normandie của nước Pháp.[124] Người Đan Mạch thống trị nước Anh chưa được một năm thì Svend Tveskæg đột ngột băng hà, quân đội Đan Mạch buộc phải triệt thoái do làn sóng chống đối từ người bản xứ dâng cao, Æthelred the Unready nhân cơ hội này từ Pháp quốc quay về cố hương phục hưng triều đại.[125]

Nhà Lancaster[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1461, sau một loạt các trận chiến khốc liệt giữa hai nhà Lancaster và York, quốc vương Henry VI đã bị lật đổ và bị cầm tù bởi người anh em họ của mình, Edward York, người đã trở thành vua của nước Anh với tên hiệu Edward IV.[126] Vào thời điểm này Henry VI thường xuyên trở nên điên rồ và dường như ông đã cười và ca hát trong khi trận St Albans lần thứ hai nổ ra để giải cứu cho chính mình, nhưng Edward vẫn có thể chiếm ngôi vua nước Anh, Henry VI và hoàng hậu của ông chạy trốn đến Tô Cách Lan.[127] Trong thời gian đầu tiên của triều đại Edward IV, phe Lancaster vẫn tiếp tục kháng cự chủ yếu là dưới sự lãnh đạo của Hoàng hậu Marguerite và những quý tộc vẫn trung thành với bà ở các quận phía Bắc của nước Anh và xứ Wales.[128] Henry VI, người đã được che chở một cách an toàn bởi các đồng minh của nhà Lancaster ở Scotland, NorthumberlandYorkshire, nhưng cuối cùng ông vẫn bị bắt bởi vua Edward IV trong năm 1465 và sau đó bị giam giữ tại ngục Tháp London.[129] Hoàng hậu Marguerite quyết tâm giành lại ngai vàng thay mặt chồng và con trai của bà, theo sự thúc đẩy từ vua Louis XI của Pháp, họ đã thành lập một liên minh bí mật với Margaret.[130] Sau khi cho con gái của mình kết hôn với Edward xứ Westminster, con trai Henry và Margaret, Bá tước Warwick quay trở lại Anh và đánh bại phe York trong một trận chiến và phục hồi ngôi vị của Henry VI trong năm 1470 và buộc Edward IV phải sống lưu vong.[131] Tuy nhiên, vào thời gian này, thực chất Bá tước Warwick và Công tước Clarence thực sự là những nhà cai trị nước Anh nhân danh Henry VI.[132]

Nhà York[sửa | sửa mã nguồn]

Edward IV

Năm 1470, Henry VI được Bá tước Warwick và Công tước Clarence tập hợp binh lực đưa trở lại ngai vàng, Edward IV bị đánh bại chạy trốn sang nước Pháp.[133] Tuy nhiên, thời gian Henry VI trở lại ngai vàng kéo dài không đến sáu tháng, Bá tước Warwick đã sớm làm cho mình lâm vào cảnh khó khăn khi tuyên chiến với xứ Burgundy, bởi vì người đứng đầu xứ này đã giúp Edward IV những hỗ trợ cần thiết để giành lại ngai vàng của ông ta bằng vũ lực.[134] Edward IV trở về Anh vào đầu năm 1471, sau đó ông đã hòa giải với Clarence và giết chết Warwick trong trận Barnet.[135] Phe York đã giành một chiến thắng quyết định ở trận Tewkesbury ngày 04 tháng 5 năm 1471, và Edward của Westminster với danh hiệu Hoàng tử xứ Wales, con trai của Henry VI đã bị giết chết trong trận đánh này.[136] Henry VI lại bị giam giữ trong ngục Tháp London lần nữa, nơi ông qua đời không lâu sau đó, Edward IV trở thành quân chủ vương quốc Anh lần thứ hai.[137]

Scotland[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Picts[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 724, Nechtan mac Der-Ilei thoái vị để ủng hộ cháu trai mình là Drest VII rồi vào tu viện trở thành một giáo sĩ.[138] Năm 726, Drest VII sợ Nechtan mac Der-Ilei có ý phục vị nên hạ lệnh bắt giam cựu vương.[139] Cùng năm đó, Drest VII bị lật đổ bởi một kẻ giả danh vùng Alps, được một số người coi là anh em cùng cha khác mẹ của ông ta ủng hộ, người đó là Álpin de Dalriada.[140] Tuy vậy, Drest VII vẫn chiếm cứ một vùng và thường xuyên giao tranh với Álpin de Dalriada.[141] Năm 728, Nechtan mac Der-Ilei đã thoát khỏi nơi giam hãm, hô hào dân chúng chống lại cả Drest VII và Alpín de Dalriada, tuyên bố khôi phục vương quyền.[142] Năm 729, Drest VII bị đánh bại và tử chiến trong trận Druim Derg Blathug bởi Óengus I, Alpín de Dalriada cũng bị đánh bại phải lưu vong sang Dál Riata. Ban đầu Óengus I tự lập làm vua, sau khi đánh bại hai đối thủ kia thì lại thoái vị để trả ngôi cho Nechtan mac Der-Ilei.[143] Nhưng ít lâu sau hai người nảy sinh mâu thuẫn, Nechtan mac Der-Ilei đã thua Óengus I tại Monith Carno và Óengus I trở thành vua Picts lần thứ hai.

Óengus I

Năm 728, Óengus I nhân sự hỗn loạn ở Picts thừa cơ nổi dậy tự lập làm vua.[144] Ít lâu sau, Nechtan mac Der-Ilei cũng tuyên bố phục vị.[145] Như vậy tại thời điểm đó có bốn vị vua cùng tranh giành quyền lực tại Picts là: Drest VII, Álpin de Dalriada, Óengus I và Nechtan mac Der-Ilei.[146] Nhưng Óengus I nhanh chóng đứng về phía cựu vương Nechtan mac Der-Ilei, ông từ nhiệm và chiến đấu dưới ngọn cờ của vị vua này.[147] Năm 729, ông lần lượt đánh bại Drest VII và Álpin de Dalriada. Sau đó, Óengus I lại nảy sinh mâu thuẫn với Nechtan mac Der-Ilei, kết quả ông hạ bệ cựu vương để làm vua toàn cõi Picts.[148]

Vương quốc Picts và Triều đại Dál Riata[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 728, sau hai năm trị vì, Álpin de Dalriada bị Óengus I đánh bật khỏi vương quốc Picts bởi hai cuộc chiến cam go khốc liệt.[149] Ông chạy sang vương quốc Dál Riata lúc đó do anh trai ông, vua Eochaid mac Echdach cai quản, khi vị vua này mất năm 733 thì Álpin de Dalriada lên ngôi trở thành quân chủ của Dál Riata.[140]

Triều đại Dál Riata[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 726, Dúngal mac Selbaich bị trục xuất khỏi tổ quốc sau khi lên ngôi ba năm bởi người đứng đầu Eochaid mac Echdach của Cenél Gabráin, ông đã cố gắng trong vô vọng để giành lại ngai vàng của mình trong trận chiến Irros Foichnae (Ross Feochan gần Loch AweArgyll) vào năm 727.[150] Năm 733, Eochaid mac Echdach chết, Dúngal mac Selbaich tự lập làm vua Dál Riata, ông tìm đủ mọi cách để giành chiến thắng trước người anh em của ông ta, Alpin mac Echdach.[151] Hai bên đang kìm hãm nhau trong thế giằng co, thì xuất hiện thêm một lực lượng mới do Muiredach mac Ainbcellaich lãnh đạo, như vậy tình hình ở Dál Riata bấy giờ gọi là "tam phân đỉnh túc".[152]

Cináed mac Maíl Coluim
Donald III

Triều đại Alpin[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 973, Cináed mac Maíl Coluim bị lật đổ bởi Amlaib, anh trai của người tiền nhiệm Cuilén.[153] Năm 977, ông đã thành công trong việc sát hại Amlaib để giành lại ngai vàng về cho mình.[154]

Triều đại Dunkeld[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1094, cháu trai của Donald III là Donnchad mac Maíl Coluim, con trai của Malcolm và người vợ đầu tiên Ingibiorg Finnsdottir, đã dẫn đầu một đội quân của Anglo-NormansNorthumbrians -law Gospatric, kết hợp với Bá tước Northumbria.[155] Cuộc xâm lược đã thành công trong việc đưa Donnchad mac Maíl Coluim lên ngai vàng, với đế hiệu Duncan II, nhưng một cuộc nổi dậy đã đánh bại các đồng minh của Duncan II và buộc ông ta phải gửi đi quân đội nước ngoài của mình.[156] Lý do có cuộc chính biến này là Donald III đã không thể có được sự ủng hộ của một số chủ đất và các quan chức nhà thờ ở vùng đất thấp Scotland, những người có quan hệ với chế độ của người tiền nhiệm. Duncan II đã lợi dụng, đàm phán liên minh với những người ủng hộ bất mãn này của cha mình và có được sự hỗ trợ tài chính và quân sự thiết yếu cho sự nghiệp của ông ta.[157] Duncan II đã lãnh đạo một đội quân lớn, bao gồm các hiệp sĩ lính đánh thuê và bộ binh, nhiều người trong số những người lính này có lẽ đến từ Northumbria, phản ánh sự liên kết gia đình của Duncan II với Gospatrick. Donald III đã huy động những người ủng hộ và quân đội của mình để đáp trả, giai đoạn đầu của cuộc chiến mang lại chiến thắng cho Duncan II, Donald III bị buộc phải rút lui về phía cao nguyên Scotland.[158] Duncan II sau đó đã bị phục kích giết chết bởi chính hai người anh em của mình là Máel PetairMormaer of Mearns trong một trận chiến, trị vì chưa đầy bảy tháng, Donald III đã nối lại quyền lực.[159]

Ba Lan - Litva[sửa | sửa mã nguồn]

Mieszko II

Triều đại Piast[sửa | sửa mã nguồn]

Mieszko II đã buộc phải trốn thoát khỏi đất nước vào năm 1031 sau một cuộc tấn công đồng thời của Yaroslav I the Wise xứ Kiev và quân Đức, người đã đưa anh trai cùng cha khác mẹ của Mieszko II là Bezprym lên ngai vàng Ba Lan.[160] Mieszko II đã lánh nạn ở Bohemia, nơi ông bị Công tước Oldrich giam cầm. Năm 1032, ông lấy lại quyền lực ở một trong ba quận, sau đó thống nhất đất nước, tận dụng tốt các cấu trúc quyền lực còn lại, đánh bại và sát hại Bezprym.[161] Vào thời điểm này, một số vụ mua lại lãnh thổ Ba Lan của cha ông đã bị mất: Thượng Lusatia (còn được gọi là Milsko), một phần của Hạ Lusatia, Red Ruthenia, phần phía tây và trung tâm của Thượng Hungary (nay là Slovakia) và Moravia.[162]

Đại công tước xứ Kraków[sửa | sửa mã nguồn]

Mieszko III

Năm 1177, việc thực thi đầy đủ các quyền phát sinh từ cuộc biểu tình của hoàng tử đã dẫn đến cuộc nổi loạn của các ông trùm xứ Ba Lan, được hỗ trợ bởi Giám mục Krakow Gedko, Bolesław I Wysoki, Kazimierz II SprawiedliwyOdon (con trai cả của Mieszko III). Lý do cho sự nổi loạn của con trai Mieszko III là để ủng hộ con cái từ cuộc hôn nhân thứ hai và cố gắng hướng Odon đến một sự nghiệp tâm linh.[163] Cuộc nổi loạn hoàn toàn làm Mieszko III ngạc nhiên, bởi vì ngay cả vào lễ Phục sinh, không có gì báo trước cuộc khủng hoảng, đặc biệt là đám đông xuất hiện trên đường phố do hoàng tử và quý tộc tổ chức cho Gniezno. Kazimierz II lên ngôi đại công, Mieszko III bỏ chạy hô hào quần chúng ủng hộ mình, các cuộc xung đột nổ ra tại Wielkopolska kéo dài đến năm 1179.[164] Cuối cùng, thấy khả năng khó có thể tiếp tục kháng chiến, Mieszko III rút lui về Raciborz, nhưng trước sự vượt trội về quân sự của phiến quân, ông lại rời khỏi đó, buộc phải di cư chính trị. Mieszko III qua Tiệp Khắc (nơi mà con rể Sobiesław II từ chối giúp đỡ), rồi sang Đức (ở đây Mieszko trông cậy vào Hoàng đế Frederick Barbarossa, người mà ông đề nghị khôi phục ngai vàng nhưng cũng không thành công).[165] Từ Pomerania, Mieszko III đã thiết lập mối liên hệ với những người ủng hộ của mình xung quanh tổng giám mục Gniezno, Zdzisław. Năm 1184, Mieszko III đã cố gắng thu hút số phận của mình với vua Đức Henry VI, điều này mang lại cho ông một khoản tiền đáng kể.[166] Năm 1191, chính sách đối ngoại của Kazimierz II gây ra sự bất mãn của giới quý tộc Małopolska, do Henryk Kietlicz lãnh đạo. Với sự giúp đỡ của phe đối lập Małopolska, Mieszko III đã tiếp quản Cracow để xưng làm đại công lần thứ hai. Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau, Kazimierz II đã nhanh chóng lấy lại địa vị cho đến khi qua đời năm 1194.

Kazimierz II

Leszek Biały nối ngôi qua làm đại công, nhưng bởi mới 9 tuổi nên một hội đồng nhiếp chính được lập ra đứng đầu là Helena Znojemska (mẹ của Leszek Biały), bên cạnh các thống đốc như: Voivode của Kraków, Mikołaj Gryfita và giám mục của Krakow, Pełka. Năm 1198, giành quyền lực lần thứ ba nhờ một thỏa thuận được ký kết với Helena Znojemska.[167] Nhưng năm 1199, thống đốc của Kraków, Mikołaj và Giám mục Pelka tạm thời loại bỏ Mieszko III khỏi ngai vàng Kraków, nhưng trong cùng năm đó có một sự dàn xếp giữa họ, Leszek Biały lên ngôi. Mieszko III tuy vẫn giữ danh hiệu, nhưng ông phải từ bỏ một phần quyền lợi của mình. Năm 1102, Mieszko III đăng cơ trở thành hoàng tử khu vực cuối cùng có quyền lực trên toàn quốc ở Ba Lan, một thời gian ngắn sau thì ông qua đời.[168]

Năm 1191, Kazimierz II bị Mieszko III đánh đuổi khỏi Kraków.[169] Chẳng bao lâu, ông tập hợp được lực lượng đủ mạnh để khôi phục khi Mieszko III còn chưa kịp ổn định tình hình.[170]

Leszek Biały

Năm 1198, sự từ chức chính thức của Leszek Biały lần đầu tiên diễn ra, khi Mieszko III lấy lại quyền lực ở quận cao cấp nhờ một thỏa thuận được ký kết với Helena Znojemska.[171] Cái giá mà Leszek, Konrad và Helena Znojemska, người nắm quyền lực thay mặt họ, đồng ý với sự cai trị của Mieszko III, là sự công nhận của con trai lớn của Kazimierz the Righteous cho người kế vị ở Lesser Ba Lan và trao cho họ Kujawy, bị trục xuất vào năm 1194 mất sau cái chết của Leszek Bolesławowica vào năm 1186.[172] Năm 1199, Leszek Biały trở lại nắm quyền cho đến năm 1202 thì bị mất ngôi lần thứ nhì bởi Mieszko III, sau đó ít lâu nhân cơ hội Mieszko III chết, Władysław III đoạt được quyền lực cho đến năm 1206 ông giành lại địa vị lần thứ ba.[173] Năm 1210, Giáo hoàng Innocent III, theo yêu cầu của công tước Silesian Henry Bearded, đã quyết định khôi phục nguyên tắc của một cấp cao dưới sự đe dọa của lời nguyền. Sự kiêu ngạo chiếm ưu thế trên toàn quốc và Đức Tổng Giám mục Gniezno đã gọi một Thượng hội đồng ở Borhotowa, nơi nó được dự định để cố gắng khắc phục vấn đề.[174] Mieszko I Plątonogi sử dụng sự hỗ trợ của gia đình Griffin hùng mạnh, ông ta đã đi đến người đứng đầu quân đội đến Krakow, nơi Leszek Biały rơi vào tình trạng hỗn loạn quyết định phải bỏ chạy. Nhưng khi Mieszko I Plątonogi từ trần năm 1211, Leszek Biały đã lại lên ngai vàng lần thứ tư, ông cai trị đến cuối đời.[175]

Władysław III
Henry the Bearded
Konrad I

Năm 1202, Mieszko III chết, điều này giúp Władysław III Laskonogi, người đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, có thể tiếp quản các Chính phủ ở Greater Ba Lan mà không gặp vấn đề gì. Cũng tại Małopolska, nhờ sự hỗ trợ của voivode Krakow Mikołaj, Mieszkowice trẻ nhất đã giành được ngai vàng Kraków một cách suôn sẻ.[176] Con trai lớn của Kazimierz, Leszek Biały là ứng cử viên cho Cracow. Tuy nhiên, lời đề nghị đã sụp đổ, bởi vì Công tước Sandomierz dựa trên sự cai trị của ông dựa trên voivode Goworek, một kẻ thù hung dữ của nhóm tập trung xung quanh Nicholas. Władysław Laskonogi vẫn ở trên ngai vàng Krakow trong bốn năm, cho đến năm 1206, khi Leszek Biały trở về thủ đô sau cái chết của người ủng hộ hàng đầu của người cai trị Wielkopolska, voivode của Mikołaj.[177] Lý do của cuộc nổi loạn là sự thực thi cứng rắn các quyền của hoàng tử đối với quyền lực và sự chú ý của hoàng tử ở Pomerania. Năm 1227, trong đại hội của các hoàng tử trên toàn quốc được tổ chức ở biên giới KujawyWielkopolskaGasawa, Leszek Biały bị giết chết, Władysław III Laskonogi nhân cơ hội tuyên bố giành lại ngai vàng lần thứ hai, điều này có được là do ông tuân theo thỏa thuận sinh tồn được ký kết từ năm 1217 với Leszek Biały.[178] Thật không may, tình hình địa chính trị của Władysław III sớm xấu đi đáng kể, ông đã quyết định với sự đồng ý của những người cai trị Krakow (chủ yếu cho một giải pháp như vậy là OdrowążeGryfici) để trao lại quyền cai trị ở Krakow cho hoàng tử Silesia, Henry the Bearded.[179] Tuy nhiên, họ không được coi là chính phủ có chủ quyền, bởi vì Henry the Bearded chỉ bao gồm thống đốc ở Małopolska. Một sự nhượng bộ từ Laskonogi có lẽ là lời hứa thừa kế toàn bộ sự sụp đổ trong tay các hoàng tử Silesian, cũng là một sự vi phạm các điều khoản có trong Shadow, nơi hoàng tử là người kế vị của con trai của Leszek Bialystok. Năm 1228, Władysław III được thay thế bởi Henry the Bearded, ông bị lưu đày ở Raciborz cho đến năm 1230 thì trốn thoát để lên ngôi lần thứ tư.[180]

Năm 1929, Konrad I, người cai trị Mazovia chiến thắng cuộc chiến tranh với Henryk the Bearded, nghiễm nhiên trở thành người cầm quyền tại Kraków.[181] Năm 1230, Władysław III sau giai đoạn bị lưu đày ở Raciborz đã quay về phục vị. Nhưng Władysław III đột ngột qua đời, bị giết bởi một cô gái người Đức mà ông này cố gắng hãm hiếp, Konrad I lập tức tiến quân chiếm lĩnh Kraków.[182] Năm 1232, Henry the Bearded tổ chức đánh nhau to với Konrad I nhằm giành lại quyền lực, Konrad I không có ý định từ chức mà không chiến đấu, nhưng lần này chống lại sự ủng hộ phổ biến của Małopolska vì quyền lực của Henryk, nên hoàng tử Mazovian cuối cùng đã bị loại khỏi phần lớn khu vực của quận.[183]

Năm 1230, Konrad I không giữ được ngai vàng bởi sự trở về của Władysław III, nhưng cái chết bất ngờ của Władysław III khiến ông chẳng tốn nhiều công sức đã phục bích một cách chóng vánh.[184] Tuy nhiên, năm 1232 ông lại mất ngôi lần nữa bởi Henry the Bearded. Năm 1241, con trai và người thừa kế của Henry the Bearded, Henry II the Pious, đã chết trong Trận chiến Legnica.[185] Konrad I, trước tin tức về những sự kiện này, đã thực hiện nỗ lực để lần thứ ba làm chủ Cracow, kết quả ông vấp phải những cuộc phản kháng quyết liệt, chung cuộc ông thất bại vào năm 1243 nên buộc phải rút về Sieradz.[186]

Đại Công quốc Litva[sửa | sửa mã nguồn]

Władysław II Jagiełło

Năm 1381, người chú ruột của đại công Władysław II Jagiełło là Kiejstut đã kích động cuộc nổi dậy ở Połock chống lại Skirgiełło, người anh trai của Władysław II Jagiełło.[187] Lợi dung khi Władysław II Jagiełło vắng mặt, Kiejstut chiếm ngôi Đại công tước Litva, vị tân công tước mới đã ra lệnh bắt giam Władysław II Jagiełło, tử hình viên cố vấn Vaidila.[188] Để được tự do, Władysław II Jagiełło tuyên bố trung thành với chú và được phóng thích, ông đã nhận được sự đồng thuận của KrewoVitebsk, trong khi Kiejstut đang mải mê chiến đấu chống lại Hiệp sĩ Teuton.[189] Năm 1382, Kestutis bắt đầu cuộc đấu tranh chống lại Dmitry Korybut của Nowogród Siewierski, Witold đến TrakaiJogaila tiến đến Vilnius với sự giúp đỡ của đội quân khởi nghĩa do Hanul dẫn đầu.[190] Nhân dân Lithuania vốn không hài lòng với chính sách thương mại của Kestutis, nhất là thương mại với vùng Livonia nên đã ủng hộ Władysław II Jagiełło lên ngai vàng. Władysław II Jagiełło chủ động khởi sự đàm phán với Kiejstut, nhưng khi Kiejstut và con trai Witold đến trại của ông để đàm phán, tất cả đã bị bắt lại hết và bị giam ở lâu đài Krewa, quân đội bị giải tán.[191] Năm ngày sau ki bị giam giữ, Kiejstut đã được Skirgiello tìm thấy là đã chết, Władysław II Jagiełło tổ chức lễ tang cho người chú rất lớn ở Vilnius, rồi đăng cơ làm đại công lần thứ hai.[192]

Švitrigaila

Năm 1432, những kẻ âm mưu dẫn đầu bởi Sigismund Kęstuta, đã tấn công Švitrigaila lúc bấy giờ đang ở Ashmyany, ông đã trốn thoát đến Polotsk.[193] Litva được chia thành hai phe: những người ủng hộ Sigismund Kęstuta ở phía tây, còn những người ủng hộ Švitrigaila ở phía đông. Ba năm chiến sự tàn phá bắt đầu, Švitrigaila tranh thủ sự giúp đỡ từ Sayid Ahmad I, Khan của Golden Horde.[194] Cả hai bên đều chịu tổn thất nặng nề nhưng chiến thắng cuối cùng trong trận Pabaiskas đã đến với Sigismund Kęstuta năm 1435.[195] Sau thất bại, Švitrigaila lại chạy sang Polotsk, mất đi tầm ảnh hưởng của mình trong các quốc gia Slav, ông đã cố gắng hòa giải với Ba Lan vào năm 1437: ông sẽ cai trị những vùng đất vẫn còn hỗ trợ ông và sau khi ông qua đời, các lãnh thổ sẽ được chuyển cho quốc vương Ba Lan.[196] Tuy nhiên, Thượng viện Ba Lan đã không phê chuẩn hiệp ước này dưới sự phản đối mạnh mẽ từ Sigismund Kęstuta, Švitrigaila đành rút lui về Wallachia vào năm 1438.[197] Năm 1440, Sigismund Kęstuta bị ám sát bởi những quý tộc ủng hộ Švitrigaila, ông tuy trở lại ngai vàng nhưng chỉ cai trị trong vòng vài tháng, bởi ở độ tuổi ngót 80 do ông đã quá già để tiếp tục cuộc đấu tranh giành ngai vàng Litva và quan trọng hơn là không có sự hỗ trợ nào từ Hội đồng Lãnh chúa do Jonas Goštautas lãnh đạo, nên chẳng bao lâu họ đã bầu Casimir Jagiellon, anh trai của vua Ba Lan Władysław III làm Đại công tước.[198]

Công quốc Samogitia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1432, khi Sigismund Kęstuta lên làm đại công ở Litva, Mykolas Kęsgaila lập tức bị phế trừ và cầm tù. Trước đó, do ông ủng hộ Švitrigaila mà chống đối Sigismund Kęstuta nên ông này ghi hận trong lòng, nên khi nắm đại quyền mới có hành động như vậy.[199] Sigismund Kęstuta cố gắng củng cố vị trí của mình ở Litva, nới lỏng mối quan hệ với Ba Lan và đàm phán với Albert của Hungary (cũng là vua Đức) cho một liên minh chống Ba Lan, nhưng chưa kịp thực hiện thì đã bị giết bởi những người ủng hộ Vitrigaila (lãnh đạo của Alexander Czartoryski) tại lâu đài bán đảo Trakai vào năm 1440. Sau vụ giết Sigismund Kęstuta, Mykolas Kęsgaila là một trong số những người ủng hộ Casimir IV Jagiellon cho ngai vàng của Đại công tước.[200] Để được hỗ trợ như vậy, ông được phục hồi làm công tước Samogitia, nhưng người dân Samogitia không muốn công nhận quyền lực của Casimir IV Jagiellon. Như một sự thỏa hiệp, Casimir IV Jagiellon đã trao một đặc quyền khẳng định vị thế bán tự trị của khu vực và trao các quyền tự do mới cho các quý tộc, Mykolas Kęsgaila đã có thể trở lại ngôi vị.[201] Nhưng năm 1441, khi ông ủng hộ ứng cử viên của con trai Kazimierz Kazimieras trong Đại công tước Litva, những người ủng hộ Mykolas ygimanta buộc ông phải từ bỏ chức vụ của mình như một người lớn tuổi. Chỉ đến khi Kazimieras trao đặc quyền mới cho Samogitia năm 1443, Mykolas Kęsgaila một lần nữa được đề bạt làm công tước, ông cũng kiêm giữ luôn vị trí của Vilnius Cassion vào cùng thời điểm này.[202]

Liên bang Ba Lan – Litva[sửa | sửa mã nguồn]

August II

Năm 1704, do August II tham gia vào cuộc chiến tranh quá lâu với đế quốc Thụy Điển, bị thất bại nghiêm trọng.[203] Vua Thụy Điển Karl XII (cũng là người em họ của August II) nghĩ rằng August II sẽ an toàn ở ngôi vị hơn nếu cử một người lên "giữ hộ" ngai vàng của anh họ mình, và Karl XII chọn Stanisław Leszczyński lên ngôi vua Ba Lan – Litva.[204] August II thất thế chạy trốn tới xứ Sachsen, bị ép phải tham gia chiến tranh cùng Thụy Điển chống Nga, ông không chấp nhận và diễn biến cuộc nội chiến ở Ba Lan (1704-1706) cùng chiến dịch Grodno (1705-1706) đã gây bất lợi cho August II.[205] Sau trận đánh Fraustadt năm 1706, Karl XII xâm chiếm Saxon, buộc August II chính thức chuyển giao quyền lực chính trị Ba Lan cho Stanisław Leszczyński theo Hiệp ước Altranstädt.[206] Ít lâu sau, sa hoàng Nga Pyotr I cải cách quân đội và nhanh chóng đánh bại quân Thụy Điển trong trận Poltava năm 1709, sự kiện trên đánh dấu sự kết thúc của đế quốc Thụy Điển và sự nổi lên của đế quốc Nga, August II nhờ vậy trở lại ngôi vua Ba Lan - Litva.[207]

Stanisław Leszczyński

Năm 1709, sau khi đánh tan đế quốc Thụy Điển, người Nga đưa August II về phục vị, Stanisław Leszczyński phải theo gót tàn quân của tướng Krassow trong cuộc thoái lui tới Pomerania thuộc đế quốc Thụy Điển, tuy ông đã từ bỏ vương miện Ba Lan - Litva nhưng vẫn cố giữ vương hiệu.[208] Năm 1716, một nhà quý tộc người SachsenLacroix từng tiến hành ám sát cựu vương Stanisław Leszczyński nhưng ông đã được Bá tước Stanisław Poniatowski (cha của Stanisław August Poniatowski, sau này là vua Stanisław II - vị quốc vương cuối cùng của liên bang Ba Lan - Litva) cứu sống. Sau đó, Stanisław Leszczyński định cư ở Wissembourg vùng Grand Est.[209] Năm 1725, con gái ông là công chúa Maria Leszczyńska cưới quốc vương Pháp là Louis XV và được tấn phong làm Hoàng hậu nước Pháp, do đó từ 1725 tới 1733, cựu vương Stanisław Leszczyński cư ngụ ở lâu đài Chambord.[210] Người con rể đầy uy quyền của Stanislaw Leszczyński, vua Louis XV nước Pháp đã ủng hộ ông đòi kế vị ngai vàng Ba Lan - Lítva sau khi vua August II qua đời vào năm 1733, điều đã dẫn tới Chiến tranh kế vị Ba Lan.[211] Vốn từ thời vua Louis XV, Vương quốc Pháp đã trở thành một đồng minh đồng thời là người bảo hộ của Vương quốc Ba Lan, và giờ đây vua Louis XV muốn khôi phục lại những mối quan hệ xưa cũ này.[212] Stanisław Leszczyński đặt chân tới kinh thành Warsaw, sau khi đã rong ruổi qua miền Trung Âu nhiều ngày đêm cải trang thành một người đánh xe, những ngày sau đó, bất chấp nhiều phản đối, ông đã đăng quang ngôi vua của Ba Lan - Lítva lần thứ hai.[213] Trong suốt thời gian làm vua Ba Lan - Litva lần thứ hai, ngôi vị của Stanisław Leszczyński không hề yên ổn bởi đế quốc Nga đem binh sang ủng hộ August III, kết quả ông phải thoái vị một lần nữa vào năm 1736 nhưng được đền bù công quốc Lorraine và Bar, ông giữ vị trí đó cho đến hết đời.[214]

Công quốc Courland và Semigallia[sửa | sửa mã nguồn]

Ernst Johann Biron
Frederick Augustus I

Năm 1740, Ernst Johann Biron rời bỏ ngôi vị công tước xứ Courland và Semigallia để sang Nga làm nhiếp chính, ông vốn là người yêu cũ của nữ hoàng Anna.[215] Nguyên nhân là do nữ hoàng Nga Anna qua đời, người cháu trai được tuyên bố là hoàng đế Ivan VI mới có hai tháng tuổi. Bà có di chiếu mời người yêu đồng thời cũng là cố vấn lâu năm của bà, Ernst Johann von Biron sẽ phục vụ như một nhiếp chính cho đến khi Ivan đủ tuổi trưởng thành.[216] Cuối cùng, một cái gọi là Tuyên bố tích cực, có chữ ký của 194 vị chức sắc, nhân danh quốc gia Nga, đã trao vương quyền cho Ernst Johann Biron.[217] Tuy nhiên, ý tưởng về sức mạnh của Ernst Johann Biron không thể chấp nhận được đối với cha mẹ của Ivan IV hoặc với hầu hết giới quý tộc Nga. Bởi trong những năm làm người yêu của Anna, ông đã tạo ra nhiều kẻ thù và cực kỳ không được ưa chuộng tại xứ sở bạch dương này, thế nên chỉ trong vòng ba tuần, cha của Ivan IV đã lập tức tiến hành việc lật đổ Ernst Johann Biron. Vào nửa đêm ngày 8/11/1740, Ernst Johann Biron đã bị bắt giữ trong phòng ngủ của ông bởi các thành viên của cặp vợ chồng hoàng gia và bị đày đến Tây Bá Lợi Á (sau đó được phép cư trú tại Yaroslavl).[218] Suốt 22 năm, cựu công tước gần như biến mất khỏi những nơi cao xa nhất của lịch sử, nhưng ông tái xuất hiện trong một khoảnh khắc ngắn ngủi vào năm 1762, khi hoàng đế Peter III triệu tập ông hồi kinh, để rồi đến năm 1763, nữ hoàng Catherine II đưa ra quyết định tái lập Ernst Johann Biron làm công tước Courland và Semigallia.[219]

Vương quốc Sachsen[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1813, trong trận chiến tại Leipzig, quốc vương Sachsen kiêm công tước xứ Warsaw Frederick Augustus I (tên đầy đủ là Frederick Augustus Joseph Maria Anthony John Nepomuk Aactsius Xavier) bị quân đội Phổ bắt làm tù binh.[220] Ông là thành viên của Nhà Wettin, đồng minh thân cận của hoàng đế Pháp Napoléon đệ nhất, trước đây từng trị vì Sachsen từ năm 1763 đến 1806 với danh hiệu Tuyển hầu tước trước khi thụ phong quốc vương.[221] Tại Hội nghị Vienna năm 1815, Frederick Augustus I bị ép phải cắt mất ba phần năm lãnh thổ của mình cho Phổ, sau khi được thả về nước khôi phục địa vị, ông dành phần còn lại của cuộc đời để cố gắng phục hồi trạng thái bị cắt cụt của mình.[222]

Serbia dữ Montenegro - Bosna và Hercegovina - Croatia[sửa | sửa mã nguồn]

Vương triều VojislavljevićDuklja[sửa | sửa mã nguồn]

Stefan Vojislav

Năm 1034, Stefan Vojislav lợi dụng cái chết của hoàng đế Romanos III Argyros, lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống lại sự khống chế của đế quốc Đông La Mã.[223] Cuộc nổi dậy thất bại đã đưa Stefan Vojislav vào nhà tù ở Constantinople, vương quốc của ông bị đặt dưới sự kiểm soát của chiến lược gia Theophilos Erotikos.[224] Năm 1038, Stefan Vojislav thoát ra khỏi nhà tù và trở về Duklja, ngay lập tức ông tổ chức một cuộc nổi loạn mới, cũng nhắm vào các đồng minh Serb của Hoàng đế ở các khu vực lân cận.[225] Bằng các chiến thuật du kích và các tác động gây mất tập trung của các cuộc nổi dậy khác, ông đã ngăn chặn một số cuộc thám hiểm trừng phạt và khẳng định quyền kiểm soát một phần đối với các quyền của TravunijaZahumlje.[226] Do đó, năm 1040, Stefan Vojislav chính thức tuyên bố độc lập, mở màn vương triều Vojislavljević với lãnh địa trải dài ở vùng ven biển từ Ston ở phía bắc xuống tới thủ đô Skadar, được thiết lập dọc theo bờ phía nam của hồ Skadar qua các khu vực Trebinje, Kotor và Bar.[227]

Đorđe Vojislavljević

Năm 1118, Grubeša (con trai của Branislav) dưới sự bảo trợ của đế quốc Đông La Mã đã cầm đầu một đội quân hùng hậu, đánh bại Đorđe Vojislavljević để làm vua ở Duklja.[228] Đorđe Vojislavljević buộc phải rút về lâu đài của mình, Obliquus trên Taraboš. Tiếp theo, người Byzantines mở liên tiếp các cuộc chinh phục Scutari và chẳng mấy chốc thanh lý nốt phần còn lại của Duklja, Đorđe Vojislavljević trốn thoát đến Raška.[229] Năm 1125, với sự giúp đỡ của lực lượng Rascian, Đorđe Vojislavljević đã tiến hành tấn công Duklja trên quy mô lớn.[230] Trong trận chiến ở Bar, Grubeša đã bị giết và Đorđe Vojislavljević chiếm lại vương quốc của mình, ông quyết định chia quyền kiểm soát Duklja với hai anh em của GrubešaDraghinaDragila, người mà ông thiết lập quan hệ thân thiện.[231]

Năm 1148, Desa của Đại công quốc Serbia xua quân tấn công dữ dội, Radoslav I thua to buộc phải chạy trốn đến Kotor.[232] Tại Kotor, Radoslav I lãnh đạo quần chúng tổ chức cuộc chiến tranh du kích nhằm giằng co lâu dài với Desa để giành lại ngai vàng.[233] Năm 1162, sau khi Desa rút lui về Công quốc Zeta, Rasha leo lên ngôi báu của Duklja với sự giúp đỡ của Byzantines, nhưng Radoslav I đã biến ngai vàng của Duklja thành ngai vàng chính mình với việc lên ngôi lần thứ hai.[234] Tuy nhiên, ông không cai trị lâu thì chết năm 1163.[235]

Vương triều Nemanjić[sửa | sửa mã nguồn]

Stefan II

Năm 1202, Vukan Nemanjić làm cuộc đảo chính lật đổ em trai mình là Stefan II.[236] Trước đây, vua cha Stefan Nemanja thoái vị nhường ngôi, bởi thích nhìn thấy người con trai thứ hai Stefan II trên ngai vàng của người Serbia chủ yếu là vì Stefan II đã kết hôn với công chúa Byudantine Eudokia.[237] Người anh cả Vukan Nemanjić không cam tâm, đã phản ứng với sự thay đổi này liên tiếp bằng cách tuyên bố mình là "Vua của Duklja", mặc dù ông ta đảm nhận một danh hiệu hoàng gia "có chủ quyền", cai trị Zeta và các tỉnh lân cận, Vukan Nemanjić vẫn thuộc quyền của cha mình.[238] Vukan Nemanjić nhờ sự giúp đỡ từ phía Hungary bằng cách trở thành một chư hầu của nước này, và hứa sẽ chuyển sang Công giáo nếu Giáo hoàng sẽ ban cho ông ta tước hiệu Vua.[239] Tuy nhiên, với tư cách là một chư hầu Hungary, Vukan Nemanjić sớm tham gia vào cuộc xung đột với Bulgaria.[240] Năm 1203, quân đội Bulgaria tấn công Vukan Nemanjić, sáp nhập Niš. Trong sự hỗn loạn xảy ra sau đó, và sử dụng sự đồng cảm của Vukan Nemanjić đối với Công giáo chống lại ông ta, Stefan II đã quay trở lại Serbia và lật đổ Vukan Nemanjić vào năm 1204, trở thành kẻ thống trị một lần nữa.[241] Với lòng vị tha của mình, Stefan II sẵn sàng tha thứ cho Vukan Nemanjić, người đã trở thành Saint Sava, và để cho ông ta tiếp tục cai trị Zeta mà không bị trừng phạt.[242] Không rõ Stefan II đã hứa gì về tình trạng của Giáo hội Công giáo, nơi có nhiều tín đồ ở phía tây và ven biển trong vương quốc của ông, nhưng cuối cùng giáo hoàng đã đến vào năm 1217 trao vương miện cho Stefan II.[243]

Vương triều Kotromanić[sửa | sửa mã nguồn]

Tvrtko I Kotromanić

Năm 1366, Stefan Vuk III Kotromanić nổi lên với sự giúp đỡ của giới quý tộc Bosnia đã chiến thắng anh trai, vì vậy Tvrtko I Kotromanić phải rời khỏi Bosnia và lánh nạn ở vương quốc Ugrian-Croatia.[244] Nhưng vào năm 1367, với sự hỗ trợ của nhà vua Hungary, người nhận ra rằng mình đã gây ra sự khó chịu cho Tvrtko I Kotromanić và ông ta sẽ không có bất kỳ lợi nhuận nào, Tvrtko I Kotromanić trở lại Bosnia nắm quyền.[245] Năm 1377, Stefan Vuk III Kotromanić đăng quang và đã tự mình tuyên bố lên ngôi Quốc vương Bosnia và Serbia, tự xưng là người thừa kế của triều đại Nemanjić đã tuyệt tự của Serbia, địa vị của ông được duy trì đến khi ông mất vào năm 1391.[246]

Năm 1404, giới quý tộc Bosnia tiến hành chính biến, loại bỏ khỏi quyền lực của vua Stefan Ostoja Kotromanić theo khuynh hướng thân Hungary.[247] Để lập một vị vua mới, đại hội đồng đã được triệu tập và Tvrtko II Kotromanić, con trai ngoài giá thú của Vua Tvrtko I Kotromanić, đã được bầu làm quân chủ.[248] Với ý giành lại ngai vàng, Stefan Ostoja Kotromanić liên minh với nhà vua Hungary Zhigmund và nhờ ông này giúp đỡ, thế là một đội quân Hungary đã xâm nhập vào Uros và một đội quân Hungary khác đã tấn công sông Una vào năm 1405 nhưng đều thất bại.[249] Sau những thất bại trên, vua Zigmund lại mở một cuộc tấn công mới vào năm 1406, bởi vì Giáo hội Công giáo yêu cầu điều này từ ông ta, nhưng một lần nữa người Hungary lại bị đánh bật khỏi Bosnia.[250] Năm 1408, đứng đầu đội quân 60.000 chiến binh Hungary-Ba Lan, Zigmund đã phát động cuộc tấn công như vũ bão vào Bosnia, một cú đánh ngang qua Sava về phía thành phố Srebrenik.[251] Năm 1409, Tvrtko II Kotromanić thất thế bị người Hungary bắt sống, Stefan Ostoja Kotromanić trở lại làm vua lần thứ hai.[252]

Tvrtko II Kotromanić

Năm 1409, Stefan Ostoja Kotromanić nhờ sức mạnh của liên quân Hungary-Ba Lan đã giành lại ngôi báu về cho mình lần thứ hai, Tvrtko II Kotromanić bị bắt làm tù binh.[253] Tuy nhiên, sau đó không lâu, vua Zigmund quyết định phóng thích Tvrtko II Kotromanić, vì ông ta xét thấy không thể đạt mục đích gì với một vị vua đã mất ngôi.[254] Năm 1418, Stefan Ostoja Kotromanić qua đời, con trai là Stefan Ostojić Kotromanić nối tiếp quyền lực.[255] Thời kỳ Stefan Ostojić Kotromanić tại vị, sự nổi lên của đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ là một thách thức lớn, tình hình ở Bosnia rất tồi tệ, chủ yếu là do người cai trị bất tài.[256] Trong điều kiện này, Công tước xứ Duchy đã tiến hành cách mạng đưa Tvrtko II Kotromanić trở lại ngai vàng vào năm 1421, Stefan Ostojić Kotromanić phải bỏ chạy, không rõ chung cuộc thế nào.[257]

Đại công quốc Serbia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1150, trong khi phối hợp cùng quân đội Hungary tấn công Doclea, một chư hầu của Byzantines, Uroš II đã thất bại bị binh sĩ Đông La Mã bắt làm tù binh, người anh em của ông Desa được đặt lên làm quân chủ mới.[258]. Nhưng chỉ ít lâu sau, Manuel I Komnenos "Đại đế" của Byzantines lại đưa ra quyết định để Uroš II chính thức trở thành đồng cai trị cùng với Desa.[259] Nguyên nhân là Uroš II đã thỉnh cầu hoàng đế Manuel I tha thứ, để đổi lấy sự trở lại ngai vàng, ông phải hứa gửi 2.000 binh sĩ ủng hộ quân đội đế quốc cho các chiến dịch ở phía tây và 500 cho những người ở phía đông.[260] Năm 1153, một cuộc tranh cãi giữa hai anh em dẫn đến Desa và triều đình Rascian lật đổ Uroš II, Uroš II buộc phải bỏ trốn.[261] Tuy nhiên, Manuel I Komnenos "Đại đế" của Byzantine đã cử binh can thiệp và tái lập Uroš II vào năm 1155, đổi lấy việc ông phải gia hạn liên minh với Byzantium và từ bỏ mọi quan hệ với Hungary.[262]

Năm 1155, Desa bị đánh bại bởi Uroš II trở lại, việc này được thông qua nhờ sự giàn xếp của Hoàng đế Byzantine Manuel I Komnenos, trước đây ông từng nắm giữ vùng Dendra gần Niš cho đến khi ông lên ngôi năm 1150.[263] Năm 1162, Beloš với tư cách là một thành viên của triều đại Vukanović của Serbia, cũng đã cai trị một thời gian ngắn tại Đại công quốc Serbia thay thế cho Uroš II.[264] Chẳng bao lâu, Beloš tự nguyện trao ngai vàng cho em trai Desa để quay về giữ chức Ban of Slavonia lần thứ hai.[265]

Miloš Obrenović
Mihailo Obrenović

Công quốc Serbia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1839, Miloš Obrenović từ nhiệm để truyền ngôi cho con trai mình là Milan Obrenović II.[266] Nhưng Milan Obrenović II cầm quyền chỉ được 26 ngày thì tử vong bởi chứng bệnh mắc từ thời thơ ấu, anh trai Mihailo Obrenović đã kế vị ngai vàng.[267] Năm 1842, Mihailo Obrenović mất ngôi bởi Alexander Karađorđević.[268] Trong suốt triều đại của mình, Alexander Karađorđević đã gặp rắc rối với âm mưu của phe đối lập, bằng cách từ chối tham gia Chiến tranh Crimea với tư cách là đồng minh của đế chế Pháp, đế chế Anh và đế chế Ottoman chống lại đế chế Nga.[269] Kết quả là Alexander Karađorđević bị lật đổ, phải sống lưu vong vào năm 1858 bởi những người chiến thắng của quyền lực trong cuộc chiến, họ đã đưa Miloš Obrenović lên ngôi Công tước Serbia lần thứ hai.[270]

Trong triều đại đầu tiên của mình, Mihailo Obrenović cho thấy ông là một người cai trị rất thiếu kinh nghiệm, bởi ông đã không đối phó tốt với tình huống phức tạp mà Serbia đã tìm thấy vào thời điểm đó.[271] Năm 1842, triều đại của Mihailo Obrenović bị đình trệ khi ông bị lật đổ bởi một cuộc nổi loạn do Toma Vučić-Perišić lãnh đạo, cho phép triều đại Karađorđević lên ngôi vua Serbia, người thống trị là Alexander Karađorđević.[272] Sau khi lật đổ, Mihailo Obrenović đã rút khỏi Serbia, đi theo có khoảng một ngàn người đồng tình với ông trên khắp SavaDanube.[273] Số phận của Mihailo Obrenović được quyết định bởi ÁoThổ Nhĩ Kỳ, ông được chuyển đến khu đất của chị gái Savka Nikolić cư trú, sau đó ông đến Vienna cùng với cha mình.[274] Cuối cùng, Mihailo Obrenović được nhận trở lại làm công tước Serbia vào năm 1860, sau cái chết của người cha Miloš Obrenović đã giành lại ngai vàng vào năm 1858 với tư cách nối tiếp chính thống.[275]

Công quốc Poljica[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1076, Visen làm thị trưởng ở Poljica một thời gian rồi từ chức, đến năm 1078 ông lại tái nhiệm nhưng cũng chỉ trong năm đó thì thoái vị,[276] không thấy tài liệu nào nhắc đến nhân vật chính trị xen kẽ giữa hai giai đoạn tại vị của ông.

Năm 1468, Dujam Papalić giữ cương vị đại hoàng tử của công quốc Poljica trong vài tháng, năm 1482 ông trở về vị trí này nhưng cũng chỉ làm trong một năm rồi lại thôi,[277] không thấy tài liệu nào nhắc đến nhân vật chính trị xen kẽ giữa hai giai đoạn tại vị của ông.

Năm 1537, Ivan Augustinović nhường quyền cai trị công quốc Poljica cho Jure Pavić, ông trở thành đại hoàng tử lần thứ hai vào năm 1546,[278] không thấy tài liệu nào nhắc đến nhân vật chính trị xen kẽ giữa hai giai đoạn tại vị của ông.

Năm 1537, Jure Pavić tại nhiệm một thời gian ngắn, đến năm 1607 ông phục vị,[279] không thấy tài liệu nào nhắc đến nhân vật chính trị xen kẽ giữa hai giai đoạn tại vị của ông.

Năm 1628, Jure Sinovčić mất ngôi bởi sự xuất hiện của Pavo Sudgić, sau đó đến lượt Jure Pavić giành chính quyền năm 1632 trước khi Jure Sinovčić tái lập vị trí của mình năm 1655.[280]

Năm 1704, Marko Barić mất quyền kiểm soát công quốc Poljica bởi Marko Sinovčić, năm 1708 ông đòi lại được ngai vàng của mình.[281] Năm 1710, Ivan Barić lật đổ Marko Barić cướp lấy ngôi vị, nhưng năm 1712 ông đã trở về khôi phục.[282] Đến năm 1716, Marko Barić bật bãi lần thứ ba khi Ivan Sinovčić trỗi dậy phục bích, phải mãi năm 1740 ông mới lấy lại lãnh thổ để làm đại hoàng tử lần thứ tư.[283]

Năm 1706, Marko Sinovčić thua Ivan Sinovčić đành chịu mất ngôi vị, nhưng mấy tháng sau ông đã tập trung lực lượng quay trở lại đòi được ngai vàng.[284] Năm 1707, Marko Sinovčić lại bị Jure Novaković lật đổ, tuy nhiên chỉ trong năm đó ông nhanh chóng quay về làm vua lần thứ ba.[285]

Năm 1708, Ivan Sinovčić đánh bại Marko Sinovčić để lên ngôi, nhưng địa vị này chỉ giữ được trong mấy tháng thì Marko Sinovčić đã quay lại.[286] Cho đến năm 1716, Ivan Sinovčić đã hạ bệ Marko Barić, qua đó giành ngôi lần thứ hai.[287]

Năm 1707, Jure Novaković đưa lên làm đại hoàng tử lúc còn quá nhỏ sau khi các lực lượng ủng hộ ông dẹp được Marko Sinovčić, nhưng ngay sau đó rất ngắn ông đã bị đánh bại bởi chính nhân vật này.[288] Mãi đến năm 1760, Jure Novaković mới có cơ hội lấy lại ngai vàng, tuy nhiên vào năm 1768 ông và người đồng trị vì Frano Pavić đều bị Ivan Jerončić trục xuất khỏi tổ quốc.[289] Năm 1783, Đại hoàng tử Andrija Barić qua đời, Jure Novaković mới giành lại địa vị lần thứ ba, khi đó ông đã ngoài tám mươi tuổi.[290]

Năm 1712, Marko Barić chiến thắng Ivan Barić, ngai vàng lần thứ ba được khôi phục.[291] Năm 1716, Ivan Sinovčić đã đánh bại Marko Barić để lên ngôi lần thứ nhì, một năm sau Ivan Barić dẹp yên Ivan Sinovčić phục tích.[292]

Năm 1732, Ivan Novaković đánh mất ngôi báu vào tay Petar Sinovčić, đến năm 1742 ông đã trở được món nợ khi tiêu diệt được đối thủ để giành lấy ngai vàng lần thứ hai về cho mình.[293]

Năm 1768, Frano Pavić và người đồng trị vì Jure Novaković đều bị Ivan Jerončić đánh bại, đến năm 1770 ông đã giành lại ngôi báu.[294] Năm 1777, Frano Pavić lại bị Ivan Jerončić lật đổ lần thứ hai, phải mãi tới năm 1796 ông mới khôi phục được quyền lực lần thứ ba, nhưng chỉ ít lâu sau thì ông mất.[295]

Năm 1770, Ivan Jerončić bị Frano Pavić đánh thắng để phục vị, năm 1777 ông dẹp yên Frano Pavić lấy lại ngai vàng, nhưng chỉ một năm sau thì ông lại thất bại khi Andrija Barić nổi lên.[296]

Năm 1806, Ivan Čović mất ngôi đại hoàng tử bởi công quốc Poljica bị đặt dưới sự chiếm đóng của đế quốc Áo, nhưng ngay trong năm đó ông được người Pháp bảo vệ nên đã giành lại địa vị.[297] Năm 1807, Ivan Čović mất ngôi lần thứ hai, ông phải gánh chịu sự thù hận của Napoléon I can tội viện trợ cho người Nga và người Goth ở Dalmatia, đó là cái cớ để quân đội Pháp kéo sang tàn phá các ngôi làng của họ, và cuối cùng đã tước đi sự độc lập.[298]

Peter I
Aleksandar I

Vương quốc Serbia với Vương quốc của người Serb, Croatia và Slovenia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1914, đế quốc Áo-Hung tấn công Serbia, thế chiến thứ nhất bùng nổ, Petar I bởi tuổi già sức yếu trước đó đã trao quyền nhiếp chính lại cho con trai là Alexander I.[299] Dù đã 70 tuổi nhưng Peter I vẫn cầm súng trường tham gia chiến đấu trong cuộc tổng phản công của quân đội Serbia để đẩy lùi kẻ thù tại trận Kolubara, quân Áo-Hung bỏ Belgrade và rút lui về nước và quân Serbia tái chiếm lại thủ đô của mình.[300] Năm 1915, Liên minh Trung tâm mở đợt tấn công mới khí thế như chẻ tre, lần này Peter I không thể cầm cự đành cùng quân lính và dân thường Serbia di tản đến biển Adriatic.[301] Trong thời gian còn lại của Thế chiến thứ nhất, Petar I trong tình trạng sức khỏe yếu đã sống tại đảo Corfu của Hy Lạp, cũng là nơi chính phủ lưu vong Serbia làm đại bản doanh cho đến tháng 12 năm 1918.[302] Ngày 1 tháng 12 năm 1918, Petar I trở thành quân chủ vương quốc Nam Tư thứ nhất (tức Vương quốc của người Serb, Croatia và Slovenia), mặc dù vậy ông vẫn sổng tại nước ngoài cho đến tận tháng 7 năm 1919, ông mới trở lại Belgrade để trị vì.[303]

Năm 1915, quyền nhiếp chính của Aleksandar I bị gián đoạn do đế quốc Áo-Hung chiếm đóng Serbia, ông cùng cha và chính phủ lưu vong chạy trốn đến Hy Lạp tạm trú.[304] Năm 1918, đại chiến thế giới lần thứ nhất kết liễu, vua cha Petar I vẫn ở nước ngoài, còn Aleksandar I về Serbia giữ quyền nhiếp chính lần thứ hai, lúc đó vương quốc Nam Tư thứ nhất vừa mới thành lập.[305] Năm 1921, vua cha Petar I băng hà, Aleksandar I chính thức đăng cơ trở thành vị quân chủ thứ hai cầm quyền Vương quốc của người Serb, Croatia và Slovenia.[306]

Liên bang Nga - Belarus - Ukraina[sửa | sửa mã nguồn]

Sviatopolk I
Yaroslav I
Iziaslav I
Vsevolod I
Vyacheslav I thỏa thuận với Iziaslav II Mstislavich
Iziaslav II Mstislavich
Yuri I
Rostislav I
Izyaslav III
Mstislav II
đám cưới của Gleb Yuryevich
Yaroslav II
Sviatoslav III
Roman I de Galicie

Đại công quốc Nga Kiev[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1016, Yaroslav I với sự hỗ trợ từ các công dân của Novgorod và Varangian, quyết định gây chiến với Sviatopolk I. Trận chiến diễn ra vào năm 1016 không xa Lubech, gần sông Dnieper, Sviatopolk I bị đánh bại và trốn sang Ba Lan.[307] Nguyên nhân cơ bản là việc Sviatopolk I quyết định loại bỏ ba người con trai của Vladimir: Boris, GlebSviatoslav, những người tuyên bố ngai vàng Kievan đe dọa quyền lực của ông. Tin tức về vụ giết người ba người này đã đến với một người con trai khác của Vladimir, Yaroslav I, và cuộc đấu tranh giành quyền kiểm soát đại công quốc Nga Kiev bùng phát từ đây. Năm 1018, Sviatopolk I quay trở lại với Rus ', đánh bại Yaroslav I với sự giúp đỡ từ cha vợ và chiếm giữ Kiev.[308] Bolesław I Chrobry của Ba Lan và quân đội của ông này ở lại trong vài tháng nhưng sau đó đã rút về Ba Lan, trong khi đó, Konstantin Dobrynich của Novgorod đã thuyết phục được Yaroslav I tiếp tục chiến đấu chống lại Kiev.Parkomenko.[309] Năm 1019, Sviatopolk I bị đánh bại và chạy trốn đến thảo nguyên, chẳng mấy chốc, ông trở lại cùng với quân đội Pechalan và tấn công Yar Tư trên sông Alta, nhưng một lần nữa bị đánh bại và trốn sang Ba Lan, cuối cùng chết trên đường đến đó.[310]

Năm 1018, Yaroslav I bị mất quyền kiểm soát đại công quốc Nga Kiev bởi sự trở lại của người tiền nhiệm Sviatopolk I.[311] Tuy nhiên, chỉ một năm sau ông đã đánh bại được Sviatopolk I, qua đó khôi phục địa vị.[312] Năm 1024, ngôi vị của Yaroslav I một lần nữa không liền mạch bởi Mstislav Vladimirovich I chen ngang, nhưng sự chen ngang đó cũng chỉ là chớp nhoáng, rồi mọi việc lại đâu ra đấy khi ông đã trở lại ngay lập tức.[313]

Năm 1068, một cuộc nổi dậy chống lại Iziaslav I Yaroslavich của Kiev bùng phát sau hậu quả từ một thất bại của Kievan dưới bàn tay của người Cumans tại Trận chiến sông Alta gần thành phố Pereiaslavl, phía đông nam Kiev.[314] Quân đội Polovtsy đã thâm nhập vào các tuyến phòng thủ của công trình đất được xây dựng qua nhiều năm bởi Vladimir Svyatoslavich và Yaroslav I, họ đã gặp một đội quân gồm các con trai của Yar Tư: Iziaslav I của Kiev và các anh em của ông, Princes Sviatoslav Yaroslavich của Chernigov, và Vsevolod, đã bị đánh bại và trốn trở về Kiev trong sự hỗn loạn.[315] Polovsty tiếp tục đột kích khắp khu vực, khiến người Kiev phải kêu gọi đại công tước của họ tái vũ trang để họ có thể diễu hành và gặp mối đe dọa, Iziaslav I từ chối, thúc đẩy cuộc nổi loạn.[316] Đám đông người Kiev đã lục soát nhà Konstantin, họ đổ lỗi cho ông về thất bại. Sau đó, họ đã đuổi Iziaslav và giải thoát công tước Vseslav của Polotsk, người đã bị giam cầm trước đó bởi Iziaslav I, Vsevolod và Sviatoslav, và đặt ông ta lên ngai vàng Kiev với hy vọng rằng ông ta có thể ngăn chặn Polovtsy[317] Về phần mình, Iziaslav I trốn sang nương nhờ Boleslaw II của Ba Lan, ông đã được người Ba Lan hỗ trợ bằng vũ khí, trở lại Kiev vào tháng 5 năm 1069 và giành lại ngai vàng.[318] Tuy nhiên, Iziaslav I lại bị anh em của mình Sviatoslav II lật đổ một lần nữa vào năm 1073, ông quay sang vua Đức Henry IV, Hoàng đế La Mã thần thánh, vua Ba Lan Bolesław II the Bold và Giáo hoàng Gregory VII, để được giúp đỡ trong nhiều trường hợp.[319] Iziaslav I trở thành vị vua đầu tiên của Rus ' vào năm 1075 khi Giáo hoàng gửi cho ông một vương miện, ông đã thành công trong việc chiếm lại Kiev một lần nữa vào năm 1077 từ tay Vsevolod I, nhưng sớm chết trong một cuộc chiến tranh nội bộ chống lại Princes Oleg SviatoslavichBoris Vyacheslavich vào năm sau.[320]

Năm 1077, Vsevolod I không giữ nổi ngôi báu khi Iziaslav I về nước dưới sự hỗ trợ của nhiều lực lượng ngoại bang.[321] Nhưng chỉ một năm sau, Vsevolod I đã giành lại quyền kiểm soát đất nước khi Iziaslav I sớm chết trong cuộc chiến nội bộ tranh đấu chống lại Princes Oleg Sviatoslavich và Boris Vyacheslavich.[322]

Vào ngày 18 tháng 2 năm 1139, Vyacheslav I kế vị anh trai của mình là Yaropolk II, nhưng ông đã bị Vsevolod II đuổi ra vào tháng 3.[323] Năm 1146, Igor II Olgovich lên thay thế anh trai Vsevolod II. Mặc dù anh trai của Igor II Olgovich đã rút ra những lời hứa về lòng trung thành từ các đối tượng người Kiev của mình, nhưng Igor II Olgovichi không được lòng dân và có sự chống lại việc gia nhập của ông ta.[324] Do đó, Igor II Olgovich trị vì chưa đầy hai tuần trước khi người Kiev mời Iziaslav II Mstislavich (công tước Pereiaslav-Khmelnytskyi) làm đại công tước của họ, ông này cầm quyền đến năm 1149.[325] Yuri I giành được đại công quốc Nga Kiev từ năm 1149 đến năm 1151, xen giữa giai đoạn đó là thời kỳ đồng trị vì thứ nhất của hai chú cháu Vyacheslav I và Iziaslav II Mstislavich vào năm 1150, tiếp đó là thời kỳ đồng phục vị cộng trị lần thứ hai của Vyacheslav I và người cháu trai Iziaslav II Mstislavich từ năm 1151 đến năm 1154.[326]

Năm 1149, Iziaslav II Mstislavich bị trục xuất bởi người chú Yuri I, Yuri I tuyên bố địa vị của ông ta là con trai của Vladimir Monomakh, do đó hợp pháp hơn cháu trai của mình.[327] Ít lâu sau, năm 1150, Iziaslav II giành lại ngai vàng và để có được một mối quan hệ hợp pháp, ông kết hợp với một người chú khác, cựu đại công Viatcheslav I, cũng là con trai của Vladimir II.[328] Nhưng Yuri I không dễ dàng để yên như vậy, chỉ mấy tháng sau đã đem quân săn lùng Iziaslav II lần thứ hai, trước khi quay lại lần nữa.[329] Tuy nhiên, khoảng ngót một năm sau, ông phối hợp với người chú Vyacheslav I đã lấy lại quyền lực, họ cùng nhau trị vì đại công quốc Nga Kiev hỗn loạn và kích động cho đến năm 1154.[330]

Năm 1150, ngôi vị đại công của Yuri I không giữ nổi bởi sự cộng trị hai chú cháu Vyacheslav I và Iziaslav II Mstislavich.[331] Ngay lập tức, ông quay lại tái chiếm Kiev, nhưng cũng chưa được bao lâu lại bị Vyacheslav I và Iziaslav II Mstislavich liên thủ đánh bật ra.[332] Năm 1154, Rostislav I giành được quyền thống trị, đến năm 1155 Yuri I mới tái phục vị, ông nắm quyền được hai năm thì qua đời.[333]

Năm 1154, Rostislav I biết rằng Iziaslav II Mstislavich đã chết ở Kiev, ông đã giao quyền cai quản công quốc Novgorod cho con trai David Rodtislavic.[334] Rostislav I đem binh xâm nhập Kiev, tự xưng là Đại công tước, nhưng sự cai trị của Rostislav I Mstislavic tại Kiev cũng không duy trì được, chỉ một tuần sau, ông bị Iziaslav III lật đổ.[335] Năm 1155, Yuri I đánh bại được Iziaslav III, lần thứ ba làm đại công.[336] Năm 1157, Yuri I bị trúng độc chết tại bữa tiệc được tổ chức bởi một quý tộc lớn ở Kiev, Iziaslav III lại lên cầm quyền.[337] Năm 1159, Rostislav I đánh tan thế lực của Iziaslav III, giành lại ngôi vị đại công cho mình lần thứ hai.[338] Năm 1161, tuy Rostislav I phải bỏ chạy khi Kiev bị Iziaslav III tái chiếm trong vài tuần, nhưng rất nhanh ông đã dẹp tan được người này để trở về khôi phục địa vị lần thứ ba.[339]

Năm 1155, Iziaslav III mất ngôi đại công bởi sự kiện Yuri I tái phục vị.[340] Năm 1157, sau khi Yuri I qua đời, Iziaslav III chớp thời cơ lại giành quyền thống trị ở Kiev.[341] Tất nhiên, cũng chỉ hơn năm sau, ông lại đánh mất ngôi vị lần thứ hai bởi Rostislav I.[342] Tháng 3 năm 1161, Iziaslav III đã rất nhanh chóng giành lại ngai vàng của Kiev lần thứ ba trong vài tuần, cuối cùng ông bị giết ngày 6 tháng 4 năm 1161 gần thị trấn Belgorod trong một cuộc chiến chống lại quân đội của Rostislav I, trong khi cố gắng phục hồi các bang của mình.[343]

Năm 1169, quân đội của Andrei I Yuryevich (Đại công tước xứ Vladimir-Suzdal) đã tấn công ồ ạt vào Kiev, tàn phá nó như chưa từng tồn tại.[344] Mstislav II phải bỏ chạy, Andrei I Yuryevich bổ nhiệm anh trai được mình là Gleb Yuryevich làm Đại công tước của Kiev, trong nỗ lực thống nhất đất đai Vladimir-Suzdal với Kiev.[345] Năm 1170, Mstislav II từng quay lại cố gắng phục bích nhưng không duy trì được đại cuộc, ông chiếm giữ Kiev ít bữa khiến Gleb Yuryevich lui binh, nhưng Andrei I Yuryevich ngay lập tức gửi lực lượng sang tiếp ứng.[346] Mstislav II đành bó tay, ông đã qua đời lưu vong ở Byzantium và dưới triều đại của Hoàng đế Manuel I vào năm 1172, trước đó ông được Manuel I trao tặng quận Otskalana.[347]

Năm 1169, Gleb Yuryevich (công tước xứ Pereyaslavl) được em trai Andrei I Yuryevich bổ nhiệm làm Đại công tước của Kiev.[348] Tuy nhiên, khi ông chưa ngồi ấm chỗ thì cựu đại công tước đã trở lại, nhưng cũng chỉ ít lâu em trai ông đã phái quân tiếp viện đến khống chế đại cuộc ở đây vào năm 1170.[349] Trong suốt thời gian sau đó, hai anh em phải gồng mình chiến đấu với làn sóng bạo động chống đối rất quyết liệt, kết thúc vào năm 1171 khi Gleb Yuryevich chết và Andrei I Yuryevich đành chấp nhận từ bỏ Đại công quốc Nga Kiev.[350]

Năm 1173, Roman Rostislavich bị buộc phải thoái nhiệm chức vụ đại công ở Kiev, sau khi ông chịu trách nhiệm về vụ ám sát Gleb Yuryevich (bị đầu độc ngày 20 tháng 1 năm 1171).[351] Ông trị vì một lần nữa tại công quốc Smolensk, sau đó trở lại ngai vàng Kiev năm 1174.[352] Xen kẽ thời kỳ này ở Kiev lần lượt có Vsevolod Yuryevich (1173) trị vì năm tuần, tiếp tục Rurik II (1173) và Yaroslav II (1173-1174) rồi đến Sviatoslav III (1174) thay nhau cầm quyền qua nhiều cuộc đấu tranh khốc liệt, kế đó Yaroslav II lên ngôi Kiev một lần nữa trong vài tháng trước khi Roman Rostislavich lấy lại nó.[353]

Năm 1173, Rurik II gặp phải vấn đề kế vị ngai vàng khi lần đầu tiên đảm nhiệm đại công tước Kiev, ông đã được thay thế ngay sau đó bởi một trong những người anh em họ của mình, Yaroslav II.[354] Trong suốt thời kỳ ngự trị bảy lần của mình, Rurik II phải liên tục đấu tranh chống lại những cuộc thanh trừng bạo loạn giành giật quyền lực, đây là giai đoạn sôi động nhất trong lịch sử tồn tại của quốc gia này.[355] Năm 1181, Rurik II phế truất Sviatoslav III đoạt lấy quyền lực lần thứ hai, nhưng Vsevolod III của Vladimir can thiệp buộc ông phải nhường lại ngôi báu cho Sviatoslav III, tuy nhiên qua sự giàn xếp ông được quyền kế vị.[356] Năm 1194, Sviatoslav III giá băng, Rurik II lên ngôi lần thứ ba.[357] Năm 1201, ông bị con rể cũ Roman Mstislavich (gọi là "Đại đế" của Galicia), người đã trao lại ngai vàng cho Ingvar Yaroslavic (một người anh em họ khác của Rurik) đánh bại.[358] Rurik II ở lại một thời gian tại thành phố Chernigov (nơi ông đã xây dựng nhà thờ Thánh Paraskebas), ông đã đòi lại quyền lực khi tấn công và cướp bóc Kiev vào năm 1203 với một đội quân gồm Polovtses và anh em họ riurikid.[359] Cuối năm ấy, Roman Đại đế, sau một cuộc hòa giải đã bắt Rurik II (với vợ và con gái của ông là Predslava, vợ cũ của Roman) nhốt trong một tu viện và làm thợ sửa chữa.[360] Tuy nhiên, dưới áp lực từ phía Vsevolod III của Vladimir, Roman Mstislavitch buộc phải phóng thích Rurik II, nhưng buộc ông phải làm tu sĩ.[361] Từ năm 1205 đến 1211, ông trị vì thành phố Kiev, nhưng ông bị truất ngôi tới hai lần năm 1206 và 1208 bởi người anh em họ xa Vsevolod IV, con trai của Svyatoslav III (mà ông không phải là một phần của chi nhánh Monomakh), mà giả vờ rằng quá khứ tu viện của Rurik II khiến sức mạnh của ông vô hiệu.[362] Kết quả của một cuộc nội chiến mới, một lần nữa Rurik II bị đuổi khỏi Kiev vào năm 1211 bởi Vsevolod IV.[363]

Năm 1174, Yaroslav II đánh mất ngôi vị bởi sự quật khởi của Sviatoslav III.[364] Vài tháng sau, tuy ông có giành lại quyền lực lần thứ hai nhưng cũng chỉ ít bữa lại bị lật đổ bởi Roman Rostislavich.[365]

Năm 1174, Sviatoslav III đoạt được quyền lực được từ tay Yaroslav II mấy tháng thì để mất ngôi bởi chính người này, nhưng Yaroslav II còn chưa cũng cố vững chắc nền thống trị đã bị Roman Rostislavich lấy lại nó.[366] Năm 1176, hai anh em của Roman Rostislavich là Rurik II và David đã thua một trận chiến quan trọng chống lại quân Polovtses, Svyatoslav III sau đó chỉ định David chịu trách nhiệm và yêu cầu một phiên tòa, đồng thời yêu cầu ông lấy lại cổ phần của mình về quyền thừa kế đất đai của người Ruthian (ông nên được thừa kế cụ thể ở Kiev).[367] Roman Rostislavich từ chối và sau đó bị buộc lần thứ hai rời Kiev trong cùng năm, Sviatoslav III lên ngôi đại công lần thứ nhì.[365] Năm 1181, Sviatoslav III bị Rurik II phế truất, nhưng sau đó, ông làm hòa với Vsevolod III của Vladimir, khiến ông giành lại ngai vàng.[368]

Năm 1202, với sự đồng ý của Vsevolod III Vladimirski, Roman Mstislavitch giao thành phố Kiev cho anh em họ Ingwar Yaroslavic.[369] Chẳng bao lâu, Rurik II đuổi Ingwar Yaroslavic ra khỏi thành phố vào ngày 2 tháng 1 năm 1203.[370] Mấy tháng sau, Ingvar Yaroslavic được Roman Mstislavitch cài đặt trở lại cho tới năm 1204, Ingwar Yaroslavic và Alexander de Belz tham gia đánh chiếm thành phố Vladimir Volynski.[371] Ingwar Yaroslavic chuyển qua làm công tước ở đây, Roman Mstislavitch quay trở lại Kiev cai trị, trong các cuộc đàm phán ở Trepol với Roman Mstislavitch sau đó, con trai Rurik II là Rostislav Rurikovich được đưa lên ngôi đại công nhưng thực chất quyền lực đều nằm trong tay Roman Galichsky.[372] Vào tháng 6 năm 1205, Roman Galichsky đã bị giết trong trận chiến trong chiến dịch của mình ở Ba Lan, tìm hiểu về điều này Rurik II, đã ném chiếc áo choàng tu sĩ và tuyên bố mình là Đại công tước Kiev lần thứ sáu.[373]

Năm 1203, Rurik II đánh đuổi được Ingvar Yaroslavic khỏi Kiev.[374] Nhưng mấy tháng sau, Roman Mstislavitch đã kéo binh tới buộc Rurik II phải tháo chạy, Ingvar Yaroslavic cai trị một năm thì trả ngôi cho Roman Mstislavitch.[375] Năm 1212, sau nhiều phen thanh trừng không khoan nhượng được kiến tạo bởi Rurik II và Vsevolod IV, cuối cùng Igor III cũng tìm thấy cho mình một cơ hội lên ngôi đại công lần thứ ba khi ông phối hợp cùng Mstislav Romanovich tấn công Vsevolod IV Sviatoslavich và chiếm được Kiev.[376] Năm 1214, sau một trận chiến gần Belgorod, Ingvar Yaroslavic đã tự nguyện nhượng Kiev cho Mstislav Romanovich và rời đến Lutsk.[377]

Vladimir IV

Năm 1206, Vsevolod IV vừa giành được ngôi đại công từ tay Rurik II thì đã bị chính người đó cướp lại gần như ngay lập tức.[378] Năm 1208, ông tiến hành chính biến lần thứ hai, nhưng cũng chỉ thành công trong chớp nhoáng, rồi trật tự lại đâu vào đấy khi Rurik II trở về cuối năm đó.[379] Năm 1211, ông thành công tuyệt đối trong cuộc chiến với Rurik II lần thứ ba, nhưng cũng chỉ một năm sau thì lại để tuột mất quyền lực về tay Igor III.[380]

Năm 1235, Vladimir Rurikovic do phản đối Izyaslav IV và Polovtsy nên cùng với Daniel Romanovich Galitsky (công tước xứ Galicia-Volynbao) tiến hành vây Chernigov, nhưng ông bị đánh bại tại Torkky, bị Polovtsy bắt và mất triều đại Kiev của mình.[381] Daniel Romanovich Galitsky chạy trốn, Izyaslav IV tự xưng là đại công tước.[382] Năm 1236, được giải thoát khỏi cảnh giam cầm, Vladimir Rurikovic lại tìm đến Daniel Romanovich Galitsky, lần này ông phối hợp với Đại công tước Vladimir Yuri Vsevolodovich của Vladimir, kêu gọi sự giúp đỡ của công tước Novgorod, Yaroslav III.[383] Yaroslav III đánh bật Izyaslav IV, ông tạm thời lên nắm giữ quyền đại công vì thế lực ủng hộ Izyaslav IV vẫn còn khá mạnh, đến tháng 5 năm đó, sau khi dẹp tan được sự bạo động của Izyaslav IV, Yaroslav III mới chính thức trả ngôi vị cho Vladimir IV.[384]

Yaroslav III

Tháng 3 năm 1236, Izyaslav IV bị quật đổ bởi Yaroslav III.[385] Từ ngày 10 tháng 4 năm 1236 đến đầu tháng 5 năm 1236 tuy ông có nổi dậy giành lại được ngai vàng, nhưng cũng chỉ như tia chớp loé sáng chốc nhát rồi vụt tắt giữa không trung vì ngay sau đó Vladimir IV đã trở lại với sự hỗ trợ từ phía Yaroslav III.[386]

Năm 1236, Yaroslav III vừa giành được ngôi đại công thì đã bị Izyaslav IV đòi lại sau một cuộc chính biến chóng vánh.[387] Nhưng cũng trong năm đó, ông đánh bật được Izyaslav IV, trả ngôi đại công cho Vladimir IV.[388] Đến năm 1238, lần thứ hai Yaroslav III có được ngai vàng, nhưng khi người Mông Cổ xâm chiếm Kiev, Yaroslav III thất thủ đành rời đến Vladimir, ông lên ngôi công tước tại đây.[389] Người đứng đầu công quốc Halych là Mikhail Vsevolodovich nhân cơ hội lên cầm quyền tại Kiev, ông này đã đứng lên lãnh đạo nhân dân tổ chức cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ. Năm 1243, Yaroslav III được triệu tập bởi Batu Khan tới thủ đô Sarai, sau một cuộc hội thảo kéo dài, ông trở lại Kiev làm đại công lần thứ ba trong danh dự.[390]

Mikhail Vsevolodovich

Năm 1239, giai đoạn thứ hai cuộc xâm lược của người Mông Cổ bắt đầu vào ngày 3 tháng 3, không thể kháng cự lại sức mạnh như chẻ tre của vó ngựa Tatar, Mikhail Vsevolodovich đến Kamenets và tổ chức một cuộc di tản chung về cuộc điều tra của ông khỏi Kiev.[380] Tuy nhiên, Yaroslav Vsevolodovich của Suzdalia đã biết được điểm đến của Mikhail Vsevolodovich, ông ta bao vây Kamenets, bắt vợ của ông và thu giữ nhiều chiến lợi phẩm, nhưng Mikhail Vsevolodovich đã trốn thoát và trở về Kiev.[391] Mùa thu năm 1239, người Mông Cổ đã phái các sứ giả đến Kiev đề nghị hòa bình, nhưng Mikhail Vsevolodovich đã từ chối đệ trình.[392] Trong nửa đầu năm 1240, Batu Khan đã gửi Möngke tới người hòa giải Kiev, khi các sứ giả của ông ta đến Mikhail Vsevolodovich lần thứ hai để tìm cách dỗ ông phục tùng, ông đã thách thức Batu Khan bằng cách giết các phái viên của Mông Cổ.[393]. Các lực lượng ở Rus ' mà Mikhail Vsevolodovich vẫn có thể dựa vào là druzhina của riêng ông và dân quân Kiev, và do đó ông trốn sang Hungary khi quân Mông Cổ kéo tới.[394] Trong sự hỗn loạn xảy ra trước cuộc xâm lược bờ tây sông Dnieper, các hoàng tử nhỏ và boyar đã tận dụng các cơ hội để thể hiện quyền lực của mình, Rostislav Mstislavich chiếm giữ Kiev, nhưng ông đã bị Daniil Romanovich đuổi đi. Mikhail Vsevolodovich đến Hungary, cố gắng sắp xếp một cuộc hôn nhân cho con trai của mình, Rostislau III với con gái của nhà vua nước này, Béla IV không thấy có lợi gì khi thành lập một liên minh như vậy và đuổi Mikhail Vsevolodovich và con trai ông khỏi Hungary.[395]. Tại Mazovia, Mikhail Vsevolodovich đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt từ người chú của mình, nhưng ông quyết định rằng hành động nhanh chóng là tìm cách hòa giải và gửi sứ thần tới anh rể, Mikhail Vsevolodovich cam kết sẽ không bao giờ đối kháng với Daniil Romanovich và đã đưa ra bất kỳ nỗ lực nào trong tương lai đối với Halych.[396] Daniil Romanovich mời ông đến Volhynia, trả lại vợ và từ bỏ quyền kiểm soát Kiev. Tuy nhiên, trước cuộc tấn công của người Mông Cổ, Mikhail Vsevolodovich đã không trở về Kiev mà cho phép người của anh rể của mình ở lại đó.[397] Đến cuối năm 1240, Batu Khan lại bao vây Kiev cùng với quân đội của mình và thành phố sụp đổ vào ngày 6 tháng 12, khi biết được số phận của Kiev, Mikhail Vsevolodovich đã rút khỏi Volhynia và lần thứ hai áp đặt lên những ân sủng của người chú.[398] Năm 1241, Mikhail Vsevolodovich cư trú trên một hòn đảo gần Podil (Old Kyiv đã bị san bằng), nhưng quân đội của Batu Khan đã không thách thức sự xuất hiện của ông cho thấy người Mông Cổ sẵn sàng để đại công tước trở về Kiev bị tàn phá mà không cản trở.[399] Batu Khan bắt đầu triệu tập các hoàng tử của Rus ' đến Sarai, để tỏ lòng tôn kính, Khan bổ nhiệm Mikhail Vsevolodovich là đại công tước cao cấp ở Rus ', sau khi trở về Suzdal, ông đã phái chỉ huy của mình cai trị Kiev.[400]

Năm 1239, Rostislav Mstislavitch chiếm được Kiev nhân cuộc hỗn loạn, nhưng không lâu sau ông đã bị Daniil Romanovich đuổi đi, đưa Mikhail Vsevolodovich về phục vị.[401]

Vladimir Rurikovich

Khi người Mông Cổ phá hủy thành phố Kiev vào ngày 19 tháng 11 năm 1240, Mikhail Vsevolodovich lại phải rút chạy, Rostislav Mstislavitch nhân cơ hội lại tiến quân vào Kiev để trấn an cơn thịnh nộ của họ, đang chuẩn bị đến Sarai, thủ đô của Golden Horde để tỏ lòng tôn kính với Khan vĩ đại.[402] Năm 1241 khi trở về, Daniel de Galicie buộc Rostislav Mstislavitch phải thoái vị để ủng hộ Mikhail Vsevolodovich tái đăng cơ, ông bị giam cầm.[403]

Công quốc Ovruch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1223, sau cái chết của Mstislav Romanovich Old trong trận chiến Kalka, Vladimir Rurikovich chuyển sang Kiev làm đại công tước, con trai ông là Rostislav Vladimirovich lên cầm quyền tại công quốc Ovruch. Năm 1235, Vladimir Rurikovich bị đánh bại tại Torkky, bị Polovtsy bắt và mất triều đại Kiev của mình bởi Izyaslav IV.[404] Năm 1236, Vladimir Rurikovich được giải thoát khỏi cảnh giam cầm, ông trở về Ovruch làm công tước lần thứ nhì khi con trai ông thoái vị. Sau đó ít lâu, Yaroslav III đánh tan được Izyaslav IV, ông kiêm luôn chức đại công tước ở Kiev đến năm 1238.[405]

Công quốc Halych và Vương quốc Galicia-Volynia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1144, lợi dụng Volodymyrko Volodarovych đi săn ở Terebovlya, người Galicia kêu gọi Ivan Barladnik của Zvenigorod tập hợp quân đội, chiếm giữ Halych trong ba tuần.[406] Volodymyrko Volodarovych lập tức đem binh trở lại, Ivan Berladnits thua to đã trốn đến thành phố Berlad trên sông Danube, và từ đó chạy đến Kiev, sau đó sang lưu vong tại Hy Lạp.[407] Volodymyrko Volodarovych đối phó tàn nhẫn với phiến quân, cố thủ vững chắc trên ngai vàng Galicia.[408] Nguyên nhân sự kiện trên, để kết hợp một số quyền tự trị trong một công quốc Galicia duy nhất, Volodymyrko Volodarovych cố gắng sáp nhập công quốc Volyn vào đất đai của mình, điều này gây ra sự bất mãn từ Đại công tước Nga Kiev Vsevolod II Olegovich.[409] Trong cuộc chiến chống lại Vsevolod Volodymyrko đã thất bại và cam kết trả cho ông 1.400 Bitcoin, muốn gây quỹ, Volodymyrko Volodarovych đã che đậy cống nạp của Galich dân số, điều này gây ra sự bất mãn với các thành phố và trở thành lý do cho cuộc nổi dậy.[410]

Năm 1187, Oleg Yaroslavich lên làm công tước chưa bao lâu đã bị lật đổ bởi người anh trai khác mẹ Vladimir II Yaroslavich.[411] Vấn đề này khởi điểm từ cái chết của cha ông, công tước Yaroslav Volodimerovich, người đã trao Peremyshl (Przemyśl, Ba Lan) cho con trai hợp pháp duy nhất của mình, Vladimir Yaroslavich, đồng thời chỉ định Oleg Yaroslavich là người kế vị ở Halych, yêu cầu Vladimir II Yaroslavich và người Galicia hứa sẽ không lấy đất đai của Oleg Yaroslavich.[412] Tuy nhiên, sau khi Yaroslav Volodimerovich chết, Oleg Yaroslavich đã bị phế truất gần như ngay sau đó và phải tìm sự giúp đỡ từ Ryurik Rostislavich ở Vruchiy nhưng không thành công, ông đã đến công tước Casimir II của Ba Lan.[413] Năm 1188, Oleg Yaroslavich và Công tước Casimir II đã đánh bại Vladimir Yaroslavich và buộc ông này phải chạy trốn sang Hungari, sau đó Casimir II bổ nhiệm Oleg Yaroslavich làm công tước Halych lần thứ hai.[414] Thế nhưng việc phục tịch này cũng quá ngắn ngủi, bởi Oleg Yaroslavich chỉ ít lâu sau đã bị đầu độc bởi chính người dân Halych, họ mời Roman Mstislavich của Vladimir-in-Volhynia làm công tước mới của mình.[415]

Năm 1188, Vladimir II Yaroslavich bị mất ngôi bởi người em khác mẹ Oleg Yaroslavich, ông phải chạy sang Hungary nương nhờ vua Béla III.[393] Nhưng Oleg Yaroslavich lại bị đầu độc chết, Roman the Great từ công quốc Volodymyr-Volynskyi thừa cơ tiến quân xâm nhập, tự xưng làm công tước Halych, những sự kiện trên diễn biến ngay trong năm đó.[416] Vua Béla III tổ chức cuộc tuần hành chống lại Roman the Great, có ý định phục hồi Vladimir II Yaroslavich, và Roman the Great thất bại đã phải chạy trốn về Volodymyr-Volynskyi vào năm 1189. Trong khi đó, vua Béla III, thay vì trao lại Halych cho Vladimir II Yaroslavich như đã hứa, mà giao vùng đất này cho con trai mình là Andrew II.[417] Về phần Vladimir II Yaroslavich, ông được đưa trở lại Hungary, chịu sự quản thúc giam lỏng.[418] Năm 1190, Vladimir II Yaroslavich trốn thoát khỏi Hungary, ông chạy sang Đức, yêu cầu Hoàng đế Frederick Barbarossa bảo vệ.[419] Vladimir II Yaroslavich hứa với hoàng đế Đức sẽ trả cho ngài một khoản cống nạp hàng năm là 2.000 grivna nếu ông được phục hồi nhờ sự giúp đỡ của hoàng đế trên ngai vàng Galicia, Hoàng đế Đức đề nghị Vladimir II Yaroslavich cho Công tước Casimir II của Ba Lan, người đã gửi quân Ba Lan đến Halych để hỗ trợ cho yêu sách lưu vong.[420] Khi Vladimir II Yaroslavich trở lại Halych, dân chúng đã chào đón ông, Andrew II buộc lòng phải rút lui quay về Hungary chờ đợi thời cơ phục hận.[421]

Roman đại đế nhận một đại sứ từ Giáo hoàng Innocent III

Năm 1189, Roman đại đế bị đánh bại bởi quân đội Hungary mà phải thoái lui về Volodymyr-Volynskyi.[422] Năm 1199, khi Vladimir II Yaroslavich qua đời, ông đưa quân tấn công trở lại, tuyên bố làm công tước Halych lần thứ nhì.[423]

Andrew II

Năm 1190, Andrew II bị trục xuất khỏi Halych, bởi sự cai trị của ông ở đây không được lòng dân.[424] Năm 1205, Andrew II lên ngôi quốc vương Hungary và Croatia, ông đã phát động chiến dịch đầu tiên để chiếm lại Halych vào năm 1206.[425] Theo yêu cầu của giới quý tộc Halych, Andrew II đã can thiệp chống lại Vsevolod Svyatoslavich, công tước xứ Chernigov và các đồng minh của ông ta thay mặt cho Daniel Romanovich (công tước Halych và Lodomeria), Vsevolod Svyatoslavich và các đồng minh buộc phải rút khỏi Halych.[426] Sau khi Andrew II trở về Hungary, anh em họ xa của Vsevolod Svyatoslavich là Vladimir Igorevich đã chiếm giữ cả Halych và Lodomeria, trục xuất Daniel Romanovich khỏi tổ quốc.[427] Daniel Romanovich trốn đến nương tựa Leszek I của Ba Lan, sau đó Leszek I đề nghị Daniel Romanovich đến thăm Andrew II, nhưng Vladimir Igorevich "đã gửi nhiều quà tặng" cho cả Andrew II và Leszek I, nên hai người này từ chối việc tấn công ông ta.[428] Nhưng đến năm 1208, người anh em nổi loạn của Vladimir Igorevich là Roman Igorevich đã sớm đến Hungary, tìm kiếm sự giúp đỡ của Andrew II, Roman Igorevich trở lại Halych và trục xuất Vladimir Igorevich với sự giúp đỡ của quân đội phụ trợ Hungary.[429] Chỉ ít lâu sau, lợi dụng một cuộc xung đột giữa Roman Igorevich và các quý tộc, Andrew II đã gửi quân tới Halych, quân Hungary bắt Roman Igorevich vào năm 1209, thay vì bổ nhiệm một công tước mới, Andrew II tự xưng làm công tước Halych, ông không trực tiếp cai trị ở đây mà phái thống đốc Benedict thay mặt mình.[430]

Danylo Romanovych

Năm 1206, Danylo Romanovych mất ngôi khi mới lên 5 tuổi bởi những kẻ tẩy chay, ông phải lưu vong cùng mẹ là Anna-Euphrosyne sang Ba Lan cho đến năm 1211.[431] Trong thời gian này, tại Halych xảy ra nhiều cuộc thay bậc đổi ngôi, đó là hai lần tại vị của Vladimir III. Igorjewitsch (Chernigov) (1206-1208)(1210-1211) và Roman II Igorevich (1208-1209)(1210) xen giữa có Rostislav II trong năm 1209 và Andrew II của Hungary (1209-1210).[432] Năm 1211, một nhóm các boyar đã bị báo động bởi các hành vi chuyên quyền của Vladimir Igorevich, đã yêu cầu Andrew II khôi phục Daniel Romanovich làm người cai trị Halych, Andrew II và các đồng minh của ông là Les Leskk I của Ba Lan và ít nhất năm người các hoàng tử của Rus đã gửi quân đội của họ đến Halych, đánh bại Vladimir Igorevich để khôi phục Daniel Romanovich.[433] Nhưng chưa bao lâu, quần chúng lại nổi loạn trục xuất mẹ của Daniel Romanovich vào năm 1212, Volodislav Kormilchich được đưa lên ngôi.[434] Anna-Euphrosyne thuyết phục Andrew II đích thân dẫn quân đội của mình đến Halych, Andrew II bắt được Volodislav Kormilchich năm 1214, đưa ông ta đến Hungary.[435] Sau khi Andrew II rút khỏi Halych, các quý tộc Halych đem dâng ngai vàng cho Coloman I của Galicia (con trai của Andrew II), người này trục xuất Daniel Romanovich và mẹ của ông khỏi chức vụ.[436] Andrew II đã bổ nhiệm một quý tộc Hungary, Benedict the Bald, để điều hành nó thay mặt Coloman, vì người này là trẻ vị thành niên, Coloman lên ngôi vua đầu tiên của Halych với sự ủy quyền của giáo hoàng vào đầu năm 1216.[437] Năm 1221, Danylo Romanovych (lúc đó đang làm công tước xứ Volodymyr-Volynskyi) từng gửi quân đến Halych giúp Mstislav Mstislavich.[438] Năm 1229, những người theo ông ở Galich đã mời Danylo Romanovych lên ngôi, ông chiếm thành phố trong một cuộc bao vây và, mặc dù đốt cháy các thành phố thông qua cây cầu bắc qua Dniester, đã chiếm được Halych, đánh đuổi Andre Ugorski.[439] Danilo Romanovich đã thả tù nhân bị bắt giữ của hoàng tử Andrew, nhưng sau đó, với sự hỗ trợ của Sudislav và cha vua Hungary, Andre Ugorski đã thực hiện một nỗ lực khác để bắt Galich vào năm 1231.[440] Năm 1232, Danylo Romanovych liên minh với Đại công tước Nga Kiev Volodymyr RurikovichPolovtsy đã chiến đấu không thành công chống lại người Hungary, nhưng chẳng bao lâu, trong cuộc bao vây Halych của người Volynian năm 1233, công tước Andre Ugorski đã chết và Danylo Romanovych tái chiếm được ngai vàng Galicia.[441] Năm 1236, Mikhail Chernihiv đã lấy Halych, ông ta để lại cho con trai của mình Rostislau III cai quản ở đây.[442] Năm 1237, Danylo Romanovich trở lại ngai vàng Galicia, để danh hiệu công tước Volyn, thêm danh hiệu công tước Galitsky.[443] Năm 1241, Rostislau III tái chiếm Halych, tuy nhiên sang năm 1242, Danylo Romanovich đã kịp thời trở về, ông cai trị lần này cho đến cuối đời.[444]

Năm 1206, Anna-Euphrosyne mất quyền nhiếp chính, bà cùng con trai Danylo Romanovych phải lưu vong sang Ba Lan.[445] Năm 1211, khi liên quân Ba Lan-Hungary đưa quân sang Halych, hai mẹ con mới được phục vị.[446] Tuy nhiên, cũng chỉ một năm sau, Mstislav Mstislavich quật khởi, Anna-Euphrosyne và con trai lại chịu cảnh nước mất nhà tan.[447]

Năm 1208, Vladimir Igorevich không thể kiểm soát được tình hình Halych bởi sự tạo phản của người anh em Roman II Igorevich được sự hậu thuẫn của quân đội Hungary.[448] Năm 1209, lợi dụng sự mâu thuẫn giữa Roman II Igorevich và các quý tộc, Andrew II lại gửi quân tới Halych, quân Hungary bắt Roman II Igorevich vào năm 1209, thay vì bổ nhiệm một công tước mới, Andrew II tự xưng làm công tước Halych.[449] Năm 1210, Vladimir Igorevich và Roman II Igorevich làm hòa, họ cùng nhau mở cuộc phản kích đánh đuổi người Hungary ra khỏi đất nước của mình, hai người thực hiện chế độ cộng trị.[450]

Năm 1209, Roman II Igorevich bị người Hungary bắt làm tù binh, vua Hungary là Andrew II tự xưng làm công tước Halych, cử thống đốc Benedict sang cai trị.[451] Ít lâu sau, Roman II Igorevich đã hòa giải với anh trai của mình, Vladimir Igorevich, vào năm 1210, lực lượng thống nhất của họ đã đánh bại quân đội của Benedict, trục xuất người Hungary khỏi Halych, hai người thực hiện chế độ cộng trị.[452] Để khẳng định uy quyền của mình, Roman II Igorevich và Vladimir Igorevich đã xử lý một số phần tử Galicia không hài lòng với họ, do đó họ cuối cùng đã mất sự hỗ trợ trong công quốc.[453] Năm 1211, quân đội Ba Lan-Hungary liên minh đã đuổi Vladimir Igorevich đưa mẹ con Anna-Euphrosyne và Danylo Romanovych phục vị, Roman II Igorevich đã bị treo cổ theo yêu cầu của Galicia.[454]

Coloman I
Mstislav Mstislavich (trái) và Danylo Romanovych (phải)

Năm 1219, sau khi quân đội Hungary chiếm đóng các vùng lãnh thổ phía tây Galicia, Leszek liên minh với Mstislav Mstislavich, công tước xứ Novgorod.[455] Mstislav Mstislavich đã xâm chiếm Halych, buộc Coloman và những người ủng hộ ông phải chạy trốn sang Hungary, Mstislav Mstislavich đã cho con gái Anna, kết hôn với Daniel Romanovich, người đã sớm chiếm giữ vùng đất giữa hai con sông Wieprz và Bug từ Leszek.[456] Bị xúc phạm bởi cuộc tấn công của Daniel Romanovich, Leszek đã liên minh với Andrew II, các lực lượng thống nhất của họ đã đánh bại quân đội của Mstislav Mstislavich trong ba trận chiến vào tháng 10 năm 1219.[457] Mstislav Mstislavich và Daniel Romanovich buộc phải từ bỏ Halych, Coloman trở lại công quốc cai trị lần thứ hai.[458]

Năm 1219, Mstislav Mstislavich thất bại phải bỏ chạy khỏi Halych, tuy vậy ông vẫn tìm cách phục vị.[459] Năm 1220, Mstislav Mstislavich đã mượn quân đội của người Cumans, một lần nữa xâm chiếm Halych, nhưng không thể chiếm được thủ đô.[460] Lợi dụng sự vắng mặt của phần lớn quân đội Hungary, Mstislav Mstislavich và lính đánh thuê người Cumans đã bao vây Halych vào tháng 8 năm 1221, các thuộc hạ của Coloman đã cố gắng chống cự trong nhà thờ kiên cố, nhưng việc thiếu nước buộc họ phải đầu hàng, Coloman bị bắt giữ, chịu sự giam cầm trong pháo đài Torchesk.[461] Các cuộc tấn công nội bộ ở Hungary đã ngăn cha của Coloman khởi động một cuộc thám hiểm quân sự chống lại Mstislav Mstislavich, Andrew II tham gia đàm phán với Mstislav Mstislavich và họ đã đạt được thỏa hiệp vào đầu năm 1222.[462] Theo thỏa thuận, Coloman sẽ từ bỏ tước hiệu ở Halych, còn Mstislav Mstislavich đồng ý Maria, con gái của mình, kết hôn với Andrew III (em trai của Coloman), người mà danh hiệu hoàng gia của Coloman sẽ được chuyển giao.[463]

Năm 1229, Andre Ugorski mất ngôi bởi cựu công tước Daniil Romanovich trở lại.[464] Năm 1231, ông có tiếp nhận được Halych lần thứ nhì, nhưng chỉ hai năm sau ông tử trận và công quốc lại thuộc về tay Daniil Romanovich.[465]

Năm 1237, Rostislau III mở cuộc hành quân chống lại người Litva, bởi họ đã cướp bóc vùng đất của Công tước Conrad xứ Mazovia, một đồng minh của chiến dịch chống lại người bác rể Daniil Romanovich.[466] Ông mang theo tất cả các boyar và hiệp sĩ của vương quốc, chỉ để lại một đơn vị đồn trú ít ỏi để bảo vệ Galicia, người dân thành phố sợ hãi, gọi Daniil Romanovich trở lại và tôn ông ta làm quân chủ.[467] Khi Rostislau III biết tin, ông đã trốn đến nương nhờ Béla IV của Hungary, tại đây Mikhail Vsevolodovich (cha của Rostislau III, đang ở Hungary lánh nạn Mông Cổ) đã cố gắng sắp xếp một cuộc hôn nhân giữa Rostislau III với con gái của nhà vua, do không thấy có lợi gì trong việc liên minh với các công tước mất ngôi nên Béla IV trục xuất họ khỏi Hungary.[468] Rostislaus III và cha của ông đã đến Mazovia để tìm kiếm sự hòa giải với Daniil Romanovich, người vẫn kiểm soát quyền thống trị và giữ vợ, em gái và mẹ của Mikhail Vsevolodovich. Mikhail Vsevolodovich đã gửi sứ giả cho anh rể của mình thừa nhận rằng hai cha con đã phạm tội chống lại ông ta trong nhiều lần, thề sẽ không bao giờ đối kháng với Daniil Romanovich một lần nữa và từ bỏ mọi nỗ lực để giành lại Galicia.[380] Daniil Romanovich mời hai cha con đến Volynia, trả lại gia quyến, từ bỏ Quease và đưa Luceoria cho Rostislau III, coi như phần thưởng cho sự mất mát của Galicia. Năm 1241, Rostislau III phối hợp với các hoàng tử của Bolocovenos đưa quân bao vây Bakota, cuộc bao vây thất bại, ông rút lui về Czernicóvia, nhưng sau đó đã chuyển hướng cuộc tấn công của mình chống lại các thành phố quan trọng hơn nhiều của Galicia và Premislia.[469]

cái chết của Rostislav Riourikovitch

Ông đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các boyar địa phương và hai giám mục có uy tín nhất, kết quả đã thuyết phục được người dân thị trấn đầu hàng mà không cần chiến đấu. Tuy nhiên, Daniil Romanovich đã trả đũa và tấn công Galicia, không thể chống lại cuộc tấn công, một lần nữa, Rostislau III phải chạy trốn cùng các đồng minh và lánh nạn ở Shchekotov vào năm 1242.[470]

Công quốc Torchesk[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1194, Rostislav Riourikovitch bị gián đoạn thời gian ngự trị tại công quốc Torchesk, tuy vậy ngay năm sau ông đã giành lại địa vị của mình và trị vì đến năm 1198, ông cầm quyền cùng lúc ở Belgorod trong quãng thời gian 1195-1197.[471] Sau khi rời khỏi công quốc Torchesk, Rostislav Riourikovitch lần lượt làm chủ các công quốc khác như: Vyshgorod từ 1198-1210, Galicia-Volyn vào năm 1210Ovruch từ năm 1210-1218 cho đến lúc qua đời.[472]

Công quốc Zvenigorod[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1208, Roman II Igorevich chuyển từ Zvenigorod sang Halych thay thế người anh trai Vladimir Igorevich, ông làm được điều này đều nhờ sức mạnh của quân đội Hungary, lúc đó Zvenigorod không có người cai trị mà được quản lý trực tiếp trở thành một phần của công quốc Halych.[473] Chỉ ít lâu sau, người Hungary và Roman II Igorevich nảy sinh mâu thuẫn nên đã đưa quân đến bắt ông, Andrew II tự xưng làm công tước Halych.[474] Năm 1210, Roman II Igorevich trốn thoát khỏi Hungary, ông giảng hòa với Vladimir Igorevich, họ thực hiện chế độ cộng trị, tuy nhiên Roman II Igorevich không ở Halych mà quay trở lại làm công tước Zvenigorod, một năm sau ông bị treo cổ khi liên quân Ba Lan-Hungary kéo sang.[475]

Công quốc Czernicóvia[sửa | sửa mã nguồn]

Mikhail Vsevolodovich

Năm 1226, Olegue III lên làm công tước, chấm dứt thời kỳ cai trị đầu tiên của Mikhail Vsevolodovich, nhưng Mikhail Vsevolodovich đã rất nhanh chóng giành lại ngôi báu.[476] Năm 1234, đến lượt Mistislau III làm gián đoạn ngai vàng của Mikhail Vsevolodovich, lần này phải đến năm 1239 Mikhail Vsevolodovich mới khôi phục được quyền lực.[477] Tuy nhiên, Rostislau III đã không để Mikhail Vsevolodovich được toại nguyện khi tiến hành bạo loạn chỉ mấy tháng sau, trong chớp nhoáng đã cướp mất cơ đồ của Mikhail Vsevolodovich.[478] Năm 1241, Mikhail Vsevolodovich mới lật ngược thế cờ để làm chủ Czernicóvia lần thứ tư, nhưng cho đến lúc đó, quyền lực của ông không an toàn, ông cần phải tỏ lòng kính trọng với người Mông Cổ để lấy lại địa vị không thể tranh cãi.[479] Mikhail Vsevolodovich cũng là nhân vật nổi bật ở đại công quốc Nga Kiev trong ba lần lên ngôi tại xứ sở này: (1238-1239)(1239-1240)(1241-1243), cả ba lần đều đan xen với thời kỳ hỗn tạp tại Czernicóvia trong cùng thời điểm.[480]

Công quốc Turov[sửa | sửa mã nguồn]

Sviatoslav III

Năm 1132, Vyacheslav I đánh mất ngôi vị bởi Vsevolod Mstislavich (người đang cai trị công quốc Pereslavl thời điểm đó, được người chú là Yaropolk II Vladimirovich ủng lập), nhưng chỉ sau đó ít lâu, Iziaslav II Mstislavich đã trục xuất Vsevolod Mstislavich khỏi cả hai công quốc mà độc chiếm ngôi vị.[481] Năm 1134, Iziaslav II Mstislavich nhường lại ngai vàng của hai công quốc này cho Vyacheslav I tiếp quản, tuy có gián đoạn lần nữa vào năm 1142 bởi Sviatoslav III tiếm vị nhưng ngay sau đó Vyacheslav I kịp thời đã giành lại quyền kiểm soát công quốc Turov.[482]

Năm 1142, Sviatoslav III (công tước xứ Novgorod) lật đổ Vyacheslav I, cướp được chính quyền về tay mình, nhưng ông không giữ nổi vì chỉ mấy tháng Vyacheslav I đã nhanh chóng phục bích.[483] Sviatoslav III dời sang công quốc Volyn cầm quyền ở đây, đến năm 1154 nhân tình hình chính trị ở Turov hỗn loạn ông xâm nhập trở lại, tuy nhiên ông cũng chỉ trụ được khoảng hơn một năm thì lại bị bật bãi bởi Boris Yurevich.[484] Kế tiếp, Vyacheslav I còn làm công tước ở Novgorod-Seversky (1157-1164), Chernihiv (1164-1180) và ba lần ở Đại công quốc Nga Kiev (1174)(1176-1181)(1181-1194).[485]

Năm 1170, Ivan Yuryevich Turovsky đã giúp Hoàng tử Mstislav Izyaslavich chiếm ngôi vua Kiev, do đó ông bị lật đổ theo lệnh của Đại công tước Vladimir Andrei Yuryevich Bogolyubsky, Svyatopol Yurievich được đưa lên thay thế.[486] Năm 1190, Svyatopol Yurievich qua đời, em trai là Gleb Yurievich (công tước xứ Dubrovitsky) kế nhiệm chức vụ này cho đến năm 1195 thì mất, Ivan Yuryevich Turovsky nhờ đó quay lại ngai vàng.[487]

Công quốc Lodomeria[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1189, Vsévolod II Mstislávich thay Roman đại đế cai quản công quốc Lodomeria, nhưng không lâu sau đó Roman đại đế đã quay trở lại vì ông bị quân đội Hungary đánh bật khỏi Halych.[371]

Công quốc Pereiaslav-Khmelnytskyi[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Volodymyr-Volynskyi[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Tmutarakan[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Izyaslavlski[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Chernihiv[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Murom[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Minsk[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Smolensk[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc SmolenskĐại công quốc Nga Kiev[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Putyvl[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Vladimir[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng thượng chúa Novgorod Đại đế[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Vitebsk[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1162, Vseslav Vasilkovich dời khỏi Vitebsk, ông lên nắm quyền ở công quốc Polotsk trong cuộc đấu tranh giữa Rogvolod BorisovichRostislav Glebovich, Roman Vyacheslav tiếp quản công việc.[488] Năm 1165, David Rostislavich (công tước xứ Smolensk) kế tục Roman Vyacheslav cai trị Vitebsk, đến năm 1168 thì đến lượt Briachislav Vasilkovich lần thứ nhất ngôi trên ngai vàng. Năm 1175, Vseslav Vasilkovich quay lại Vitebsk trị vì cho đến năm 1178, sau đó ông lại đến Polotsk.[489] Năm 1180, ông về Vitebsk cầm quyền lần thứ ba, đóng vai trò đồng cai trị cùng với Briachislav Vasilkovich một năm, sau đó từ năm 1181 một mình cai quản công quốc này cho đến khi qua đời.[490]

Năm 1175, khi Vseslav Vasilkovich quay về Vitebsk, Briachislav Vasilkovich đã chủ động từ nhiệm.[491] Nhưng đến năm 1178, Vseslav Vasilkovich lại chuyển qua Polotsk, ông lên ngôi lần thứ hai.[492]

Công quốc Drutsk[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1129, Đại công tước Nga Kiev Mstislav Vladimirovich Đại đế thực hiện một chiến dịch chống lại Polovtsy và ra lệnh cho các nước chư hầu tham gia, nhưng Rogvolod-Vasily Borisovich đã từ chối bằng những lời chế giễu.[493] Hơn nữa, khi Mstislav Vladimirovich Đại đế đang chiến đấu với Polovtsy, Rogvolod-Vasily Borisovich đã đưa quân đánh nhau với Davyd Vseslavich (công tước xứ Polotsk) và tấn công tài sản của những người thân của Mstislav Vladimirovich Đại đế.[494] Sau khi trở về từ chiến dịch, Mstislav Vladimirovich Đại đế gửi quân qua Drutsk, kết quả Rogvolod-Vasily Borisovich bị bắt sống, và đưa đến Kiev. Năm 1130, theo phán quyết của tòa án, Rogvolod-Vasily Borisovich cùng với gia đình bị tước quyền thừa kế, bị gửi đến Byzantium lưu đày.[495] Năm 1140, dưới sự cho phép của tân Đại công tước Nga Kiev Yaropolk Vladimirovich, Rogvolod-Vasily Borisovich được phóng thích hồi hương, một lần nữa nhận quyền cai quản công quốc Drutsk.[496] Năm 1143, Rogvolod-Vasily Borisovich kết hôn với con gái của một trong những người con trai của Mstislav Vladimirovich Đại đế, Izyaslav Mstislavich, nhờ cuộc hôn nhân này mà vào năm 1144, sau cái chết của Vasilko Svyatoslavich, ông đã có thể chuyển qua ngồi ở vị trí công tước xứ Polotsk.[497] Năm 1151, Rogvolod-Vasily Borisovich mất ngôi do cuộc bạo động của dân chúng Polotsk, ông bị công tước xứ Minsk là Rostislav Glebovich bắt giữ, ít lâu sau ông ra tù rồi trú ẩn ở Chernigov. Năm 1158, Rogvolod-Vasily Borisovich được dân chúng chào đón trở về Drutsk, nhưng chỉ một năm sau ông lại chuyển sang Polotsk làm công tước lần thứ hai sau sự ra đi của Rostislav Glebovichi, Gleb Rogvolodovich lên thay ông.[498] Năm 1162, Rogvolod-Vasily Borisovich hưng binh bao vây Gorodets, nhưng đối thủ chính của ông, Volodar Glebovich trong đêm, với sự giúp đỡ của người Litva, đã thực hiện một cuộc tấn công từ thành phố và đánh bại quân đội của Rogvolod-Vasily Borisovich.[499] Ông bỏ trốn đến Slutsk và từ đó chạy về Drutsk lên ngôi lần thứ tư ở đây, quyết định không trở lại Polotsk nữa, dân chúng Polotsk tôn lập Vseslav Vasilkovich thay thế địa vị của ông.[500]

Năm 1151, Gleb Rostislavich lên làm công tước xứ Drutsk thay cho Gleb Rogvolodovich.[501] Năm 1158, Rogvolod-Vasily Borisovich về nước làm công tước lần thứ ba, nhưng chỉ năm sau thì chuyển đến Polotsk, và Gleb Rogvolodovich lên ngôi lần thứ hai.[502] Năm 1162, Gleb Rogvolodovich từ nhiệm khi cựu công tước Rogvolod-Vasily Borisovich trở lại phục tịch. Năm 1171, Rogvolod-Vasily Borisovich mất, Gleb Rogvolodovich lại lên ngôi lần thứ ba.[503]

Công quốc Polotsk[sửa | sửa mã nguồn]

Vseslav II Briacheslavich
Davyd Vseslavich (trái)

Năm 1067, lực lượng quân đội của đế quốc Ba Tư đã hành quân về phía bắc, họ tổ chức cướp phá Minsk (lúc đó dưới sự kiểm soát của Polotsk) và đánh bại Vseslav II Briacheslavich trong trận chiến trên sông Nemiga vào ngày 3 tháng 3.[504] Vseslav II Briacheslavich bỏ chạy, nhưng sau đó bị bắt một cách tàn nhẫn trong cuộc đàm phán hòa bình vào tháng 6 cùng năm, ông bị đại công tước Iziaslav I cầm tù ở Kiev.[505] Trong cuộc nổi dậy ở Kiev năm 1068, do thất bại dưới tay Kipchaks trên sông Alta và Iziaslav I không sẵn lòng chiến đấu với veche để các thành viên của nó có thể diễu hành và đối mặt với những người du mục lần thứ hai, đám đông đã giải thoát Vseslav II Briacheslavich khỏi nhà tù và tuyên bố ông là Đại công tước của Kiev, buộc Iziaslav I phải chạy trốn sang Ba Lan.[506] Trở về với một đội quân bảy tháng sau đó, Iziaslav I giành lại ngai vàng của mình và Vseslav II Briacheslavich trốn trở lại Polotsk năm 1070.[507] Sau nhiều năm đấu tranh phức tạp với Iziaslav I của Kiev, cuối cùng ông đã bảo đảm được quyền lực ở Polotsk vào năm 1071 và trị vì cho đến cuối đời.[508]

Năm 1127, Davyd Vseslavich mất ngôi bởi Boris I Vseslavich đánh úp và chiếm đoạt.[509] Năm 1128, Đại công tước Nga Kiev Mstislav I Vladimirovich đã tham chiến với Polotsk, nhờ đó phục hồi địa vị của Davyd Vseslavich, nhưng ông mất ngay vào đầu năm sau.[510]

Năm 1151, cư dân Polotsk nổi dậy chống lại Rogvolod-Vasily Borisovich, bắt ông và trao lại cho công tước Minsk Rostislav Glebovich.[511] Rostislav Glebovich giam cầm Rogvolod-Vasily Borisovich trong tù, bản thân ông ta ngồi vào vị trí công tước Polotsk, và trong gia đình của Rogvolod (Drutsk) đã trồng con trai Gleb Rostislavich.[512] Sau đó, theo yêu cầu của Đại công tước Yuri Vladimirovich Dolgoruky, Rogvolod-Vasily Borisovich đã được ra tù và tìm nơi trú ẩn ở Chernigov cùng với Svyatoslav Olgovich, một đồng minh của Yuri Vladimirovich Dolgoruky.[513] Năm 1158, cư dân của Drutsk mời ông trị vì, Rogvolod-Vasily Borisovich với sự giúp đỡ của quân đội mà Svyatoslav Olgovich đã trao cho ông, đã lái Gleb Rostislavich từ Drutsk, trả lại đất đai cho ông.[514] Việc trục xuất Gleb Rostislavich khỏi Drutsk đã gây ra cuộc chiến Minsk, Rostislav Glebovich với Rogvolod-Vasily Borisovich, Rostislav Glebovichi bao vây Drutsk, nhưng kết quả đã không thành công.[515] Cuối cùng, họ đã làm hòa, theo đó Rostislav Glebovichi đã từ chối ủng hộ từ Polotsk, và năm 1159 khi Rostislav Glebovichi rời khỏi Polotsk cũng chính là lúc Rogvolod-Vasily Borisovich trở về với cương vị cũ.[516]

Năm 1167, Volodari Grepovic của công quốc Minsk bất thình lình tấn công công quốc Polotsk, ông ta giành chiến thắng tuyệt vời một cách chớp nhoáng.[517] Vseslav Vasilkovich chạy trốn đến Vitebsk, và Volodar Grepovic dẫn quân đuổi theo ông, nhưng khi biết rằng công tước xứ Smolensk Roman Rostislavich đã gửi lực lượng vữ trang đến giúp đỡ Vseslav Vasilkovich phục bích, Volodar Grepovic đành trở về vùng đất của ông ta.[518] Năm 1175, Vseslav Vasilkovich chuyển sang công quốc Vitebsk đăng cơ lần thứ hai, đến năm 1178 ông lại trở về Polotsk trị vì lần thứ ba.[384]

liên minh hai anh em: Andrei công tước xứ Polotsk và Dmitryyuz của Bryansk phối hợp giải cứu quân đội Moscow trong Trận chiến Krykovo

Năm 1342, Andrei trở thành công tước Polotsk và giúp bảo vệ Litva chống lại các cuộc tấn công của thế lực Livonia, Polotsk rất quan trọng đối với lợi ích của Litva vì nó nằm giữa Litva và dòng Livonia.[519] Năm 1377, sau cái chết của Algirdas, Andrei với tư cách là con trai cả, đã cạnh tranh với anh trai cùng cha khác mẹ của mình là Jogaila, người mà Algirdas đã chỉ định làm người thừa kế.[520] Năm 1381, Jogaila đã cố gắng cài đặt người anh em trung thành Skirgaila của mình ở Polotsk, lãnh địa cũ của Andrei.[521] Khi Skirgaila đang bao vây thành phố nổi loạn, Kstutis và con trai Vytautas đã nhân cơ hội này để bắt đầu cuộc nội chiến Litva chống lại Jogaila và loại bỏ ông ta khỏi ngai vàng.[522] Polotsk đã tự nguyện đầu hàng Kstutis, nhờ đó Andrei được phục hồi địa vị lần thứ hai. Năm 1387, quân đội Litva do Skirgaila lãnh đạo đã tấn công Polotsk, Andrei thua liểng xiểng bị bắt sống, con trai của ông Simeon đã chết trong trận chiến, một người con trai khác Ivan trốn thoát đến Pskov.[523] Andrei bị giam cầm ở Ba Lan trong bảy năm, ông được thả ra vào năm 1394 theo yêu cầu của Vytautas. Sau khi tại ngoại, Andrei chuyển đến Pskov, nơi ông cố gắng thương lượng một thỏa thuận ngừng bắn giữa Pskov và Novgorod, tiếp đó ông trở lại Polotsk kiêm nhiệm luôn công tước cho đến khi bị thiệt mạng trong trận chiến sông Vorskla năm 1399.[524]

Công quốc PskovCộng hòa Pskov[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Pskov[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1213, Pskopichi không hài lòng với việc Vladimir Mstislavich kết giao với Giám mục thành phố Riga nên đã trục xuất ông khỏi Pskov.[525] Vladimir Mstislavich chạy đến Livonia và lưu trú trong vùng kiểm soát của Edom, giữa Riga và Wenden, vào năm 1216, ông một lần nữa làm công tước ở Pskov.[526]

Cộng hòa Pskov[sửa | sửa mã nguồn]

Andrei
Dmitry Borisovich
Konstantin Borisovich

Năm 1342, Andrei cùng với cha mình là Đại công tước Litva Algirdas và chú Kęstutis trong một cuộc chiến chống lại trật tự Livonia để giúp đỡ công quốc Pskov, người dân Pskov yêu cầu ông ở lại như một công tước của Pskov để sự hiện diện của ông sẽ đảm bảo sự hỗ trợ liên tục từ Algirdas.[527] Andrei chấp nhận, tuy nhiên, ông ở đó trực tiếp rất ngắn thì trở về Litva sau cái chết của ông chú Vainius (công tước xứ Polotsk), ông quản lý công quốc Pskov thông qua người đại diện Yuri Vitavtavicha.[528] Yuri Vitavtavicha ở lại Pskov cho đến năm 1348, năm đó, các Hiệp sĩ Teutonic đã tổ chức một chiến dịch lớn chống lại Litva. Trong trận Strėva, quân đội của Pskov đang giúp Novgorod chống lại Thụy Điển khi Dòng Livonia tấn công pháo đài Pskov ở Izboursk, Yuri Vitavtavicha chết trong vụ tấn công.[529] Vì người Litva không thể bảo vệ pháo đài, thành phố đã từ chối chấp nhận một đại diện khác của Đại công tước Litva, họ tôn Eustaphy Feodorovich làm công tước của mình. Andrei trả lời với sự trả thù: tất cả các thương nhân Pskov đã bị bắt và tài sản của họ bị tịch thu, do đó mối quan hệ thân thiện của Pskov với Litva chấm dứt.[530] Từ năm 1360-1369 là thời kỳ ngự trị của Alexander, và từ 1369-1377 đến lượt Matvei chấp chính.[531] Năm 1377, dưới áp lực của Jogaila, Andrei đã buộc phải di chuyển từ Polotsk đến Pskov, ông một lần nữa lên ngôi công tước ở đây.[532] Andrew là người đầu tiên trong liên minh với Keystut chống Jogaila, sau cái chết của Keistut tự xưng Grand Prince of Polotsk, và sau Grand Duke của Nga, với thủ đô nằm ở Polotsk.[533] Năm 1387, Andrei đã bị bắt bởi Jogaila, chịu sự kìm kẹp tại một trong những lâu đài ở Ba Lan, ông trở lại làm công tước của cả hai xứ Polotsk và Pskov năm 1394 cho đến khi tử chiến nơi sa trường năm 1399, cộng hòa Pskov cáo chung từ đó[534]

Công quốc Rostov[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1286, sau tám năm đồng cai trị công quốc Rostov cùng anh trai Konstantin Borisovich, theo sự chỉ đạo của Khan Tud-Mengu, giữa Dmitry Borisovich và anh trai của ông, có một phần trong bản vẽ của công quốc Rostov, Dmitry Borisovich đã đến Uglich, còn anh trai Konstantin Borisovich ở lại một mình cầm quyền ở Rostov.[535] Trước đó, vào năm 1285, công tước Roman Vladimirovich của Uglich chết mà không có người nối dõi, Dmitry Borisovich đã kiêm nhiệm công việc ở đây.[536] Năm 1288, Dmitry Borisovich và anh trai của mình có một cuộc trao đổi thừa kế: theo đó Dimitri Borisovich quay về Rostov phục tịch, và Konstantin Borisovich lại chuyển qua Uglich.[537]

Năm 1288, sau khi thất thế trước Dmitry Borisovich, theo thỏa thuận giữa hai anh em, Konstantin Borisovich trao ngôi vị công tước ở Rostov cho Dmitry Borisovich, ông chuyển đến cai trị xứ Uglich.[538] Năm 1294, Dmitry Borisovich qua đời, ông lại quay về làm công tước Rostov, Alexander Konstantinovich tiếp quản công quốc Uglich.[539]

Công quốc Tver[sửa | sửa mã nguồn]

Alexander I
Konstantin

Năm 1327, một viên tướng là anh họ của Khan Kim Trướng là Baskaki Shevkal đem quân tràn vào cướp phá công quốc Tver, đại công Alexander I đã chỉ huy quần chúng đánh tan đạo quân Khan Kim Trướng xâm lược.[540] Lúc đó, đại công Moskwa là Ivan I, anh trai của đại công bị người Tver giết chết là Iuri, đã lên đường sang đất Hãn quốc Kim Trướng để xin văn bản cho phép hoạt động của Khan Hãn quốc Kim Trướng, đồng thời Hãn quốc Kim Trướng cử 5 vạn quân sang trừng phạt Tver.[541] Biết tin này, Alexander I dẫn gia đình hoàng gia chạy trốn qua Novgorod, rồi Pskov. Nhưng tại Pskov, gia đình Alexander I bị quân Hãn quốc Kim Trướng đuổi theo rất ngặt và đội quân của Ivan I bao vây gắt, ông lại phải chạy trốn sang Lithuania và sau đó đến Thụy Điển. Bị vua Thụy Điển từ chối, Alexander I lại trở về Pskov nương náu dưới sự bảo trợ của Gediminas, Đại công của Lithuania.[542] Bấy giờ, hai người em trai của ông là Konstantin Mikhailovich và Vasily đang trú ở Ladoga, triều đình Tvers do vậy khuyết ngôi đại công gần 1 năm. Năm 1328, Konstantin trở về nước và cùng với Ivan I đến triều kiến Hãn vương Kim Trướng, Konstantin được phép nối ngôi đại công Tver. Về phần Aleksandr I, không dám về trình diện Hãn, vì ông đã giết người thân và tùy tùng của Hãn vương.[543] Năm 1335, Alexander I gửi con trai của ông, Fyodor, đến Hãn quốc Kim Trướng để cầu xin sự tha thứ. Năm 1337, cựu đại công Tver đích thân sang Hãn quốc Kim Trướng để xin thần phục Khan, Uzbeg Khan, ít nhất trong một thời gian, khi biết sự việc được tâu lại, đã tha thứ kẻ thù cũ của mình và đưa Đại công trở về Tver vào năm 1338.[544]

Năm 1338, Hãn vương Kim Trướng Uzbeg Khan tha thứ và cho phép Konstantin được đón anh trai về, đổi lại Konstantin sẽ làm chư hầu của Hãn vương mãi mãi, lúc Aleksandr I trở lại cũng là thời điểm Konstantin thoái vị.[545] Tuy nhiên, cuộc phục bích của Aleksandr I cũng chỉ duy trì trong thời gian ngắn, năm 1339 Konstantin trở lại ngôi vị Đại công Tvers sau khi anh trai và cháu trai đều bị Hãn vương bắt và giết chết vì tội vu khống Ivan Kalita.[546]

Đại công quốc Ryazan[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1371, Oleg II đã bị quân đội phía Dmitry Ivanovich Donskoy đánh bại dưới sự chỉ huy của Hoàng tử Dmitry Mikhailovich Bobroka-Volynsky trong trận chiến Skornishchevo, hoàng tử Vladimir Pronsky một đồng minh của Dmitry Mikhailovich Bobroka-Volynsky được đưa lên làm đại công.[547] Năm 1372, Oleg II phái sứ thần sang cầu viện sự giúp đỡ của Tatra Murza Solokhmir, Solokhmir cất quân tấn công, phối hợp với lực lượng nòng cốt vẫn nằm vùng của Oleg II, kết quả đã trục xuất Ryazan House Vladimir Pronsky khỏi Pereslavl và giành lại đại công quốc Ryazan.[548]

Vladimir Konstantinovich
Vasily Demitryvich Kirdyapa

Công quốc Nizhny Novgorod[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1387, Tokhtamysh (Khan của Blue Horde) giải phóng Vasily Demitryvich Kirdyapa và cho phép ông cai trị Gorodets. Với sự hỗ trợ quân sự từ phía Moscow, Vasily Demitryvich Kirdyapacha đã buộc chú mình là Vladimir Konstantinovich rời khỏi Nizhny Novgorod bỏ chạy đến Gorodets.[549] Tuy ở Gorodets, nhưng Vladimir Konstantinovich vẫn không từ bỏ ý tưởng chiếm hữu Nizhny Novgorod. Sau cái chết của Dmitry Ivanovich Donskoy năm 1389, ông đã đến Horde để tìm kiếm sự hỗ trợ quân sự về việc giành lại Nizhny Novgorod.[550] Không tìm thấy Tokhtamysh ở Horde, vì vị khan này đã đến biên giới Ba Tư để chiến đấu với Tamerlan, Vladimir Konstantinovich lập tức đuổi theo bắt kịp Tokhtamysh trên đường. Hai người cùng hành quân trở lại, cuối cùng đã đánh bại Vasily Demitryvich Kirdyapa để khôi phục địa vị công tước Nizhny Novgorod cho Vladimir Konstantinovich.[551]

Năm 1391, Vasily Demitryvich Kirdyapa bị chú là Vladimir Konstantinovich đánh đuổi khỏi Nizhny Novgorod. Năm 1393, Vladimir Konstantinovich qua đời, Vasily Dmitriyevich thừa cơ một lần nữa chiếm Nizhny Novgorod.[552] Nhưng Vasily I, đại công tước của Moscow đã xuất binh đánh đuổi Vasily Dmitriyevich và lấy được ấn tín của Nizhny Novgorod, công quốc Nizhny Novgorod từ đó bị xóa sổ trên vũ đài lịch sử, chính thức sáp nhập vào đại công quốc Moscow.[553] Nizhny Novgorod đã được Khan Kim Trướng trao cho Vasili I mà làm ngơ không can thiệp, lý do để đổi lấy sự đồng thuận của Moscow nhằm giúp Khan Kim Trướng chống lại một trong những đối thủ của mình.[554]

Đại công quốc Moskva[sửa | sửa mã nguồn]

Vasili II

Năm 1425, sau khi Vasily I qua đời, người chú ruột của Vasili II là Yuri của Zvenigorod đã cố gắng giành được ghế của Đại công tước Moscow bằng cách tự tuyên bố lên ngôi, chỉ vì sự can thiệp của từ ông ngoại Vytautas của Vasily II mà ông không thể thành công. Năm 1433, Yuri cử sứ giả đến xin Khan Kim Trướng cho phép mình được cai trị Moskwa. Không được Khan ủng hộ, Yuri dẫn quân đội bất ngờ tấn công Moskwa. Ở kinh thành, Vasili II đưa quân kháng cự quyết liệt, bị Ivan Vsevolzhsky phản bội, quân của Vasili II thất thủ và bản thân ông bị chú mình bắt sống. Được Khan công nhận ngôi vị, Yuri đày cháu trai đến an trí tại thị trấn Kolonma. Ngay khi đến nơi, Vasili II bắt đầu tập hợp lực lượng chống lại kẻ cướp ngôi. Cảm thấy không an toàn về ngôi vị của mình, Yuri lập tức ký hiệp ước với cháu trai rồi rời ngôi vị vào năm 1434 để trở về phương Bắc. Thế nhưng, các con trai của Yuri là Vasily Cross-Eyed và Dmitry Shemyaka muốn giành lại ngôi Đại công Moskwa về cho cha mình, vì vậy Vasili II vừa mới yên vị được vài tháng, họ ngay lập tức mở cuộc tấn công vào kinh thành, họ đánh bại Vasili II và buộc ông phải tìm kiếm nơi ẩn náu trong Hãn quốc Kim Trướng.[555] Sau khi Yuri qua đời năm 1434, Vasili Cross-Eyed bước vào điện Kremlin và được công bố là Đại công mới. Tuy nhiên Dmitry Shemyaka, người đang có kế hoạch muốn chiếm ngôi của anh trai, đã cãi nhau quyết liệt với Vasili Cross-Eyed và quyết định liên minh với Vasily II. Liên minh Vasili II - Dmitry Shemyaka đã trục xuất Vasily Cross-Eyed ra khỏi Kremlin vào năm 1435, Dmitry Shemyaka được Vasili II thưởng công bằng các thị trấn UglichRzhev nên chấp nhận trở về phương Bắc. Năm 1439, Vasili II phải trốn khỏi thủ đô khi kinh thành bất ngờ bị quân Kazan do Khan Ulugh Muhammad chỉ huy vây hãm.[556] Năm 1445, Vasili II đưa quân về kinh chống lại Ulugh Muhammad, nhưng đã bị đánh bại và bắt giam, triều đình Moskwa phải trả một khoản tiền chuộc lớn để thả Vasili II ra sau 5 tháng bị cầm tù.[556] Trong thời gian Vasili II bị cầm tù, Dmitry Shemyaka nhân cơ hội tiến quân vào kinh thành Moskwa tự mình lập làm Đại công. Khi Vasili II được phóng thích, Dmitry Shemyaka do thiếu sự hỗ trợ của các quý tộc vương công đã thất thế buộc lòng phải rời khỏi thành phố để đến Hồ Chukhloma, nhưng anh ta tiếp tục nhấn nút yêu sách của ông cho ngai vàng lớn. Năm 1446, Dmitry Shemyaka tái chiếm Moskwa để trở thành Đại công lần thứ hai, ghi nhớ số phận của anh trai mình, Dmitry Shemyaka đã xua quân truy sát đánh đuổi và buộc Vasili II phải chạy trốn khắp nơi trong tình trạng bị mù. Nhờ nguồn gốc hoàng gia, năm 1447, Vasili II khôi phục trở lại nhanh chóng tập hợp lực lượng và tấn công vào kinh đô, trận đánh quyết định giữa hai bên đã diễn ra ở Galich-Mersky vào năm 1450, kết quả là Vasili II chiến thắng và kẻ thua cuộc bị đầu độc chết trong cung điện.[557]

Yuri
Dmitry Shemyaka

Năm 1425, lợi dụng cháu mình là tân Đại công Vasily II còn nhỏ tuổi mới lên cầm quyền, Yuri của Zvenigorod (Hoàng tử của Galich-Mersky) nắm lấy cơ hội để tự tuyên bố của mình lên ngôi Đại công. Biện minh cho tuyên bố tự lên ngôi này, Yuri viện dẫn "Cẩm nang Dmitry Ivanovich Donskoy" viết rằng, khi Vasili I vừa băng hà thì Yuri của Zvenigorod sẽ được lên kế vị ngôi Đại công. Nhưng Dmitri viết Cẩm nang này khi Vasili, con trai của ông không có con trai còn sống; điều này suy ra Cẩm nang này chỉ được thi hành khi Vasili không có con thừa kế. Nhận thức sức mạnh của quyển cẩm nang "kế vị" do cha minh để lại đã bị các vương công lợi dụng để tranh đoạt quyền lực, Vasili đã sinh ra được con trai út cùng tên mình để phá vỡ âm mưu này.[558] Vasili II được mẹ mình và nhất là ông ngoại Vytautas (Đại công Litva) giúp đỡ để giữ vững vương quyền, Yuri đành rút lui. Khi Vytautas bất ngờ qua đời năm 1430, Yuri dẫn quân đội tấn công Moskwa, quân của Vasili thất thủ và Vasili II bị chú mình bắt sống năm 1433, Yuri đày cháu trai đến an trí tại thị trấn Kolonma.[559] Nhưng hàng loạt quý tộc Muscovite đã chạy trốn đến Kolomna theo về Vasili II, sự thay đổi trong động lực này đã thúc đẩy Yuri ký kết một hiệp ước với Vasili II, theo đó, người chú đã từ bỏ yêu sách của mình với Moscow, hứa sẽ từ chối hỗ trợ cho các con trai của ông ta và trao đổi Dmitrov cho các lãnh thổ khác. Nhờ đó Vasili II trở về Moscow, trong khi Yuri rút về Galich. Năm 1434, các con trai của Yuri không cam tâm lại đem binh tấn công đánh bại Vasili II và buộc ông phải tìm kiếm nơi ẩn náu trong Hãn quốc Kim Trướng, Yuri được đưa trở lại làm Đại công.[560]

Năm 1445, Dmitry Shemyaka lợi dụng kinh thành Moscow vô chủ đã đưa quân chiếm đóng để tự mình xưng làm Đại công. Năm tháng sau, Vasili II quay trở lại giành lấy ngai vàng. Đến năm 1446, Dmitry Shemyaka tái chiếm Moscow lần nữa nhưng cũng chỉ hơn một năm thì bị Vasili II đánh bật khỏi thành phố này, sau đó Dmitry Shemyaka và Vasili II còn giao chiến nhiều lần nữa cho đến khi bị đánh bại hoàn toàn vào năm 1450.[561]

Ivan Lôi Đế

Sa quốc Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 10 năm 1575, do quá bận với cuộc chiến tranh Livonia, Ivan Lôi Đế trực tiếp cầm quân ra chiến trường, giao quyền lãnh đạo nước Nga cho Simeon II Bekbulatovich (một vị Khan của quốc gia Qasim và đã từng tham gia quân đội Nga dưới thời gian Ivan Lôi Đế còn đang làm đại vương công Moskva 1533-1547).[562] Simeon II Bekbulatovich lên ngôi, tự coi mình là "Ivan của Moscow", trong thời gian một năm cai trị của mình tại điện Kremlin, Simeon II Bekbulatovich kết hôn với Anastasia Mstislavskaya, cháu gái của Ivan III vĩ đại.[563] Năm 1576, Simeon II Bekbulatovich tuyên bố thoái vị, ông được Sa hoàng Ivan IV bổ nhiệm làm công tước của Tver và Torzhok.[564]

Các Hãn quốc của người Mông Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Hãn quốc Kim Trướng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1368, Hassan Khan đánh đuổi Abdullah Khan ibn Uzbeg ra khỏi Sarai.[565] Nhưng ông này chưa ổn định được tình hình thì năm 1369, Abdullah Khan ibn Uzbeg đã đem quân về phản kích lấy lại được Sarai.[566]

Năm 1372, thủ đô Sarai bị Urus Khan đánh chiếm và Muhammad Bolaq buộc phải trốn chạy đến Mamaia ở Crimea.[567] Nhưng lợi dụng lúc Urus Khan đang mải mê hành quân về phía đông vào năm 1374, Circassian đã xâm nhập Sarai, nhưng Muhammad Bolaq đã đánh úp Circassian và được tuyên bố là Golden Horde khan vào năm 1375.[568] Chẳng mấy chốc, Urus Khan trở về từ phía đông và chiếm giữ Sarai trong một tháng, nhưng không thể có được chỗ đứng, Muhammad Bolaq một lần nữa chiếm lấy thủ đô và đoạt lại ngai vàng của Khan.[569]

Năm 1374, Urus Khan đánh mất danh hiệu Khan ở Sarai-Berke khi ông đang triển khai hoạt động ở phía đông.[570] Khi ông đưa quân trở về Sarai-Berke, thì đối thủ của ông, Muhammad Bolaq đã cai trị ở đó. Năm 1375, sau nhiều cuộc chiến đấu đẫm máu, Urus Khan đánh đuổi được Muhammad Bolaq để lại trở thành Khan của Golden Horde.[571] Tuy nhiên, ngay sau đó, đã Muhammad Bolaq tìm cách giành lấy Sarai-Berke và đẩy Urus Khan tới Sygnak.[572]

Năm 1421, trong khi Dawlat Berdi và Ulugh Muhammad còn đang mải tranh quyền đoạt lợi với nhau lúc chiến lúc hòa, thì Baraq Khan của Golden Horde bất ngờ mở cuộc tấn công.[573] Ông chạy trốn ra ngoại ô Crimea lập căn cứ địa ở đó mưu tính chuyện khôi phục, sau vụ ám sát Baraq Khan năm 1427, Dawlat Berdi tự lập làm vua ở Crimea.[574]

Ulugh Muhammad đem quân xâm nhập Múrom

Năm 1422, Baraq Khan của Golden Horde đã đánh bại Ulugh Muhammad cùng Dawlat Berdi và đuổi cả hai ra khỏi đất nước. Trong khi Dawlat Berdi vẫn lưu trú ở ngoại ô Crimea, thì Ulugh Muhammad trốn đến Đại công quốc Litva và cầu xin sự giúp đỡ từ Vytautas Đại đế.[575] Với sự giúp đỡ này, Ulugh Muhammad đã có thể hành quân đến Sarai, đánh bại Baraq Khan vào năm 1426. Sau khi giành lại quyền kiểm soát Khanate, Ulugh Muhammad đã hành quân đến Crimea, nơi Dawlat Berdi đã tự tái lập sau thất bại và cái chết của Baraq Khan năm 1428.[576] Sau một loạt các cuộc giao tranh thiếu quyết đoán, cuộc xâm lược của ông đã bị cắt ngắn do cái chết của Vytautas, khiến Ulugh Muhammad phải tập trung lực lượng của mình vào Litva, nơi ông ủng hộ Sigismund Kęstuta viêm chống lại Švitrigaila trong cuộc chiến giành ngai vàng Litva. Svitrigaila lần lượt ủng hộ Dawlat Berdi và sau đó là Sayid Ahmad I, cũng như Vasili II của Moscow. Ulugh Muhammad mất quyền kiểm soát Golden Horde năm 1436, trốn sang Crimea, cãi nhau với Crimeans, lãnh đạo một đội quân 3000 người ở phía bắc và chiếm thị trấn biên giới Belyov.[577] Năm 1437, Vasily II đã gửi 40000 người dưới thời Dmitry Shemyaka chống lại Ulugh Muhammad, người đã bị đánh bại. Trong cùng năm đó, ông chuyển đến Volga và năm 1438 đã chiếm được Kazan, tách nó ra khỏi Golden Horde thành một quốc gia riêng biệt.[578]

Năm 1426, Barak Khan bị đánh bại bởi Ulugh Muhammad, ông buộc phải rút lui về Đông Desht Barak, cố gắng duy trì đế chế của mình với việc tấn công người bảo trợ cũ là Ulugh Beg. Đúng ra Barak Khan đã có thể đánh bại Ulugh Beg, nhưng Shahrukh Mirza đã giúp Ulugh Beg khiến Barak Khan đành chịu thất thế.[567] Barak Khan đã tìm cách khuất phục các đối tượng của mình và năm 1427 chiếm lại được Sarai, Mohammed giữ quyền lực ở Bulgaria và Khadzhitarkhan.[569] Ngay sau đó, Barak Khan đã bị tấn công bởi một hoàng tử Crimea khác Davlet-Birdi (người thân của ông ta, Haji Giray, thành lập Khanean Crimean năm 1449), nhưng chỉ trong vài ngày, Barak Khan đã quay trở lại phá tan thế lực rồi giết chết Devlet-Birdi.[568] Tuy nhiên, cuộc chiến với Devlet-Berdi đã làm cạn kiệt lực lượng Barak Khan, và cuối cùng ông bị Ulugh Muhammad đẩy về phía đông từ Volga. Chung cuộc, ông bị GhaziNaurus, anh em nhà Mansur báo thù hành quyết tại Mogulistan năm 1428.[579]

Ali ibn Ibrahim
Muhammad Amin ibn Ibrahim
Shahghali

Hãn quốc Kazan[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1479, Ibrahim băng hà, đảng thân Nga ủng hộ Muhammed Amin ibn Ibrahim 10 tuổi trong khi đảng đông hoặc chống Nga muốn anh trai cùng cha khác mẹ Ali ibn Ibrahim, Ali ibn Ibrahim lên ngôi với sự giúp đỡ của Nogai và Muhammed Amin ibn Ibrahim sợ hãi chạy trốn đến Moscow.[580] Năm 1482, Ivan III đã gửi một đội quân chống lại Ali ibn Ibrahim, nhưng một sự sắp xếp đã được thực hiện và quân đội Nga rút lui.[581] Năm 1484, một đội quân khác được gửi đến, lần này Ali ibn Ibrahim bị phế truất và Muhammad Amin ibn Ibrahim lên ngôi.[582] Do Muhammad Amin ibn Ibrahim còn quá trẻ để trở thành một người cai trị hiệu quả nên chưa đầy một năm sau, Ali ibn Ibrahim trở lại ngai vàng với sự hỗ trợ của quân đội Nga.[583]

Năm 1485, Muhammad Amin ibn Ibrahim mất ngôi bởi Ali ibn Ibrahim được người Nga ủng lập trở lại, ông sang Moscow định cư.[584] Năm 1487, một nhóm quý tộc của Kazan đã gửi thư cho Ivan III nói rằng: ""chúng tôi đã thả Muhammad Amin ibn Ibrahim cho ngài trong trường hợp nếu Ali ibn Ibrahim phạm lỗi với chúng tôi, ngài sẽ để Muhammad Amin ibn Ibrahim quay lại với chúng tôi. Khi Ali ibn Ibrahim phát hiện ra điều này, ông ta hỏi một bữa tiệc nơi cố gắng giết chúng tôi, nhưng chúng tôi chạy đến thảo nguyên".[585] Ivan III liền gửi một đội quân khác đến Kazan, Kazan bị bao vây, Ali ibn Ibrahim bị bắt và đày đến Vologda và chết ở đó, Muhammad Amin ibn Ibrahim đăng cơ lần thứ hai.[586] Năm 1495, nhờ sự hỗ trợ từ cuộc đảo chính của Qarachi Qol Muhammad, Mamuq, một Shaibanid từ khanate Siberia, đã kéo quân xâm nhập Kazan.[587] Muhammad Amin ibn Ibrahim kêu gọi cho một đội quân Nga và Mamuq đành phải rút lui, nhưng khi người Nga về nhà, Mamuq lại kéo sang chiếm giữ Kazan, Mohammad Amin ibn Ibrahim đã trốn sang Moscow.[588] Năm sau, khi Mamuq trở về từ một cuộc đột kích vào Arsk, thành phố đã đóng cổng và Mamuq buộc phải quay trở lại Siberia.[589] Lần này, qarachi và đặc biệt là Qol Axmat đã phản đối sự trở lại của Muhammad Amin ibn Ibrahim, với lý do "lạm dụng và thiếu trung thực với phụ nữ", ngai vàng được trao cho người em trai Ghabdellatif của ông.[590] Năm 1502, Ghabdellatif bị đế quốc Nga và các phe phái địa phương xóa bỏ, Muhammad Amin ibn Ibrahim được quân đội Nga đem về nước lên ngôi lần thứ ba.[591]

Năm 1521, Shahghali mất chức, Sahib I Gerai lên thay thế. Sau nhiều năm tham gia quân đội, rồi có thời kỳ bị giam cầm, Shahghali trở lại Kassimov, ông lên ngôi lần thứ hai ở đây vào năm 1536.[592] Năm 1546, với sự giúp đỡ của Đại sứ của Đại công tước Eustathius Andreev, Shahghali đã lên ngôi ở Kazan lần thứ hai trong một thời gian ngắn, nhưng chính quyền chưa vững chãi đã bị Safa Giray trục xuất.[593] Năm 1549, Safa Giray bất ngờ qua đời một cách không rõ ràng, con trai Utyamysh-Giray mới hai tuổi lên cầm quyền, Suyumbike làm nhiếp chính.[594] Nhân cuộc nổi loạn của giới quý tộc Kazan chống lại Crimea năm 1551, Shahghali trở lại Kazan lần thứ ba lật đổ Utyamysh-Giray, nhưng cũng chỉ hơn một năm, theo yêu cầu của Ivan khủng khiếp, ông lại rút lui.[595]

Năm 1531, Safa Giray bị giới quý tộc Kazan trục xuất, Dzhan-Ali khan ngồi vào ngai vàng ở đây.[596] Năm 1536, Safa Giray giành lại ngai vàng khan ở thành phố Kazan với sự giúp đỡ của quân đội Crimea, ông kết hôn với Suyumbike, vợ của Dzhan-Ali khan, người đã cướp ngôi mình.[597] Vào đầu năm 1546, do tình trạng bất ổn phổ biến, Safa Giray buộc phải nghỉ hưu ở Nogai Horde cho cha vợ của mình, Biy Yusuf, Shahghali từ Kassimov kéo quân sang chiếm đóng Kazan.[598] Vào tháng 7 năm 1546, với sự giúp đỡ của quân đội Nogai Horde, do con trai của Biy Yusuf lãnh đạo, Safa Giray đã giành lại Kazan, Shahghali trốn sang Moscow.[599]

Hãn quốc Kassimov[sửa | sửa mã nguồn]

khu lăng mộ của Shahghali

Năm 1518, Shahghali được mời đến ngự trị ngai vàng của Hãn quốc Kazan bởi tầng lớp quý tộc đứng đầu là Bulat Shirin, ông bàn giao Hãn quốc Kassimov cho anh trai Dzhan-Ali khan.[600] Bối cảnh mà Shahghali ngồi trên ngai vàng xảy ra trong sự khăng khăng của Moscow, lúc đó đại sứ Nga Fyodor Karpov và thống đốc Vasily Yurievich Podzhogin, người đã đến Kazan với một biệt đội quân sự, đã tham dự buổi lễ đăng cơ.[601] Đại sứ Fyodor Karpov đã tích cực can thiệp vào công việc nội bộ của khanate, thay thế chính phủ, điều này gây ra sự bất mãn với Shahghali và dẫn đến việc ông bị lật đổ vào mùa xuân năm 1521.[602] Sau đó Shahghali phục vụ trong quân đội Nga, tham gia nam chinh bắc chiến ở nhiều trận địa, ông bị kết án vì có quan hệ với Kazan vào tháng 1 năm 1533, bị đày ải đến Beloozero cho đến cuối năm 1535.[603] Tháng 1 năm 1536, Shahghali được tha thứ và nhận được một cách long trọng với người vợ Fatima, ông được phái đến trị vì ở Kassimov lần thứ hai.[604]

Hãn quốc Krym[sửa | sửa mã nguồn]

khu lăng mộ của Hacı I Giray

Năm 1456, Hacı I Giray mất ngôi bởi chính con trai mình, Hayder Khan Girai.[605] Tuy nhiên, ngay trong năm đó, Hacı I Giray đã đoạt lại ngai vàng.[606]

Năm 1456, Hayder Khan Girai nổi dậy chống lại cha mình và chiếm được ngai vàng, nhưng chỉ ít lâu sau ông đã bị buộc phải thoái vị để trao lại quyền lực cho cha.[607] Năm 1466, sau khi vua cha Hacı I Giray băng hà, ngai vàng xen kẽ giữa anh em của Hayder Khan Girai là Nur Devlet và Meñli I Giray, Hayder Khan Girai bị giam giữ trong sự giam cầm danh dự tại pháo đài Sudak của Genova.[608] Vào tháng 3 năm 1475, các quý tộc đã thay thế Meñli I Giray bằng Hayder Khan Girai, tháng 5 năm đó, người Thổ Nhĩ Kỳ đã chiếm được các cảng Genova ở bờ nam, họ đã thả Nur Devlet ra khỏi nhà tù ở Sudak và đưa ông ta lên ngôi lần thứ ba, Hayder Khan Girai yếu thế đành phải từ nhiệm.[609]

Năm 1467, Nur Devlet bị trục xuất bởi người anh em của mình Meñli I Giray, tất nhiên ông nhanh chóng lấy lại ngai vàng trong một cuộc tập kích bất ngờ.[610] Vào tháng 6 năm 1468, một phái đoàn của beys đã đến Kaffa và bầu Meñli I Giray là khan, họ và một đội biệt kích Genova diễu hành trên thủ đô cũ của Chufut-Kale và đến đầu năm 1469 Nur Devlet bị đuổi ra ngoài.[611] Ông chạy trốn đến phía bắc Kavkaz, bị truy đuổi và bắt giữ, rồi bị giam cầm trong pháo đài Sudak của Genova.[612] Năm 1475, Hayder Khan Girai được các quý tộc ủng hộ, đã chen chân vào ngôi vị lần thứ hai, nhưng sau cuộc xâm chiếm Crimea của đế quốc Ottoman, Meñli I Giray bị bắt và bị giam cầm tại Istanbul.[613] Người Thổ Nhĩ Kỳ quan tâm đến việc trục xuất người Genova hơn là cầm quyền Crimea, Nur Devlet được thả ra và trở thành khan như một chư hầu và phụ lưu của người Thổ Nhĩ Kỳ.[614] Năm 1476, lợi dụng tình huống Nur Devlet đi vắng, Janibeg (cháu trai của Ahmed Khan bin Küchük) đã xâm chiếm Crimea tự lập mình thành khan, sang năm sau, Nur Devlet đã trục xuất Janibeg để giành lại ngai vàng lần thứ tư.[615] Năm 1478, Nur Devlet lại bị mất ngôi bởi Meñli I Giray, ông chạy sang Ba Lan-Lítva, đến năm 1486 ông trở thành quân chủ của Hãn quốc Kassimov và cai trị ở đây cho đến năm 1490.[616]

Meñli I Giray chấp nhận làm chư hầu của sultan Bayezid II

Năm 1467, Meñli I Giray vừa chiếm được ngôi báu từ tay người anh em Nur Devlet thì đã bị đánh bại, ông chạy trốn đến Genova tại Kaffa.[617] Năm 1469, Meñli I Giray được một phái đoàn của beys ủng hộ, đã đánh đuổi Nur Devlet lần thứ hai để tái chiếm ngai vàng.[618] Năm 1475, Meñli I Giray bị các quý tộc phế truất, họ ủng lập Hayder Khan Girai trở lại làm khan lần thứ hai, Meñli I Giray chạy trốn đến Kaffa.[619] Ít lâu sau, đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ đem quân tấn công, Nur Devlet được phóng thích để làm khan lần thứ ba và Meñli I Giray bị bắt được đưa về Istanbul, còn Hayder Khan Girai bị buộc phải rút khỏi chính trường.[620] Từ năm 1473, Eminek trở thành người đứng đầu tộc Shirin, nơi giữ bán đảo phía đông Crimea, ông ta trở thành nhân vật quyền lực thứ hai trong cả nước và thường xuyên thù địch với Meñli I Giray.[621] Năm 1477, Eminek không hài lòng với việc cai trị của Nur Devlet, ông ta viết thư cho sultan Thổ Nhĩ Kỳ yêu cầu phục hồi Meñli I Giray.[622] Vào mùa xuân năm 1478, Meñli I Giray được thả ra và đến Crimea cùng với một hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ, Nur Devlet trốn sang Ba Lan-Litva lưu vong.[623]

Vào mùa xuân năm 1584, quốc vương Ottoman Murad III đã loại bỏ Crimean Khan Mehmed II Geray khỏi ngai vàng và bổ nhiệm em trai ông này là İslâm II Giray làm khan mới, duyên cớ vụ việc bắt đầu từ khi Mehmed II Geray từ chối tuân theo các sắc lệnh của Quốc vương, đã vậy còn đem quân bao vây thành phố Kefe.[624] Tháng năm năm đó, İslâm II Giray đổ bộ với quân đội của Janissaries Thổ Nhĩ Kỳ tràn đến Kefe, hầu hết các Murzas Crimean, dẫn đầu bởi Ali-bey Shirin, rời Mehmed II Geray và chuyển sang ủng hộ khan mới, lòng trung thành với Mehmed II Gerai chỉ còn giữ lại bởi một tộc người Mansurs.[625] Khan Mehmed II Gerai bị lật đổ, chạy trốn khỏi Kefe, dự định đến Nogai Horde để tập hợp lực lượng mới ở đó để tiếp tục cuộc đấu tranh, nhưng khi chạy đến vùng lân cận Perekop (Or-Kapa) ông ta gặp phục kích chặn lại và siết cổ đến chết.[626] Con trai Mehmed II Gerai là Saadet II Gerai quyết tâm nổi loạn để báo thù rửa hận cho cha, đứng đầu đội quân Nogais gồm 15.000 người, đã xông sâu vào bán đảo Crimea, tiếp cận Bakhchisarai và bao vây thủ đô rất gắt gao.[627] Cuộc bao vây kéo dài bảy ngày, İslâm II Giray liệu thế không cự nổi đành chạy trốn từ Bakhchisaray đến Balaklava vào ban đêm, từ nơi ông chuyển đến Kefe, người Nogais cố gắng bám đuổi ráo riết nhưng không thể bắt kịp.[628] Saadet II Gerai chiếm Bakhchisarai, thu gom toàn bộ ngân khố của Khan, tuyên bố phế truất İslâm II Giray, tự xưng là khan mới.[629] İslâm II Giray chạy sang đế quốc Ottoman ở Istanbul nhờ sự hỗ trợ quân sự trong cuộc chiến chống lại cháu trai của mình, sultan Murad III ra lệnh cho Kefin Bey dẫn quân cứu viện.[630] Saadet II Gerai thấy tình hình bất ổn đã chủ động điều binh bao vây pháo đài Kefah của Thổ Nhĩ Kỳ, nơi Khan İslâm II Giray bị lật đổ, cuộc bao vây kéo dài hai tháng rưỡi, chiến sự giằng co bất phân thắng bại.[631] Mùa thu năm đó, một đội quân Thổ Nhĩ Kỳ đã đến Kefe, quân đội Nogai núng thế đã buộc phải rút lui khỏi Kefe, trong trận chiến khốc liệt ở Thung lũng Indol, Saadet II Gerai đã bị đánh bại hoàn toàn.[632] Sau khi İslâm II Giray phục bích, Saadet II Gerai vẫn không từ bỏ thỉnh thoảng lại nổi loạn nhưng đều bất thành, cuối cùng đã chạy sang Nga La Tư đầu quân làm đến chức thống đốc xứ Astrakhan.[633]

Ğazı II Giray

Năm 1596, đế quốc Ottoman hủy bỏ Ğazı II Giray để ủng hộ em trai ông là Fetih I Giray sau khi nghe theo lời khuyên của Cığalazade Yusuf Sinan Pasha.[634] Trước đó, Ğazı II Giray và Fetih I Giray lên đường cho một chiến dịch ở Hungary, ông chia lực lượng của mình và ở lại Wallachia để đối phó với một số phiến quân và gửi Fetih I Giray cùng 20.000 người tới Hungary, Fetih I Giray đã gặp Sultan Murad III ở đây.[635] Fetih I Giray tham gia cùng Murad III trong cuộc bao vây Eger ở phía đông bắc Hungary, sau khi địa điểm được thực hiện, vào tháng 10 năm 1596, một đội quân Habsburg lớn đã xuất hiện và gần như tới được lều của Quốc vương khi Fetih I Giray và Cığalazade Yusuf Sinan Pasha (Đại đô đốc của Hải quân Ottoman) tấn công họ ở phía sau, người Áo phải đối mặt xung quanh và điều này cho phép người Thổ đánh bại họ.[629] Như một phần thưởng, Chigalazade Yusuf Sinan Pasha đã trở thành đại tể tướng, Fetih I Giray được bổ nhiệm là khan của Crimea thay cho Ğazı II Giray, Ğazı II Giray đã gửi một lá thư cho sultan tuyên bố rằng ông bị bận tâm bởi sự bảo vệ của Wallachia từ Michael the Brave và việc ông bị sa thải là không công bằng.[636] Fetih I Giray xây dựng mạng lưới những người ủng hộ của mình xung quanh người thân của Selamet GirayBaht Giray, nhưng ảnh hưởng của ông này vẫn còn hạn chế và quân đội Tatar yêu cầu đưa khan cũ trở lại, Cığalazade Yusuf Sinan Pasha bị cách chức chỉ 20 ngày sau khi cuộc hẹn của ông làm phức tạp thêm tình hình, vị tể tướng mới Damat Ibrahim Pasha ủng hộ ý tưởng khôi phục khan cũ, triều đại ba tháng của Fetih I Giray vì thế bị cắt ngắn và Ğazı II Giray lấy lại quyền kiểm soát khanate vào đầu năm 1597.[637]

Năm 1623, Mehmed III Giray làm cuộc chính biến, lật đổ sự thống trị của Canibek Girej.[638] Năm 1624, ông được quân đội Thổ Nhĩ Kỳ hỗ trợ phục bích, nhưng chẳng bao lâu Mehmed III Giray đã đánh bại họ trong trận chiến Sary-Su, thành thử Canibek Girej lại bị mất ngôi lần thứ hai.[639]

Mehmed III Geray vốn có mối quan hệ thù địch với Mansur, sự căng thẳng này đã bị lợi dụng bởi Quốc vương, nó dẫn đến một cuộc đụng độ vũ trang với thủ lĩnh Nogai Kan-Temir và cuộc bao vây của khan trong pháo đài Kirk-Er năm 1628.[640] Cuộc bao vây đã được dỡ bỏ bởi Cossacks, Đồng minh Zaporizhzhya, người cùng với Khan Mehmed III Giray và Kalga Shahin Geray, sau đó đến pháo đài Kefa của Thổ Nhĩ Kỳ để chống lại một nỗ lực khác của Quốc vương để Canibek Girej quay về trị vì lần thứ ba.[641] Chiến dịch kết thúc không thành công do sự chuyển giao các chỉ huy của quân đội Tatar sang phe Canibek Girej, hai anh em Mehmed III Giray và Shahin Gerai buộc lòng phải chạy trốn đến Zaporizhzhya, họ đã cố gắng hai lần đột nhập trở lại Crimea vào năm 1529 nhưng đều thất bại do mâu thuẫn trong môi trường Cossack.[642] Chung cuộc, Mehmed III Giray chết dưới tay những người Cossacks Ukraine, còn Kalga Shahin Gerai sau đó rời đến Ba Tư.[643]

Năm 1624, quyền lực của Mehmed III Giray bị gián đoạn bởi sự trở lại của Canibek Girej, nhưng rất nhanh chóng ông đã trở lại đánh bại người tiền nhiệm để đăng cơ lần thứ hai.[644] Khi mới lên ngôi, thấy rằng đất nước đã bị dày vò trong nhiều năm bởi xung đột của bei, Mehmed III Giray đã đưa ra sự cai trị chuyên quyền theo mô hình của Sultan, phản đối sự can thiệp của đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ vào các vấn đề của Crimea và tổ chức một cuộc phòng thủ chống lại một nỗ lực của người Thổ Nhĩ Kỳ nhằm lật đổ mình.[645] Do đó, quân đội Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman đã cố gắng trả lại ngôi vị cho Canibek Girej, nhưng Mehmed III Giray đánh bại họ trong trận chiến Sary-Su, Canibek Girej buộc phải lưu vong sang Thổ Nhĩ Kỳ.[646]

Năm 1644, do chính sách đối ngoại của Mehmed IV Giray không được tốt, cho nên sau khi nước Nga Sa hoàng khuất phục một phần Crimea, Mehmed IV Gerai đã bị người Thổ Nhĩ Kỳ cách chức, triệu tập tới Istanbul và bị đày đến đảo Rhodes.[647] Crimean Khan mới được bổ nhiệm có tên Islam III Giray, anh trai ông, Mehmed IV Giray đã sống mười năm lưu vong ở Rhodes.[648] Năm 1654, Islam III Giray từ trần, Mehmed IV Giray được đế chế Ottoman đón về phục bích.[649]

Năm 1677, Selim I Giray khởi binh giúp người hetman thân Thổ Nhĩ Kỳ của Ukraine Petro Doroshenko trong cuộc chiến chống lại Moscow và Warsaw, ông bị Sultan loại bỏ khỏi ngai vàng vì những thất bại quân sự ở cuộc vây hãm Chyhyryn (miền trung Ukraina ngày nay) năm 1678, Murad Geray được đưa lên thay thế.[650] Năm 1683, Haji II Gerai được thành lập trên ngai vàng của Khanean Crimean, Murad Geray tuân theo sắc lệnh của sultan Ottoman đến sống ở Rumelia cho đến cuối đời.[651]. Haji II Gerai hủy các khoản thanh toán bằng tiền mặt do các quan chức từ thu nhập của Khan và từ hỗ trợ tài chính nhận được ở Crimea từ Istanbul, bằng cách này, người Khan phản đối mạnh mẽ cả bộ lạc và quý tộc để phục vụ.[652] Ngoài ra, ông ta lên kế hoạch thực hiện các cuộc đàn áp chống lại gia tộc Shirin, gây ra sự kháng cự mở, do vậy Haji II Gerai trở nên rất không được lòng mọi người, gây ra sự trớ trêu xấu xa với sự nhỏ bé và keo kiệt của mình.[653] Phiến quân Bey, hợp nhất với đại diện của giới quý tộc, đã tiếp cận Bakhchisarai và chiếm giữ cung điện của Khan, sau khi trục xuất Haji II Gerai khỏi thủ đô, họ đã cử đại diện tới Istanbul với yêu cầu đưa Selim I Giray trở lại ngai vàng.[654] Trong cuộc đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ, Selim I Giray xua quân đập tan tác quân Áo tại xứ Bulgaria và quân Nga tại xứ Ukraina, nhưng khi Hoàng đế nhà Ottoman bổ nhiệm Köprülü Mustafa Pasha làm Đại Vizia, sự bất đồng quan điểm giữa hai người đã khiến cho Selim I thoái ngôi Hãn vương, ngoài ra thì tin tức về cái chết của con trai ông trong chiến tranh cũng là một lý do khác khiến ông quyết định từ chức.[655] Trong thời gian Selim I Giray đi hành hương, một sự cố lớn diễn ra với triều đình Ottoman, quân Áo đánh tan quân Ottoman trong trận chiến Köprülü, quan Đại Vizia Mustafa Pasha tử trận. Trên đường về quê nhà, vào năm 1692, tại kinh đô Constantinopolis, ông lại được tấn phong làm Hãn vương.[656] Trong triều đại thứ ba, ông tiếp tục xua quân đánh quân Nga của Nga hoàng Pyotr I, cuộc chiến tranh Nga-Áo-Thổ kết thúc với Hiệp ước Karlowitz (1699) và Hiệp ước Constantinopolis (1700).[657] Sau khi Hiệp ước Karlowitz được ký kết, Selim I Giray lại về hưu, ông sinh sống tại một nông trại ở Silivri (vùng ngoại ô thành phố İstanbul ngày nay).[658] Người Cossacks tấn công Crimea một mặt, Sultan Thổ Nhĩ Kỳ yêu cầu Selim I Giray phải đến trợ giúp cho lực lượng Ottoman ở bên kia Balkan, do đó ông trở lại làm Khan lần thứ tư vào năm 1702 cho đến khi qua đời vào năm 1704.[659]

Năm 1702, Devlet II Giray được Selim I Giray giới thiệu để thay thế mình, trong triều đại đầu tiên, ông đã phải đối mặt với một cuộc xung đột nổ ra giữa các anh em của mình cho vấn đề Kalga Nureddin.[660] Một người tham gia tranh chấp, Goran Gaza, đã trốn đến Budzhak và ở đó tập trung xung quanh một nohaytsiv nổi loạn có ý định rời khỏi sự phục tùng của Crimea, cuộc nổi loạn này đã bị Devlet II Giray đàn áp.[661] Nhưng Đế quốc Ottoman đã ký hòa bình với Moscow, bỏ qua mọi cảnh báo của Devlet II Giray, người đã báo cáo về kế hoạch của Pyotr I tiếp tục chiến tranh ở miền nam, Devlet II Giray đã cố gắng tổ chức chống lại ý chí của chiến dịch cảnh báo sultan chống lại người Nga đã tập hợp một đội quân lớn, nhưng sultan ngay lập tức tước bỏ quyền lực của ông, khôi phục ngai vàng của Selim I Giray.[662] Năm 1704, Selim I Giray lánh xa trần thế, con trai là Ghazi III Giray kế nghiệp. Năm 1707, đại sứ Nga tại Istanbul đã phàn nàn rằng Ghazi III Giray ủng hộ Nogis Cuba, người đã phát động các cuộc tấn công cướp bóc vào miền nam nước Nga, Ghazi III Giray bị bãi bỏ và thay thế bằng người anh em Qaplan I Giray.[663] Cuối năm 1708, Qaplan I Giray hành quân vào Bắc Kavkaz với một đội quân lớn để nghiền nát lũ Kabards nổi loạn, nhưng bị đánh bại thảm khốc và một số thủ lĩnh của tộc Tatar đã mất, vì sự thất bại và nơi ẩn náu của người Cossacks chạy trốn khỏi Sa hoàng Nga Pyotr I, sultan Thổ Nhĩ Kỳ đã thay thế ông ta bằng việc đưa Devlet II Giray phục bích vào đầu năm 1709.[664]

Qaplan I Giray

Năm 1708, Qaplan I Giray thất bại trong một trận chiến, ông bị sultan Thổ Nhĩ Kỳ cách chức đưa ông đi lưu vong ở Rhodes, can tội dám xin tị nạn cho một nhóm người Cossacks trốn khỏi Pyotr I đại đế, người anh trai Devlet II Giray được đưa trở về phục vị vào đầu năm 1709.[665] Năm 1713, do vấn đề được đại diện bởi vua Charles XII của Thụy Điển, sau khi bị người Nga đánh bại, đã lánh nạn trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ và trốn tránh sự kiểm soát của Ottoman.[666] Ahmed III tức giận loại bỏ Devlet II Giray, đày ông này ra hòn đảo Rhodesbiển Aegea, khôi phục Qaplan I Giray lên ngai vàng lần thứ hai.[667] Năm 1716, Qaplan I Giray phải đối phó với các cuộc nổi dậy của các nữ tu, những người ngăn cản ông tham gia chiến dịch của Áo, và vì lý do đó, ông đã bị cách chức vào cuối tháng 11, người thay thế là Devlet III Giray.[668] Bốn tháng sau, sang đầu năm 1717, sultan Thổ Nhĩ Kỳ lại phế truất Devlet III Giray, đưa Saadet IV Giray lên làm Hãn vương.[669] Năm 1724, Saadet IV Giray cãi nhau với Hadji Jan Temur, người quyền lực của tộc Shirin mà ông ta đã phế truất, những phần tử ủng hộ Hadji Jan Temur không ngần ngại tấn công Saadet IV Giray trong cung điện của ông ta, họ đã trục xuất thành công Saadet IV Giray để tôn lập anh trai ông ta là Meñli II Giray làm quân chủ.[670] Năm 1730, sultan mới Mahmud I đăng cơ, quyết định bãi nhiệm Meñli II Giray, đưa Qaplan I Giray trở lại cầm quyền lần thứ ba.[671]

khu lăng mộ của Meñli II Giray

Năm 1730, theo sắc lệnh của sultan Mahmud I, Meñli II Giray từ chức để bàn giao quyền lực cho cựu hãn vương Qaplan I Giray.[672] Năm 1736, quân đội Nga đã phát động một cuộc tấn công vào Crimea, gây ra nhiều thương vong và hủy diệt (đặc biệt là thủ đô Bakhchisaray đã bị đốt cháy cùng với cung điện khan Kezlev).[673] Qaplan I Giray lúc đó đang chỉ huy chiến dịch chống Ba Tư, theo lệnh của Sultan, vội vã trở lại Crimea, nhưng vì sự ganh đua và mất đoàn kết trong quân đội Crimea, ông ta không thể tổ chức phòng thủ một cách hợp lý, quân Nga rời Crimea chỉ vì một dịch bệnh.[674] Sultan tức giận loại bỏ khỏi quyền lực Qaplan I Giray, gửi ông ta đến Thổ Nhĩ Kỳ, dựng Fetih II Gerai lên làm khan mới.[675] Sau hai thất bại thảm khốc vào các 1736 và 1737 trước đế quốc Nga, chính phủ Ottoman quyết định đưa trở lại quyền lực một người đàn ông đã từng chứng tỏ khả năng phi thường của mình là một người cai trị, đó chính là Meñli II Giray, Fetih II Gerai bị bãi nhiệm.[676] Việc tái bổ nhiệm Khan trong một cuộc khủng hoảng sâu sắc do cuộc xâm lược của Nga và sự bất lực của hai người tiền nhiệm của ông để đối đầu với họ một cách hiệu quả, Meñli II Giray đã khéo léo tổ chức phòng thủ và, trong nỗ lực thứ ba của Nga để chiếm Crimea, đã đẩy lùi nó khỏi Perekop.[677]

Năm 1756, vì một lý do không rõ ràng, nằm trong do mưu đồ của Istanbul, sultan Osman III đã yêu cầu Arslan Giray rời khỏi vị trí của Khan và thay thế ông bằng Halim Girai, Arslan Giray chuyển đến Chios cư trú.[678] Năm 1758, Qırım Giray (nhân vật có 50.000 quân có vũ trang trong thời gian đó) đã viết một lá thư cho sultan yêu cầu thay thế khan bởi lý do bất mãn trong quần chúng, Mustafa III tránh cuộc nổi dậy bằng cách chọn giải pháp đơn giản nhất, tước đi quyền lực của Qırım Giray và bổ nhiệm Qırım Giray vào vị trí này.[679] Năm 1764, Selim III Giray thế chân Qırım Giray, đến năm 1767 thì Arslan Giray được cài đặt lại là Khan, nhưng ông đã chết trên đường đến Crimea, tại thành phố Kausani của Moldova.[680]

khu lăng mộ của Qırım Giray

Năm 1764, Qırım Giray đã làm theo chỉ dẫn của Sultan du hành tới Istanbul, nhưng mối thù của ông đã được chứng minh là hợp lý vì ông đã từ chức, Selim III Giray lên cầm quyền.[681] Năm 1767, Selim III Giray bị cách chức, Arslan Giray chết khi chưa kịp phục tích, Maxim Giray lên ngôi chưa đầy một năm cũng bị bãi nhiệm, do đó Qırım Giray được phép trở lại làm Khan lần thứ hai vào đầu năm 1768.[682] Lúc đó, với sự bùng nổ của cuộc chiến tranh Nga La Tư-Thổ Nhĩ Kỳ, Qırım Giray đã giúp quân đội Thổ Nhĩ Kỳ với hai trăm nghìn Tatars, nhưng sau các cuộc tấn công ban đầu, quân đội chính quy của Nga và ưu thế công nghệ của nó đã xuất hiện, tổ chức của nó đã sớm trở nên rõ ràng.[683] Thất bại trong các cuộc chiến của Sultan không còn giá trị với Qırım Giray, ông đã bị đầu độc chết vào đầu năm 1769 ở Kausani, Moldavia.[684]

Năm 1767, Selim III Giray ra lệnh trục xuất lãnh sự Nga ở Bacchiszerai (nhưng sau đó cho phép mình bị mua chuộc), kêu gọi Sultan Thổ Nhĩ Kỳ liên minh với đế quốc Áo và lập một hiệp ước chống Nga và yêu cầu Sa hoàng phá hủy pháo đài của họ ở vùng đất của người Kabardia.[685] Nhưng Sultan lại bất đồng quan điểm, không muốn khiêu khích người Nga, nên đã bãi nhiệm ông rồi gọi Arslan Giray trở lại phục tịch.[686] Tuy nhiên, Arslan Giray chưa đến Crimea thì ốm chết ngang đường, Maxim Giray thay thế được một năm thì cũng bị cách chức, Qırım Giray được điều động làm Khan mới vào đầu năm 1768.[687] Qırım Giray thua trận bị đầu độc chết năm 1769, Devlet IV Giray lên ngôi, nhưng chỉ một năm sau ông này lại bị hạ bệ, Kaplan II Giray nắm quyền trong vài tháng thì cũng bị sa thải, Selim III Giray trở lại làm Khan lần thứ nhì.[688]

Năm 1768, trong lúc cuộc chiến tranh Nga-Thổ đang bước vào thời kỳ cao điểm nhất, Maqsud Giray bị sultan cách chức, Qırım Giray được triệu hồi phục vị.[689] Năm 1769, Qırım Giray thất bại bị đầu độc chết, Devlet IV Giray kế tục lãnh đạo việc chống Nga cho đến năm 1770 thì lại bị thay thế bởi Kaplan II Giray trước khi Selim III Giray trở về làm Khan lần thứ hai.[690] Năm 1771, Selim III Giray lại bị Sultan phế truất và Maqsud Giray tái đăng cơ, tuy nhiên cũng chỉ hơn một năm ông lại bị bãi nhiệm.[691]

Năm 1770, Devlet IV Giray mất ngôi do năng lực làm việc kém hiệu quả, Kaplan II Giray làm Khan đwocj vài tháng cũng bị bãi bỏ, Selim III Giray nối chức đến năm 1771.[692] Sau đó đến lượt Maqsud Giray tiếp quản quyền lực, nhưng cũng sang năm 1772 thì bị buộc phải thôi, và Sahib II Giray được người Nga đưa lên cạnh tranh với Maqsud Giray từ năm 1771, đánh bại được ông này để nắm giữ ngai vàng cho đến năm 1775.[693] Đó là vào cuối cuộc xung đột Nga-Thổ, Hiệp ước Kütchück-Kaynardja giữa Sublime Porte và Đế quốc Nga đã được ký kết vào năm 1774 với lý do công nhận sự độc lập của Crimean khanate từ của Đế chế Ottoman, đã thiết lập một chế độ bảo hộ thực sự của Nga đối với Hãn quốc này.[694] Sahib II Giray được công nhận là Khan độc lập bởi Sublime Porte trong khoảng thời gian từ ngày 3 tháng 1 đến ngày 1 tháng 2 năm 1775, nhưng bị lật đổ ngay sau đó bởi Devlet IV Giray kịp thời phục tịch, vì bấy giờ Devlet Giray được Ottoman phái đi cùng với một đội quân để bảo vệ Kuban.[695] Devlet IV Giray từ chối chấp nhận hiệp ước Küçük Kaynarca và tiếp tục cuộc chiến chống lại người Nga gần Azov, đứng đầu một nhóm lớn người da trắng, ông xâm chiếm Bán đảo Taman, vượt qua eo biển với quân đội của mình, phá tan tuyến phòng thủ của Nga tại Yenikale-Kerch và chiếm Kefe. Mong muốn của Devlet IV Giray giành lại quyền kiểm soát ngai vàng Crimea, trái với thỏa thuận Nga-Thổ, là rõ ràng, và Sahib II Giray trốn sang Constantinople năm 1775.[696]

Şahin Giray

Đặc phái viên Ottoman phụ trách công nhận Sahib II Giray đến Bakhchysaray khi Devlet Giray chiếm thành phố, Devlet IV Giray nắm bắt đầu tư và áp đặt mình với giới tinh hoa của Crimea là chủ quyền hợp pháp, trước sự ngạc nhiên của mọi người, Catherine II của Nga công nhận ông là khan, như vậy Hãn quốc Krym thoát ly khỏi đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ để chính thức trở thành chư hầu của đế quốc Nga.[697]

Năm 1782, Bahadır II Giray được người Nga công nhận là Khan, vì Şahin Giray can tội chống đối lại chính phủ Nga, chủ trương giành độc lập cho Hãn quốc Krym.[698] Cuối năm ấy, lực lượng ủng hộ Şahin Giray đã đánh đuổi được Bahadır II Giray để chiếm lại ngai vàng, nhưng Şahin Giray cũng không thể chịu nổi áp lực rất lớn từ đế quốc Nga và đối mặt với sự thất bại không thể tránh khỏi, ông đã đồng ý với một đề nghị của Nga để kết hợp khanate vào Đế quốc Nga vào năm 1783, chấm dứt sự tồn tại của Hãn quốc Krym.[699] Sau đó, Şahin Giray buộc phải chuyển đến Saint Petersburg, sống dưới sự quản thúc tại gia, qua một thời gian, ông được phép di cư tới Edirne và ở đó cho đến hết đời.[700]

Sahib I Giray

Hãn quốc Kazan và Hãn quốc Krym[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1524, Sahib I Giray tuyên bố mình là chư hầu của đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, chính quyền Moscow đã gửi một đội quân khổng lồ dưới thời Vasili III Ivanovich tràn ngập khắp lãnh thổ Hãn quốc Kazan, Sahib I Giray chống cự không nổi phải bỏ trốn, ông được thay thế bởi Safa Giray.[701] Sahib I Giray lưu vong ở Hãn quốc Krym, ông bị Khan Saadet I Giray giam giữ trong vòng nửa năm, ông được thả ra và hỗ trợ Saadet I Giray chống lại cháu trai nổi loạn của Khan là Islyam I Giray.[702] Trong những năm 1525-15261528-1530, Sahib I Giray là Kalga của Saadet I Giray, năm 1531 ông đã giúp Khan đánh bại tộc Shirin, do đó uy tín của ông ở đây càng ngày càng nâng cao.[703] Năm 1532, Saadet I Giray đã tự nguyện từ bỏ quyền khanship và rời đến Istanbul, Sahib I Giray được tuyên bố là Khan, nhưng vị sultan Thổ Nhĩ Kỳ Suleiman đại đế do không nhận ra ông nên vào mùa thu đã bổ nhiệm İslâm I Giray là Crimean khan.[704] Sahib I Giray đến với quân đội Thổ Nhĩ Kỳ và được quý tộc Crimea công nhận, İslâm I Giray sau khi trị vì năm tháng, đã buộc phải thoái vị để trở thành Kalga của Saadet I Giray và được trao cho PerekopOchakov.[705]

Cộng hòa Séc - Slovakia[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Přemyslid[sửa | sửa mã nguồn]

Boleslav III. Ryšavý

Năm 1002, một cuộc nổi dậy được tổ chức bởi các quý tộc của tộc Vršovci đối địch (cùng với con rể của Boleslaus III. Ryšavý) đã buộc Boleslav III. Ryšavý phải chạy trốn sang Đức, nơi ông được Margrave Henry I của Áo tiếp nhận.[706] Trong khi đó, công tước Ba Lan Bolesław I đã đưa người họ hàng của Boleslaus III. Ryšavý là Vladivoj trên ngai vàng của Bohemian, tuy nhiên, Vladivoj là một người nghiện rượu và chết trong vòng một năm.[707] Sau cái chết của Vladivoj vào năm 1003, các quý tộc ở vùng boho đã mời Boleslav III. Ryšavý quay về khôi phục quyền lực với sự hỗ trợ vũ trang từ Công tước Bolesław của Ba Lan.[708] Nhưng Boleslav III. Ryšavý đã sớm tự làm suy yếu vị trí của chính mình bằng cách ra lệnh tàn sát các quý tộc hàng đầu trong nước, những người sống sót sau vụ thảm sát đã bí mật gửi sứ giả đến Bolesław của Ba Lan và cầu xin ông này cứu họ.[709] Công tước Ba Lan sẵn sàng đồng ý bằng cách giả đò mời Boleslav III. Ryšavý đến thăm ông ta tại lâu đài riêng của mình ở Kraków, ở đó Boleslav III. Ryšavý bị mắc kẹt, bị chọc mù mắt và bị giam cầm cho đến chết.[710]

Přemysl Ottokar I
Jindřich Korutanský và anh trai Louis

Năm 1193, công tước Přemysl Ottokar I đã sớm bị lật đổ sau chưa đầy một năm được Hoàng đế La Mã Henry VI công nhận là người cai trị xứ Bohemia, vì ông tham gia một âm mưu của các hoàng tử Đức để hạ bệ triều đại Hohenstaufen.[711] Henry Bretislaus lên ngôi thay thế cho tới năm 1197 thì chết, các quý tộc ở vùng boho đã bầu Margrave Vladislaus Henry (anh trai Přemysl Ottokar I) làm người kế vị, tức Vladislaus III.[712] Nhưng Přemysl Ottokar I đã thỏa thuận với anh trai mình, công tước Vladislaus III, từ bỏ Bohemia cho ông ta và thỏa mãn với Moravia. Lợi dụng cuộc nội chiến ở Đức giữa người yêu sách Hohenstaufen Philip của Swabia và ứng cử viên Welf Otto IV, Ottokar I tuyên bố mình là vua xứ Bohemia lần thứ hai vào năm 1198, ông tự lên ngôi ở Mainz.[713] Danh hiệu này được hỗ trợ bởi Hohenstaufen Philip của Swabia, người cần sự hỗ trợ của quân đội Tiệp Khắc chống lại Otto.[714]

Năm 1306, công tước Jindřich Korutanský, vua của Bohemia đồng thời là Margrave của Moravia và cũng là vua của Ba Lan bị lật đổ.[715] Lúc đó, nhà cầm quyền người boho đã chuẩn bị cho một chiến dịch quân sự chống lại Ba Lan và bổ nhiệm nhiếp chính anh rể của mình, bởi sau vụ ám sát của Wenceslaus, Přemyslids đã tuyệt chủng trong dòng dõi nam và Jindřich Korutanský được bầu chọn bởi người quý tộc của người Hồi giáo chống lại ý chí của cựu vương đồng minh Albert I của Đức, người dự định sẽ cài đặt con trai cả của ông là Rudolf ở Habsburg trên ngai vàng của Bohemian.[716] Quân đội của vua Albert I ngay lập tức tấn công thành phố Bohemia, bao vây lâu đài Prague và phế truất Jindřich Korutanský, ông buộc phải nhượng bộ vì lực lượng vượt trội của họ.[717] Tuy nhiên, Rudolf của Habsburg không bao giờ được giới quý tộc Bohemian chấp nhận, và sau cái chết bất ngờ của ông này vào năm 1307, Jindřich Korutanský lại được bầu làm Vua xứ Bohemia.[718]

Nhà Luxemburg[sửa | sửa mã nguồn]

Sigismund von Luxemburg

Năm 1420, cuộc chiến tranh Hussite đã làm gián đoạn chức vụ của Sigismund von Luxemburg, giai đoạn này ở Bohemia không có vua.[719] Mãi đến năm 1436, ông mới chính thức tái đăng vị làm vua của xứ Bohemia.[720]

Đại công tước xứ Styria[sửa | sửa mã nguồn]

Ferdinand II

Năm 1619, Hoàng đế Matthias của đế quốc La Mã Thần thánh qua đời, người kế vị của ông là Ferdinand II, Đại công tước xứ Styria. Mặc dù Ferdinand II trước đây đã được trao vương miện của quốc vương Styria, nhưng quốc hội đã từ chối công nhận tính hợp pháp của nó.[721] Lo lắng về cuộc xâm lược của gia đình Habsburg, Quốc hội Styria và các thành viên của Lãnh thổ Bohemian Crown đã họp tại Prague để tìm kiếm một liên minh, và cuộc họp đã giải quyết chống lại gia đình Habsburg. Kết quả, Đại hội đồng Bohemian đã tuyên bố tước quyền của vua Bohemia của Ferdinand II, cuộc chiến giữa vương quốc Bohemia và gia đình Habsburg là không thể tránh khỏi, và cuộc bầu cử của Đức đối với Ferdinand dự đoán rằng điều này sẽ dẫn đến một cuộc chiến kéo dài.[722] Ứng cử viên vua ban đầu cho Bohemians là Saxon, người sau đó đã từ chối Bohemian, điều này làm cho Frederick V trở thành một ứng cử viên nổi tiếng. Estates của tất cả các vùng đất của Vương miện Bohemian đã thành lập một liên minh vào ngày 31 tháng 7, họ hạ bệ Ferdinand II vào ngày 22 tháng 8 và bốn ngày sau, họ trao vương miện cho Frederick V.[723] Frederick V đã cố gắng thuyết phục các đại cử tri bầu Maximilian I của Bavaria làm Hoàng đế La Mã thần thánh mới, nhưng Maximilian I không chấp nhận ứng cử và Ferdinand II được nhất trí bầu làm hoàng đế.[724] Sở dĩ các điền trang đã chọn Frederick V vì ông này là lãnh đạo của Liên minh Tin lành, một liên minh quân sự do người cha Frederick IV thành lập và hy vọng sự hỗ trợ của bố vợ của Frederick IV, James VI của Scotland. Tuy nhiên, James VI đã phản đối việc tiếp quản Bohemia từ các đồng minh của Habsburg và Frederick V trong Liên minh Tin lành đã không hỗ trợ anh ta về mặt quân sự bằng cách ký Hiệp ước Ulm (1620).[725] Triều đại ngắn ngủi của Frederick V là vua xứ Bohemia đã kết thúc với thất bại tại trận chiến Núi Trắng vào ngày 8 tháng 11 năm 1620 - một năm bốn ngày sau khi đăng quang, Ferdinand II quay trở lại vừa làm hoàng đế La Mã thần thánh kiêm luôn cả đại công tước xứ Styria.[726]

Hung Nha Lợi[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Hungary:

Peter Orseolo

Năm 1041, bởi sự thiên vị của Peter Orseolo đối với các cận thần nước ngoài (ông ưa thích các cận thần người Đức và người Ý) đã gây ra cuộc nổi dậy kết thúc bằng việc ông bị lật đổ.[727] Ngoài ra, trước đó Peter Orseolo từng tịch thu tài sản của gì, nữ hoàng Jizera và đưa bà này vào tù, Jizera tìm kiếm sự giúp đỡ từ các lãnh chúa Hungary, người đổ lỗi cho một trong những mục yêu thích của Peter Orseolo vì những hành động sai trái của quốc vương và yêu cầu ông phải ra tòa xét xử. Khi nhà vua từ chối, các lãnh chúa đã tịch thu và sát hại cố vấn không được lòng dân của ông và thực hiện việc phế truất quốc vương.[728] Họ đã bầu một vị vua mới, Samuel Aba, một cháu trai khác của vua Stephen I. Sau khi bị trục xuất, Peter the Venetian trốn sang Áo, để tìm sự bảo vệ của anh rể của mình, Margrave Adalbert, ông đã tiếp cận Hoàng đế Henry III để được giúp đỡ chống lại Samuel Aba.[729] Henry III đã phát động cuộc thám hiểm đầu tiên chống lại Hungary vào năm 1042, lực lượng quân Áo đã tiến lên phía bắc sông Danube đến sông Garam. Hoàng đế đã lên kế hoạch khôi phục Peter Orseolo, nhưng người dân địa phương lại phản đối mạnh mẽ.[730] Peter Orseolo trở lại Hungary vào năm 1044, và được nhiều lãnh chúa Hungary tham gia trước sự lãnh đạo của ông. Trận chiến quyết định được chiến đấu vào ngày 5 tháng 6 tại Ménfő (gần Győr), nơi lực lượng của Samuel Aba bị đánh bại. Mặc dù Samuel Aba trốn thoát khỏi chiến trường, những người ủng hộ của Peter Orseolo đã truy bắt tới cùng và giết chết ông ta.[427]

Maria I

Năm 1385, nhiều nhà quý tộc ủng hộ Charles của Napoli, diễu hành về phía Buda. Nữ hoàng Maria và mẹ cô đã tiếp đón ông ta một cách lịch sự, Maria từ bỏ vương miện mà không gặp phải sự kháng cự nào đáng kể.[731] Vấn đề này khởi đầu từ lúc bà mới lên ngôi, mẹ của Maria, Elizabeth của Bosnia người đảm nhận vương quyền, đã loại bỏ các quý tộc Ba Lan khỏi lời thề trung thành với Maria để ủng hộ em gái của bà là Jadwiga. Ý tưởng về một nữ quân vương vẫn không được các nhà quý tộc Hungary ưa chuộng, phần lớn trong số họ coi người anh em họ xa của Maria, Charles III của Napoli, với tư cách là vị vua hợp pháp.[732] Để củng cố vị trí của Maria, mẹ của nữ hoàng muốn bà kết hôn với Louis, em trai của Charles VI của Pháp. Charles III của Napoli đến Dalmatia vào năm 1385, Sigismund của Luxembourg đã xâm chiếm Thượng Hungary (nay là Slovakia), buộc mẹ của nữ hoàng phải đồng ý cho mình kết hôn với Maria.[733] Tuy nhiên, họ không thể ngăn Charles vào Buda, sau khi Maria từ bỏ ngai vàng, Charles III của Napoli lên ngôi vua, nhưng ông đã bị sát hại trong sự xúi giục của mẹ Maria vào năm 1386.[734] Maria đã được phục hồi, mẹ của nữ hoàng đã thông báo cho công dân của Kőszeg rằng "Nữ hoàng Maria đã lấy lại được Vương miện Thánh".[735] Tuy nhiên, anh em nhà Horvat đã nổi dậy trong cuộc nổi loạn công khai thay mặt cho con trai của vị vua bị sát hại, Ladislaus của Naples. Chồng của Maria, Sigismund, và anh trai của ông, Wenceslaus, đã xâm chiếm Thượng Hungary vào tháng Tư. Sau nhiều tuần đàm phán, nữ hoàng thừa nhận vị trí của Sigismund là người phối ngẫu trong một hiệp ước đã được ký kết tại Győr vào đầu tháng 5. Họ cũng xác nhận việc thế chấp của Sigismund đối với các vùng đất phía tây Vág cho Jobst và Prokop của Moravia. Sau khi hiệp ước được ký kết, nữ hoàng trở lại Buda và Sigismund đã tới Bohemia.[736] Một lần, Elizabeth của Bosnia cùng Maria quyết định đến thăm các quận phía nam của vương quốc được kiểm soát bởi những người ủng hộ Ladislaus của Napoli, trên đường qua Đakovo, John Horvát đã phục kích tấn công bất ngờ và cuộc truy quét của họ tại Gorigate. Đoàn tùy tùng nhỏ của nữ hoàng đã chiến đấu với những kẻ tấn công, nhưng tất cả đều bị giết hoặc bị bắt, Elizabeth cầu xin những kẻ tấn công hãy tha mạng cho con gái mình, cả hai mẹ con đều bị nhốt trong tù, giam cầm tại lâu đài Gomnec, sau đó kéo đến Krupa, và từ đó đến lâu đài Novigrad trên bờ biển Adriatic.[737] Lợi dụng tình trạng hỗn loạn ở Hungary, quân đội Ba Lan đã xâm chiếm Lodomeria và Halych vào tháng Hai. Sigismund lên ngôi vua năm 1387 như đã quyết định rằng vương quốc không còn có thể không có một người cai trị hiệu quả, một trong những người ủng hộ ông, Ivan of Krk, đã bao vây lâu đài Novigrad với sự hỗ trợ của một hạm đội của Venice. Họ chiếm được lâu đài và giải phóng Maria, và từ đó bà lên ngôi lần thứ ba với tư cách đồng cai trị cùng chồng cho đến cuối đời.[738]

Peter IV

Bulgaria[sửa | sửa mã nguồn]

Đế quốc Bulgaria thứ hai:

Năm 1186, Hoàng đế Đông La Mã Isaakios II Angelos đã lãnh đạo một cuộc tấn công bất ngờ nhân lúc nhật thực ngày 21 tháng 4 và đánh bại đế chế thứ II của Bulgaria khi nhà nước này vừa mới thành lập không lâu, vua Peter IV cùng em trai là Ivan Asen I phải chạy trốn khỏi quê hương và băng qua Hạ lưu sông Danube, tìm kiếm sự hỗ trợ quân sự từ phía người Cumans.[739] Isaakios II nghĩ rằng chiến thắng của mình là quyết định và trở về Constantinople mà không đảm bảo sự bảo vệ của Paristrion, nhưng Peter IV đã được các thủ lĩnh người Cumans đem quân tới giúp trở lại ngai vàng năm 1187. Năm 1190, Peter IV trao ngai vàng cho em trai mình là Ivan Asen I.[740] Ivan Asen I tỏ ra là một dũng tướng thiện chiến khi đã đem quân đánh phá khắp nơi mở mang bờ cõi đế quốc Bulgaria, nhưng đến năm 1196 ông bị người anh em trong họ là Ivanko sát hại, Peter IV đã dẹp tan được Ivanko để lên ngôi vua Bulgaria lần thứ ba.[741] Tuy nhiên, cuộc phục bích lần này cũng kéo dài chưa đầy một năm, Peter IV đã bị sát hại "trong hoàn cảnh mơ hồ", ông đã "chạy qua thanh kiếm của một trong những người đồng hương của mình".[742]

Đan Mạch - Thụy Điển - Na Uy[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Đan Mạch[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Estridsen:

Christopher II

Năm 1326, Christopher II mất ngôi trong một cuộc bạo loạn bởi liên minh giữa các ông trùm Đan Mạch và Gerhard III, Bá tước Holstein-RendsburgJohn I, Bá tước Holstein-Kiel (con trai của Adolf IV).[743] Christopher II bị buộc phải thoái vị và lưu vong, trong khi Công tước Valdemar III 12 tuổi ở Nam Jutland được phong làm vua Đan Mạch, với Bá tước Gerhard III là nhiếp chính. Cho đến năm 1329, một sự hỗn loạn đang gia tăng tại Đan Mạch đã cho Christopher II cơ hội, mâu thuẫn phát triển giữa Gerhard III và anh em họ Johan, Bá tước Schauenburg và Holstein-Plön và Holstein-Kiel, người cũng là anh em cùng cha khác mẹ của Christopher II thông qua cuộc hôn nhân của người mẹ góa của ông ta với Gerhard III, Bá tước Holstein-Plön.[744] Với sự giúp đỡ của Henry xứ Mecklenburg, Christopher II đứng sẵn sàng tại Vplyborg với 2000 hiệp sĩ Đức gắn kết. Thật không may cho Christopher II, sau một cuộc nổi dậy của nông dân ở Jutland, nơi bị bá tước Gerhard III nghiền nát một cách tàn nhẫn, những người nông dân ở Skåne đã cầu xin vua Magnus IV của Thụy Điển cai trị họ, ông này sẵn sàng chấp nhận và Đan Mạch không còn tồn tại như một vương quốc độc lập.[745] Christopher II tuy được phục hồi làm vua Đan Mạch với sự hợp tác của bá tước Johan, nhưng ông đã bị giảm xuống vị trí của một con rối ngay từ đầu, hầu hết đất nước của ông đã bị thế chấp, và Christopher II không có cơ hội nắm giữ quyền lực hoàng gia thực sự.[746]

Năm 1326, Eric Christoffersen cùng người đồng trị vì là cha mình Christopher II đều bị lật đổ bởi Valdemar III, cha ông phải sống lưu vong còn ông thì bị bắt giữ.[747] Năm 1330, Eric Christoffersen được phóng thích với điều kiện ông phải kết hôn với Elizabeth của Holstein-Rendsburg, nữ công tước hạ cấp của Saxe-Lauenburg và em gái của Bá tước Gerhard III, nhờ đó ông quay trở lại với vai trò đồng trị vì cùng cha mình lần thứ hai.[748] Tuy nhiên năm sau, chiến tranh nổ ra giữa cha ông Christopher II với người anh rể Gerhard III, Eric Christoffersen bị đánh bại trong trận chiến tại Danevirke, nhưng đã trốn thoát được đến Kiel, ông chết vì vết thương trong chiến đấu vài tháng sau đó vào đầu năm 1332.[749]

Vương quốc Thụy Điển[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Stenkil:

Năm 1070, Halsten Stenkilsson bị phế truất, ông được thay thế bởi một hoàng tử đến từ Gardariki có tên Anund Gårdske.[750] Nhưng chưa đầy một năm, Håkan the Red đã giành được ngôi vị từ Anund Gårdske. Lý do bởi Anund Gårdske vốn là một Kitô hữu, ông ta đã từ chối thực hiện sự hy sinh công khai cho các vị thần Bắc Âu tại Đền thờUppsala, và do đó mới bị quần chúng bất mãn nên họ quật khởi lật đổ.[751] Năm 1079, Halsten Stenkilsson trở lại ngôi vua Thụy Điển, lần này với tư cách đồng trì vì với người anh trai Inge Stenkilsson.[752]

Inge Stenkilsson

Năm 1084, Inge Stenkilsson buộc phải thoái vị bởi người dân Thụy Điển vì sự thiếu tôn trọng đối với các truyền thống cũ và từ chối quản lý phong tục ngoại đạo của người Anh, Blot-Sweyn (Svein the Sacrifier) ​​vì thế được bầu làm vua.[753] Thực ra thì Ingi Stenkilsson kết hôn với một người phụ nữ tên là Mær, người có một anh trai tên là Svein. Vua Ingi Stenkilsson thích Svein hơn bất kỳ người đàn ông nào khác, và Svein trở thành người đàn ông vĩ đại nhất ở Thụy Điển.[754] Người Thụy Điển cho rằng Vua Ingi Stenkilsson đã vi phạm luật đất đai cổ xưa khi ông ngoại trừ nhiều điều mà Steinkel cha ông đã cho phép, và tại một hội nghị được tổ chức giữa Thụy Điển và vua Ingi Stenkilsson, họ đã đề nghị ông hai phương án, để theo trật tự cũ, hoặc khác để thoái vị.[755] Sau đó, vua Ingi Stenkilsson lên tiếng và nói rằng ông sẽ không từ bỏ đức tin thực sự, ông trở về làm vua của Gothenland. Năm 1087, Inge Stenkilsson tiến quân về phía đông, đi qua SmålandÖstergötland, sau đó vào Thụy Điển. Ông tiêu diệt được Svein the Sacrifier để một lần nữa tiếp nhận vương quốc Thụy Điển, ông tái lập Kitô giáo và cai trị vương quốc cho đến cuối đời.[756]

Triều đại SverkerTriều đại Eric:

Erik XI Eriksson

Năm 1229, bạo loạn đã bùng phát, khi Knut the Tall và một nhóm quý tộc nổi dậy chống lại nhà cai trị trẻ tuổi Erik XI Eriksson.[757] Nguyên nhân không được biết, nhưng mong muốn của một số quý tộc để kiềm chế quyền lực của Giáo hội có thể đã có một vai trò, Eric XI Eriksson bị lật đổ trong trận chiến Olustra (slaget vid Olustra).[758] Sau khi mất ngôi, Eric XI Eriksson đã trốn sang Đan Mạch nơi người chú Valdemar Sejr của ông vẫn đang cầm quyền nương náu, Knut the Tall lên ngôi vua Thụy Điển, tức Canute II.[759] Năm 1234, Canute II qua đời, Eric XI Eriksson nhân cơ hội quay trở lại, hòa giải với các đảng phái chống đối trong nước, nhờ đó ông đã lên ngôi vua lần thứ hai.[760]

Liên minh Kalmar[sửa | sửa mã nguồn]

Eric XIII
Engelbrekt Engelbrektsson
Karl VIII

Năm 1434, nông dân và công nhân mỏ của Thụy Điển bắt đầu một cuộc nổi loạn quốc gia và xã hội đã sớm được giới quý tộc Thụy Điển sử dụng để làm suy yếu quyền lực của nhà vua, cuộc nổi dậy được lãnh đạo bởi nhà quý tộc Engeloustkt Engelbrektsson.[761] Eric XIII phải thoái vị trong cuộc họp được coi là cuộc họp Quốc hội Thụy Điển đầu tiên (Riksdag), Engeloustkt Engelbrektsson lên cầm quyền.[762] Vào ngày 14 tháng 10 năm 1435, Eric XIII được phục hồi trong thời gian ngắn làm vua, nhưng nhanh chóng bị phế truất vào ngày 11 tháng 1 năm 1436 vì mất sự hỗ trợ. Engeloustkt Engelbrektsson trở lại nhưng lần này cùng với Carl Knutsson (tức Karl VIII sau này), bởi vì ông không thể chống lại giới quý tộc Thụy Điển muốn sử dụng cuộc nổi loạn và buộc phải rút lui sau hậu trường.[763] Giới quý tộc và giáo sĩ Thụy Điển đã quyết định hỗ trợ Karl VIII thay thế Engel Blaketer vào ngày 27 tháng 4 năm 1436 để trở thành một nhà nước cầm quyền, như vậy Karl VIII giữ vai trò nhiếp chính và Eric XIII lên ngôi vua lần thứ ba.[764]

Năm 1435, Engelbrekt Engelbrektsson lãnh đạo nhân dân quật khởi trên toàn Thụy Điển, vua Eric XIII buộc phải chịu mất ngôi để ông lên lãnh đạo đất nước.[765] Sau đó ít lâu, Eric XIII trở lại nhưng chỉ được mấy tháng lại phải từ nhiệm lần thứ hai vào năm 1436.[766] Engelbrekt Engelbrektsson nắm giữ quyền lực lần này cũng chẳng được bền, giới quý tộc đã phế bỏ ông rồi nhốt tại lâu đài của Gksholm gần nhà quý tộc Đức Bengartsson tại một hồ nước có tên là Jermalem gọi là Engeloustktsholmen, ở nơi đây ông đã bị sát hại.[767]

Năm 1440, Christopher của Bavaria lên làm vua liên minh Kalmar, quân chủ Eric XIII và nhiếp chính Karl VIII cùng thoái vị. Đây là kết quả từ cuộc nổi loạn của Engelbrekt Engelbrektsson, vì sự bất mãn ngày càng tăng với vua Eric trong giới quý tộc Thụy Điển, Karl VIII đã tạo ra Rikshövitsman, một đơn vị hành chính tương đương với Thống đốc Quân đội của Vương quốc, và cuối cùng thay thế nhà vua thành một nhiếp chính được bầu từ 1438 đến 1440.[768] Trong lễ đăng quang của Christopher vào năm 1441, Karl VIII được mệnh danh là hiệp sĩ và được bổ nhiệm làm Lord High Justiciar của Thụy Điển. Sau cái chết của Christopher năm 1448, không có người thừa kế trực tiếp, Karl VIII đã chính thức được bầu làm vua Thụy Điển.[769] Năm 1457, một cuộc nổi loạn đã diễn ra, do Đức Tổng Giám mục Jöns Bengtsson (Oxenstierna) và một quý tộc, Erik Axelsson Tott lãnh đạo. Karl VIII đã phải sống lưu vong đến Danzig (Gdańsk), hai nhà lãnh đạo của cuộc nổi dậy đã lấy lại quyền lực, tự xưng nhiếp chính rồi tổ chức cuộc bầu cử Christian I của Đan Mạch làm vua (đầu tiên là ở Turku, sau đó ở Stockholm).[770] Năm 1464, vua Christian I bị đuổi ra khỏi Thụy Điển, Karl VIII lại được đưa lên ngôi báu. Năm 1465, ông lại bị lưu đày vì xung đột với Kettil Karlsson.[771] Năm 1467, nhiếp chính vương Erik Axelsson Tott, giờ đã trở lại để hỗ trợ Karl VIII, một lần nữa ông đã đăng quang. Karl VIII sau đó trị vì trong ba năm, chia sẻ quyền lực với Riksråd, cho đến khi ông qua đời ở Stockholm vào năm 1470.[772]

Christian I

Năm 1463, vua Christian I cãi nhau với đức Tổng Giám mục Kettil Karlsson vì chính sách thuế của ông, đức Tổng Giám mục đã bị cầm tù, dẫn đến một cuộc nổi loạn của những người thân của ông ta, và kết quả là Christian I bị đuổi ra khỏi Thụy Điển vào đầu năm 1464.[773] Karl VIII được phiến quân gọi lại và trở về đứng đầu một lực lượng lính đánh thuê người Đức và Ba Lan, Kettil Karlsson giữ quyền nhiếp chính.[774] Khi đến Thụy Điển, Karl VIII lại xảy ra có chiến tranh với đức Tổng Giám mục và sau hai trận chiến đẫm máu vào mùa đông năm 1465 Karl VIII lại bị lưu đày. Christian I trở lại Thụy Điển làm vua nhưng quyền lực đều nằm trong tay các nhiếp chính như Jöns Bengtsson Oxenstierna và sau đó là Erik Axelsson Tott, đến năm 1467 khi Karl VIII quay về Thụy Điển làm vua lần thứ tư thì Christian I lại bỏ chạy.[775] Nỗ lực cuối cùng của Christian I trong việc giành lại Thụy Điển đã kết thúc trong một thất bại quân sự hoàn toàn tại Brunkeberg (bên ngoài Stockholm) vào tháng 10 năm 1471, nơi ông bị đánh bại bởi lực lượng của nhiếp chính gia Thụy Điển Sten Sture the Elder.[776]

Jöns Bengtsson Oxenstierna

Năm 1457, Jöns Bengtsson Oxenstierna và Erik Axelsson Tott sau một giai đoạn ngắn nắm quyền đồng nhiếp chính Thụy Điển khi hạ bệ Karl VIII đều đã thoái vị để nhường chỗ cho Christian I của Đan Mạch ngồi lên ngôi báu khi ông này chính thức được công nhận là vua của Thụy Điển và đăng quang tại Stockholm.[777] Năm 1465, Jöns Bengtsson Oxenstierna đã thành công trong việc mang lại sự thoái vị của Karl VIII lần thứ ba, và công nhận Christian I một lần nữa là vua của Thụy Điển.[778] Ông đã đoạt được ngôi vị nhiếp chính lần thứ hai, trong thực tế ông nắm giữ quyền lực hiệu quả và điều hành các công việc như thể ông là chủ quyền thực sự.[779] Tuy nhiên, Jöns Bengtsson Oxenstierna đã không thể duy trì này, các phe phái chính trị đối lập đã lật đổ ông năm 1466, bầu Erik Axelsson Tott làm nhiếp chính.[780]

Năm 1457, Erik Axelsson Tott và Jöns Bengtsson Oxenstierna sau một giai đoạn ngắn nắm quyền đồng nhiếp chính Thụy Điển khi hạ bệ Karl VIII đều đã thoái vị để nhường chỗ cho Christian I của Đan Mạch ngồi lên ngôi báu khi ông này chính thức được công nhận là vua của Thụy Điển và đăng quang tại Stockholm.[777] Năm 1466, các phe phái bất mãn với Jöns Bengtsson Oxenstierna đã bầu Erik Axelsson Tott làm nhiếp chính lần thứ hai, trong đó Jöns Bengtsson Oxenstierna bị buộc phải nghỉ hưu.[781]

Sten Sture the Elder

Năm 1497, Sten Sture the Elder đã mất ngôi vị nhiếp chính với đa số quý tộc Thụy Điển, nổi bật nhất là Svante Nilsson, và Hội đồng Cơ mật Thụy Điển tuyên bố ông chính thức bị phế truất vào ngày 8 tháng 3.[782] Trong cuộc chiến sau đó, Sten Sture the Elder được hỗ trợ bởi các lực lượng nông dân, nhưng họ đã bị đánh bại tại Trận Rotebro bởi Hans của Đan Mạch (còn được gọi là vua John I của Đan Mạch và Na Uy), người đã xâm chiếm Thụy Điển vào tháng 7 cùng năm.[783] Sten Sture the Elder đầu hàng vua Hans ở Stockholm, Hans lên ngôi vua của Thụy Điển và Sten Sture the Elder được trao vị trí quyền lực cao nhất ở Thụy Điển chỉ dưới nhà vua.[784] Tuy nhiên, trong cuộc nổi dậy tiếp theo chống lại người Đan Mạch vào năm 1501, ông lại nhậm chức làm nhiếp chính, lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập của Thụy Điển cho đến khi qua đời.[785]

Vương quốc Na Uy và Vương quốc Đan Mạch[sửa | sửa mã nguồn]

Christian Frederick

Tháng 5 năm 1813, Christian Frederick đảm nhận vị trí người thừa kế ngai vàng Đan Mạch và đến Na Uy để làm thống đốc để cứu lòng trung thành của người Na Uy với người đồng sở hữu Đan Mạch - Na Uy, để triều đại của Frederick VI và các đồng minh của Napoleon đệ nhất sụp đổ cùng nhau.[786] Christian Frederick cố gắng duy trì mối quan hệ giữa hoàng gia Na Uy và hoàng gia Đan Mạch, nhưng vào tháng 1 năm 1814, Đan Mạch đã bị Thụy Điển đánh bại, Frederick VI cắt nhượng Na Uy cho Quốc vương Thụy Điển trong Hiệp ước Kiel.[787] Quốc hội triệu tập vào ngày 10 tháng 4 đã xác nhận cuộc bầu cử, ngày 17 tháng 5, Hiến pháp Na Uy đã chính thức được ký kết và Christian Frederick được nhất trí bầu làm Quốc vương Na Uy.[788] Christian Frederick đã kiên trì bảo vệ các quyền của Na Uy, nhưng nó đã không thành công, các quốc gia yêu cầu Na Uy thành lập liên minh với Thụy Điển theo Thỏa thuận Kiel và đề nghị Christian Frederick quay trở lại Đan Mạch.[789] Christian Frederick trả lời rằng ông là một quốc vương lập hiến và ông không thể làm gì cho đến khi được quốc hội Na Uy cho phép, quốc hội Na Uy sẽ không thông qua yêu cầu này cho đến khi Thụy Điển chấm dứt chiến sự.[790] Thụy Điển từ chối các điều kiện do Christian Frederick đặt ra và phái Thái tử Carl John tấn công Na Uy, quân đội Na Uy nhanh chóng mất đi, cuộc chiến ngắn này đã kết thúc sau khi ký Hiệp ước Rêu vào tháng 8 năm 1814.[791] Theo hiệp ước, Quốc vương Christian Frederick đã phải trả lại quyền lực cai trị cho quốc hội Na Uy, từ bỏ ngai vàng và sau đó trở về Đan Mạch. Quốc hội đã sửa đổi hiến pháp để cho phép Na Uy thành lập liên minh với Thụy Điển, vào ngày 4 tháng 11, quốc hội đã bầu Quốc vương Thụy Điển Carl XIII làm vua mới của liên minh Na Uy-Thụy Điển.[792] Năm 1839, Kitô hữu kế vị ngai vàng và dành cho Christian Frederick, ông lên làm vua Đan Mạch với đế hiệu Christian VIII.[793]

Vương quốc Na Uy[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Schleswig-Holstein-Sonderburg-Glücksburg:

Haakon VII

Na Uy đã bị xâm chiếm bởi lực lượng hải quânkhông quân của Đức Quốc xã trong những giờ đầu ngày 9 tháng 4 năm 1940, nhờ sự chậm trễ của Đức trong việc chiếm đóng Oslo, cùng với hành động nhanh chóng của Chủ tịch Storting (quốc hội), Carl Joachim "CJ" Hambro, đã tạo cơ hội cho Hoàng gia Na Uy, nội các và hầu hết 150 thành viên của Storting ra đi vội vàng từ thủ đô bằng tàu đặc biệt.[794] Trong nỗ lực quét sạch nhà vua và chính phủ kiên cường của Na Uy, những kẻ đánh bom Luftwaffe đã tấn công Nybergsund, phá hủy thị trấn nhỏ nơi chính phủ Na Uy đang ở, Nybergsund chỉ cách Thụy Điển chỉ có 16 dặm, nhưng chính phủ Thụy Điển quyết định sẽ "bắt giữ và tống giam" Vua Haakon VII nếu ông vượt qua biên giới của họ (vì người Thụy Điển tuyên bố trung lập trong cuộc chiến, hơn nữa chính Haakon VII lại là người ly khai Na Uy khỏi Thụy Điển).[795] Nhà vua Na Uy và các bộ trưởng của ông đã trú ẩn trong rừng phủ đầy tuyết và thoát khỏi sự tổn hại, tiếp tục đi xa hơn về phía bắc qua những ngọn núi về phía Molde trên bờ biển phía tây của Na Uy.[796] Khi các lực lượng vũ trang Anh trong khu vực bị mất đất dưới sự bắn phá của Luftwaffe, nhà vua và nhóm của ông đã được đưa lên tàu tuần dương Anh HMS Glasgow tại Molde và chuyển thêm 1.000 km (620 dặm) về phía bắc tới Tromsø, nơi một thủ đô tạm thời được thành lập.[797] Haakon VII và Thái tử Olav đã cư trú trong một cabin rừng ở thung lũng Målselvdalen ở quận Troms, nơi họ sẽ ở lại cho đến khi di tản đến Vương quốc Anh.[798] Với việc người Đức nhanh chóng áp đảo Pháp, Bộ tư lệnh tối cao của quân Đồng minh đã quyết định rằng các lực lượng ở miền bắc Na Uy nên rút lui, gia đình Hoàng gia và Chính phủ Na Uy đã được sơ tán khỏi Tromsø vào ngày 7 tháng 6 trên tàu HMS Devonshire với tổng số 461 hành khách.[799] Cuộc di tản này trở nên vô cùng tốn kém cho Hải quân Hoàng gia khi các tàu chiến Đức ScharnhorstGneisenau tấn công và đánh chìm tàu ​​sân bay HMS Glorious gần đó với các tàu khu trục hộ tống HMS AcastaHMS Ardent, HMS Devonshire đã không phát lại báo cáo về tầm nhìn của kẻ thù do Glorious thực hiện vì nó không thể tiết lộ vị trí của mình bằng cách phá vỡ sự im lặng của radio.[800] Không có tàu nào khác của Anh nhận được báo cáo về tầm nhìn, và 1.519 sĩ quan quân đội Anh cùng ba tàu chiến đã bị mất, HMS Devonshire đã đến London an toàn và vua Haakon VII và Nội các của ông đã thành lập một chính phủ Na Uy lưu vong ở thủ đô của Anh.[801] Nơi ở chính thức của nhà vua là Quân đoàn Na Uy tại 10 Palace Green, Kensington, nơi trở thành trụ sở của chính phủ Na Uy lưu vong, tại đây Haakon VII đã tham dự các cuộc họp nội các hàng tuần và làm việc về các bài phát biểu thường xuyên được đài phát thanh đến Na Uy phát sóng bởi Na Uy.[802] Những chương trình phát sóng này đã giúp củng cố vị trí của Haakon VII như một biểu tượng quốc gia quan trọng đối với cuộc kháng chiến của Na Uy, nhiều chương trình phát sóng được thực hiện từ Nhà thờ Na Uy của Saint OlavRotherhithe, nơi Hoàng gia là những người thờ phụng thường xuyên.[803] Haakon VII và Hoàng gia Na Uy đã trở về phục tịch trên chiếc tuần dương hạm HMS Norfolk, đến với Phi đội tuần dương hạm đầu tiên để cổ vũ đám đông ở Oslo vào ngày 7 tháng 6 năm 1945, đúng năm năm sau khi họ được sơ tán khỏi Tromsø.[804]

Albania[sửa | sửa mã nguồn]

Karl Topia

Vương công Albania:

Năm 1382, Balša Balšić đã chuẩn bị thực hiện một nỗ lực thứ tư để chinh phục Durrës, một trung tâm chiến lược và thương mại quan trọng, được cai trị bởi đối thủ của ông, Karl Thopia.[805] Năm 1383, Balša II bắt đầu một cuộc tấn công, bắt giữ Karl Thopia, và tự xưng là Công tước Dur Dur (Durrës).[806] Tuy Karl Thopia bị bắt làm tù binh nhưng trước đó từng cử sứ giả tới đế quốc Ottoman kêu gọi người Thổ Nhĩ Kỳ giúp đỡ, Murat I gửi một đội quân gồm 40.000 người do tướng Hajruddin Pasha lãnh đạo từ Macedonia kéo sang.[807] Năm 1385, ở vùng đồng bằng Savra giữa ElbasanLushnja, Balša II đã chiến đấu với người Thổ Nhĩ Kỳ và bị đánh bại và giết chết tại trận Savra, trên cánh đồng Saurian.[808] Người Ottoman đã chặt đầu Balša II và gửi nó như một món quà độc quyền cho Hajreddin Pasha, điều này đánh dấu sự kết thúc của sự cai trị của gia đình ông đối với Durazzo.[809] Karl Thopia được phóng thích, một lần nữa giành được quyền kiểm soát Durazzo, nhưng từ đó Albania thuộc phạm vi ảnh hưởng của đế quốc Ottoman.[810]

Các quốc gia Thập tự chinh[sửa | sửa mã nguồn]

Đế quốc Trapezous[sửa | sửa mã nguồn]

Ioannes II Megas Komnenos

Năm 1284, Ioannes II Megas Komnenos phải đối mặt liên tiếp từ hai mối đe dọa mới đối với triều đại của mình. Đầu tiên là từ người anh em cùng cha khác mẹ George, người đã trở lại Trebizond và thực hiện một nỗ lực không thành công để chiếm lấy ngai vàng, tiếp theo là chị gái cùng cha khác mẹ của ông, Theodora.[811] Kết quả, Theodora với sự giúp đỡ của vua David VI Narin xứ Imereti thuộc Gruzia, đã giành được vương miện từ người anh em cùng cha khác mẹ, phế truất Ioannes II Megas Komnenos, buộc ông phải quy y ở Tripolis.[812] Năm 1285, Ioannes II Megas Komnenos đã gây dựng lại lực lượng, mở cuộc tổng tấn công quy mô lớn đánh bại Theodora đoạt lại ngôi vị, sử sách không thấy tài liệu nào ghi chép về kết cục của vị nữ vương này ra sao sau khi Ioannes II Megas Komnenos phục bích.[813]

Chuyên chế quốc Ipeiros[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng Orsinio:

Năm 1337, các vụ xáo trộn đã nổ ra ở khu vực BeratKanina do các cuộc xâm nhập lãnh thổ của người Albania, Hoàng đế Đông La Mã Andronicus III đưa quân đến miền bắc Epirus với một đội quân gồm một phần của 2000 lính đánh thuê Thổ Nhĩ Kỳ để chấn áp. Các thành viên của tầng lớp quý tộc đã đầu hàng người Đông La Mã, họ bắt cóc Nicéphore II Orsini tới Tarente, giam giữ ông trong Ngôi nhà Capetian của Anjou-Sicily.[814] Năm 1339, phe chống Byzantine đã giúp Nicephorus II Orsini thoát khỏi nơi giam giữ, ông tới đế quốc La Tinh găp hoàng hậu Catherine II tại Tarentum với hy vọng bà hỗ trợ để phục hồi vương vị với sự giúp đỡ của Angevin.[815] Nhưng việc tái lập của Nikephoros II Orsini chưa được bao lâu thì quân đội Byzantine có được sự phục tùng của khu vực đã tấn công dồn dập, ông bị các đồng minh của mình bỏ rơi cho người Hy Lạp vào cuối chiến dịch vào năm 1340.[816] Khi cha vợ của Nikephoros II Orsini cố gắng củng cố mình trở thành hoàng đế John VI vào cuối cuộc chiến, ông đã nhận được danh hiệu cao quý nhất. Từ năm 1351 trở đi, ông phụ trách quản lý Ainos và các thị trấn dọc theo Hellespont.[817] Năm 1355, lợi dụng việc nối lại cuộc nội chiến Byzantine và cái chết của Hoàng đế Stephen Uresis IV, người đã chinh phục Epirus vào năm 1340, Nikephoros II Orsini trở về Hy Lạp và tập hợp các đồng minh của mình.[818] Lợi dụng tình trạng hỗn loạn do cái chết của thống đốc người Serbia ở Tiệp Khắc, Nicephorus II Orsini chiếm vùng này vào mùa xuân năm 1356 và tiến lên Epirus, trục xuất anh trai của hoàng đế của người Serbia Stephen Uresis IV, Simeon Uresis (người đã kết hôn với chị gái của Nicephorus II Orsini là Thomais Orsini) và củng cố quyền kiểm soát đối với các thành phố trong khu vực, cơ nghiệp chuyên chế quốc Ipeiros nhờ đó trung hưng.[819] Nhưng triều đại thứ ba của Nikephoros II Orsini cũng ngắn ngủi vì chiến loạn liên miên, kết thúc nó bị khuất phục vào cuối mùa xuân năm 1359 trong cuộc chiến ở bờ sông Achelous chống lại người Albani của Charles Thopia đã nổi dậy.[820]

Chuyên chế quốc Moria[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1349, Manuel Kantakouzenos nhờ lập công lớn trong cuộc chiến tranh Genzese Byzantine nên được vua cha John VI Kantakouzenos phong làm chư hầu, tuyên bố thành lập chuyên chế quốc Moria.[821] Manuel Kantakouzenos thiết lập trật tự trong đất phong của mình bằng cách đè bẹp sự phản đối của những người đáng chú ý địa phương (Archontes), thành công của ông đạt đến mức John VI Kantakouzenos bị buộc phải thoái vị bởi con rể đồng hoàng đế John V Palaeologus.[822] Năm 1350, John V Palaeologus đã cố gắng loại bỏ Manuel Kantakouzenos khỏi vị trí của kẻ chuyên quyền tại Moria bằng cách bổ nhiệm những người cai trị Moria lần lượt bằng các nhân vật như: Michael Asan và sau đó đến lượt Andrew Asan năm 1352, những người được giới quý tộc địa phương ủng hộ, không hài lòng với sự cai trị khắc nghiệt của Manuel Kantakouzenos.[823] Một cuộc nội chiến nổ ra ở Morea, tất cả các pháo đài đã rơi ra khỏi Manuel Kantakouzenos, ngoại trừ Mystra.[824] Nhưng Manuel Kantakouzenos không cam tâm, sự phản kháng ngoan cố của ông dẫn đến việc Asana bị buộc phải từ bỏ ý định khuất phục ông, và John V Palaeologussau đó đã nhận ra chủ quyền của Manuel Kantakouzenos, do vậy năm 1354 đôi bên đi đến thỏa thuận chung rằng vua cha John VI Kantakouzenos từ nhiệm để đổi lấy việc Manuel Kantakouzenos khôi phục vương quyền tại Moria.[825]

Công quốc Athens[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng họ Catalan:

Năm 1359, Gonsalvo Ximénez of Arenós được bổ nhiệm làm công tước Athens. Tuy nhiên, ngay trong năm đó Frederick III (quốc vương Sicily) lại trao quyền lực ở đây cho Matthew Moncada.[826] Bất chấp sự khăng khăng của nhà vua, Matthew Moncada đã không đến Hy Lạp và đang cố gắng cai trị bằng cách thiết lập các đại diện của các quý tộc Catalan bản địa, kết quả là tạo ra một trạng thái vô tổ chức trong công quốc với các quý tộc khác nhau cố gắng áp đặt sự lãnh đạo của họ trên tất cả các ducats hoặc khu vực.[827] Năm 1361, Peter de Pau lên cầm quyền, nhưng chỉ một năm sau Gonsalvo Ximénez of Arenós đã về phục vị, nhưng cũng chỉ một năm ông lại để mất ngôi về tay Matthew Monkada lần thứ hai.[828]

Vào thời điểm năm 1361, song song tồn tại hai phe phái đối lập thống trị Dukatsas của Athens và New Patras. Roger A de Laura, một công tước danh dự không chính thức của Athens từ năm 1361-1366, người chống lại mối quan hệ tốt đẹp với Venice và đó là lý do tại sao họ muốn liên minh và phụ thuộc vào Genova, đối thủ chính của nó.[829] Phe khác, do Peter de Pau lãnh đạo, phản đối các kế hoạch này. Từ năm 1361-1362, Peter de Pau được chỉ định bởi Matthew Monkada, nắm quyền thống trị công quốc Athens.[830] Từ năm 1362-1363 là giai đoạn phục hồi quyền lực của Gonsalvo Ximénez of ArenósMonkada, sau đó Matthew Monkada được bổ nhiệm lại, nhưng ông vẫn không đến Hy Lạp mà cử đại diện bởi một số người Catalans quý tộc, người nổi bật nhất trong số đó là Iakovos Fadrik có thẩm quyền và ôn hòa.[831]

Antonio I
Nerio II

Năm 1386, Bernard of Cornellà trên danh nghĩa là người cai trị công quốc Athens nhưng trên thực tế chưa bao giờ đặt chân sang Hy Lạp.[832] Người tiền nhiệm của ông này là Philip Dalmau Viscount of Rocaberti cũng chỉ ở Hy Lạp chính thức từ năm 1381-1382, sau đó giao lại quyền hành cai quản công quốc cho vị phó công tước Raymond de Vilanova cai trị cho đến năm 1386.[833] Peter of Pau tiếp quản chức vụ phó công tước từ Raymond de Vilanova, trợ thành người phụ tá đắc lực cho Bernard of Cornellà, đến khi Philip Dalmau Viscount of Rocaberti trở lại làm công tước năm 1387 ông vẫn giữ nguyên địa vị cho Peter of Pau, tình trạng này kéo dài cho đến khi dòng họ Acciaiolii lên thay thế chính trường Athens thì kết liễu.[834]

Dòng họ Acciaiolii:

Antonio I trở thành công tước Athens sau cái chết của cha mình năm 1394, nhưng ông bị cộng hòa Venice, những người thực thi di chúc của Nerio I trục xuất trong năm sau.[835] Theo di chúc của cha, ông được thừa hưởng lâu đài Livadeia và chính quyền thành phố Thebes. Từ năm 1395 đến 1402, một loạt các công tước được cộng hòa Venice chỉ định lần lượt lên cầm quyền như: Albano Contarini (1395–1397), Lorenzo Venier (1397–1399), Ermoaldo Contarini (1399–1400) và Nicolo Vitturi (1400–1402).[836] Năm 1402, Antonio I từ Thebes đem quân bao vây thành phố Athens và chiếm lấy nó, ông được dân chúng tuyên bố là công tước.[837]

Năm 1439, Acciaioli Antonio II đã đánh bại người em trai Nerio II để lên nắm quyền.[838] Nerio II trở lại quyền lực vào năm 1441 sau cái chết của anh trai mình, chấm dứt hai năm sống lưu vong ở Florence.[839]

Bohemundo I
Tancredo da Galileia
Baldwin II
Hethum II
Constantine III

Công quốc Antioch[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Hauteville:

Năm 1100, Bohemundo I thất trận bị bắt bởi Danismende Gazi, tiểu vương của Sivas, và bị giam cầm cho đến năm 1103 khi được Baldwin II giải cứu.[840] Trong thời kỳ này, Tancredo da Galileia bảo đảm vương quyền của Antioch với tư cách nhiếp chính.[841] Từ năm 1105 cho đến cuối đời, tuy trên danh nghĩa vẫn là công tước Antioch nhưng Bohemundo I thường xuyên vắng mặt, quyền điều hành đất nước đều nằm trong tay Tancredo da Galileia.[842]

Năm 1103, sau hai năm nhiếp chính bởi sự vắng mặt của Bohemundo I, Tancredo da Galileia đã trả lại quyền thống trị công quốc Antioch cho ông này khi đã thoát khỏi nơi giam giữ.[843] Nhưng đến năm 1105, ông được mời trở lại làm nhiếp chính bởi Bohemundo I liên tục tiến hành các chuyến hành trình tới Châu Âu, mục đích của ông ta là tuyển mộ quân tiếp viện với mục đích bảo vệ vị trí của mình.[844] Tuy nhiên, qua nhiều cuộc giao tranh quyết liệt, rốt cuộc Bohemundo I vẫn thất bại và mất năm 1111, Tancredo da Galileia tiếp tục vai trò nhiếp chính cho Bohemundo II cho tới khi qua đời một năm sau đó.[845]

Năm 1126, sau bảy năm cai quản công quốc Antioch với tư cách nhiếp chính theo lời mời của các quý tộc bởi vua Bohemundo II còn nhỏ, Baldwin II đã chủ động từ nhiệm khi nhà vua vừa tròn mười tám tuổi.[846] Năm 1130, Bohemond II tấn công Damascus, nhưng Thập tự quân đã bị đánh bại trong trận chiến Marje Alcafar.[847] Sau đó, ông trở lại phía bắc để phục hồi một số vùng lãnh thổ đã mất cho Vương quốc Cilicia của Armenia, Leo I của Armenia đã liên minh với tiểu vương danismendida Gazi Gümüshtigin và khiến quân đội Kitô giáo rơi vào một cuộc phục kích, Bohemond II chết trong trận chiến này.[848] Công chúa Constance kế vị mới bốn tuổi, do đó Baldwin II trở lại nhiếp chính lần thứ hai, nhưng khoảng hơn một năm sau thì ông mất.[849]

Nhà Poitiers:

Năm 1216, Bohemond IV đã liên minh với Az-Zahir Ghazi, tiểu vương Ayyubid của AleppoKaykaus I, sultan Seljuq của Rum, người thường xâm chiếm Cilicia trong những năm sau đó, để ngăn Leo I tấn công Antioch.[850] Mâu thuẫn giữa Bohemond IV và Giáo hoàng Latinh, Peter of Ivrea đã khiến cho ngai vàng của ông bị đe dọa, giáo hoàng giúp quân đội Cilician tiến vào Antioch vào ngày 14 tháng 2, các Hiệp sĩ từ bỏ thành cổ mà không gặp sự kháng cự nào đáng kể và Raymond-Roupen được đưa lên cai quản công quốc Antioch.[851] Người Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk ngay lập tức tấn công Cilicia, và Raymond-Roupen yêu cầu hỗ trợ từ Leo I. Tuy nhiên, mối quan hệ của họ ngày càng xấu đi và Raymond-Roupen có ý định bắt Leo I, sau đó đã được các Templar cảnh báo và trốn thoát đến Cilicia.[852] Không có sự ủng hộ của Leo I, Raymond-Roupen không thể giữ Antioch, ông ta đã đánh chiếm Jableh vào năm 1218 nhưng thấy mình thiếu tài nguyên, vì công quốc đã bị tàn phá bởi chiến tranh, việc tăng thuế khiến Raymond-Roupen không được lòng các đối tượng từng ủng hộ mình. Năm 1219, giới quý tộc Antioch đã đứng dậy và thuyết phục Bohemond trở về, ban đầu Raymond-Roupen tìm nơi ẩn náu trong thành, nhưng sau đó chạy trốn đến Cilicia.[853]

Vương quốc Kilikia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1293, Hethum II thoái vị ủng hộ anh trai Thoros III và vào tu viện dòng Phanxicô tại Mamistra, ông vẫn hoạt động trong chính trị của vương quốc, và đã thương lượng với nhà lãnh đạo Ai Cập Ketbougha để trả lại các tù nhân đã bị bắt tại Hromgla, cũng như cho một số di tích nhà thờ đã bị cướp phá.[854] Năm 1295, Thoros III yêu cầu Hethum II nối lại ngai vàng để giúp làm mới liên minh với đế quốc Mông Cổ, Hethum II đã thực hiện hành trình dài đến thủ đô của Mông Cổ, và đã có thể yêu cầu viện trợ thành công từ người Mông Cổ.[855] Năm 1296, Hethum II và Thoros III đã đặt Armenia dưới quyền nhiếp chính của anh trai Smbat I Hetumian và đến Constantinople để ban tặng em gái Rita của họ trên Hoàng đế Byzantine Michael IX Palaeologus. Tuy nhiên, trong thời gian vắng mặt, Smbat I Hetumian lợi dụng thời cơ đã chiếm lấy ngai vàng Armenia với sự trợ giúp của một người anh em khác, Constantine III.[856] Hethum II và Thoros III đều bị bắt ở Caesarea khi họ vừa trở về, và bị giam cầm trong pháo đài Partzerpert. Ở đó, Hethum II bị mù một phần do chấn thương, còn Thoros III bị sát hại ở Partzerpert năm 1298.[857] Nhưng Constantine III đã chống lại Smbat I Hetumian, chiếm lấy ngai vàng cho chính mình, giam cầm Smbat I Hetumian và Hethum II nhân lúc lộn xộn đã trốn thoát khỏi nơi ngục tối. Năm 1299, Hethum II đã phục hồi ít nhất một phần từ sự mù lòa của mình, lật đổ Constantin III và một lần nữa lấy lại vương miện lần thứ ba.[858]

Năm 1299, Constantine III bị Hethum II đánh đuổi khi còn chưa ngồi nóng chỗ trên ngai vàng, ông bị lưu đày đến Byzantium cùng Smbat I Hetumian.[859] Năm 1303, Hethum II do bị mất tinh thần bởi một thất bại của người Mông Cổ ở Marj as-Suffer đã thoái vị và từ giã đến một tu viện Franciscan, nhưng vẫn tiếp tục giúp đỡ cháu trai Leo IV (con trai của Thoros III) của với những lời khuyên trong vai trò cố vấn.[860] Năm 1307, Leo IV cùng với chú của mình là Hethum II đến Bilarghu, tiểu vương quốc Mông Cổ của Anazarbe, tại nơi hai người bị một sĩ quan Mông Cổ cuồng tín giết chết.[861] Constantine III thừa dịp trỗi dậy khôi phục quyền lực, nhưng chưa đầy một năm, ông đã hứng chịu thất bại bởi Oshin.[862]

Catherine Cornaro

Vương quốc Síp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1472, Catherine Cornaro kết hôn với quốc vương James II của Síp. Nhưng James II qua đời ngay sau đám cưới vì một căn bệnh bất ngờ và theo di nguyện của phu quân trước lúc lâm chung, Catherine Cornaro (lúc đó đang mang thai) đã trở thành nhiếp chính, trực tiếp cầm quyền chính trường Síp.[863] Khi con trai của họ James III chào đời, Catherine Cornaro đã đặt lên ngai vàng, cai trị từ 6 tháng 7 năm 1473 - 26 tháng 8 năm 1474.[864] Sau đó James III đột ngột từ giã cõi trần một cách bí ẩn, Catherine Cornaro quay trở lại ngôi vị, trở thành quân chủ cuối cùng của vương quốc Síp cho đến khi bà bị buộc phải thoái vị và bán chính quyền của đất nước cho Cộng hòa Venice.[865]

I Pha Nho[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 901, Nuño Nuñez mất quyền kiểm soát vương quốc Castilla, bởi vua cha Alfonso III đã bổ nhiệm Bá tước Gonzalo Téllez ngồi vào vị trí này. Năm 904, ông đã khôi phục lại địa vị cũ.[866] Năm 909, Nuño Nuñez ủng hộ cuộc nổi loạn của các con trai Alfonso III chống lại cha, vua Asturias, người sau khi thoái vị đã đưa Garcia lên ngai vàng của León và hai em trai, Ordoño IIFruela II, tương ứng trên ngai vàng của GaliciaAsturias.[867] Sau ngày này, Nuño Nuñez rời khỏi Castile, chuyển đến Vương quốc León, người anh em họ Gonzalo Fernández de Burgos lên ngôi.[868] Đến năm 914, theo lệnh vua Ordoño II Nuño Nuñez trở lại cai trị Castilla cho đến khi ông mất vào năm sau.[869]

Năm 914, Gonzalo Fernández de Burgos được thay thế bởi anh em họ của ông, Nuño Nuñez. Việc này thực thi theo lệnh của vua mới León, Ordoño II về nguyên tắc luân phiên lãnh đạo quận.[870] Nhưng năm 915, Nuño Nuñez bất ngờ tạ thế, Gonzalo Fernández de Burgos trở lại quyền lực.[871] Năm 916, Fernando Ansúrez I làm chủ Castilla, Gonzalo Fernández de Burgos chuyển đến Vương quốc León nhận nhiệm vụ mới, ông từng xuất hiện trong một hội nghị của Leonese quý tộc vào năm 920, trước trận chiến Valdejunquera.[872]

Fernán González

Năm 931, sau cái chết của Gutier Núñez, Gonzalo Fernández de Burgos được vua Ramiro II đưa trở lại làm vua xứ Castilla lần thứ ba cho đến khi mất vào năm sau.[873]

Năm 920, sau trận chiến Valdejunquera, Fernando Ansules I bị các tướng lĩnh quân sự cấp cao quyết định phế truất, vì lý do ông không đến kịp cùng với quân đội của mình để chỉ huy cuộc chiến, Fernando Ansules I theo tu viện của San Pedro de Cardeña và được thay thế bởi Nuño Fernández.[874] Năm 926, Fernando Ansules I đánh bại Nuño Fernández, qua đó giành lại quyền lực cho mình.[875]

Năm 944, Fernán González và Diego Muñoz đã thực hiện chế độ chuyên chế chống lại vua Ramiro II, và vẫn chuẩn bị chiến tranh.[876] Nhưng vua Ramiro II đã đánh bại và bắt sống họ, một người ở León và người kia ở Gordon, hai người đều bị giam cầm trong tù, vua Ramiro II đã trao lại chính quyền ở Castile cho Infante Sancho và Bá tước Ansur Fernández.[877] Sau khi nhốt Fernán González ở tù khoảng một năm, Ramiro II đã thả kẻ phản bội cho phép phục vị, nhưng không phải trước khi ông thề trung thành, mà để tôn trọng thỏa thuận, ngay sau đám cưới diễn ra giữa con gái của ông, Urraca Fernández, và con trai riêng của nhà vua và người thừa kế, Ordoño III.[878]

Vương quốc León[sửa | sửa mã nguồn]

Sanche I

Triều đại Astur-Leonese:

Năm 958, giới quý tộc của Leon quyết định sa thải nhà vua Sanche I vì bệnh béo phì, điều này ngăn cản ông cưỡi ngựa.[879] Ordoño IV, được trao vương miện tại Santiago de Compostela với sự giúp đỡ của Bá tước Ferdinand González. Sanche I phải lánh nạn ở Pamplona, ở đó ông nhờ sự giúp đỡ của Caliph ở Cordoba, người đã gửi bác sĩ và nhà ngoại giao Hasdai ben Shatprut của mình đến Pamplona để chăm sóc cho cựu vương thừa cân, do việc điều trị kéo dài nên Sanche I được mời đến Cordoba.[880] Vào năm 959, Sanche I đã chữa lành bệnh, ông quyết tâm giành lại ngai vàng sau khi chiếm Zamora. Thủ đô León được lấy vào năm sau và Ordoño IV buộc phải lánh nạn ở Asturias, sau đó chạy sang Burgos, ông này cố gắng vô ích để có được sự giúp đỡ của Abd al-Rahman III nhằm tái chiếm vương quốc của mình nhưng thất bại.[881] Về phần Sanche I, ông đã làm mới lại nền hòa bình được Ordoño IV thông qua với caliph, hoàn tất việc trao mười pháo đài để trả giá cho sự can thiệp quân sự của họ.[882]

Nhà nước Caliphate Córdoba[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1009, trong khi Abd al-Rahman Sanchuelo tiến hành chiến tranh chống lại Alfonso V ở León, Muhammad II al-Mahdi đã chiếm lấy ngai vàng từ tay Abu l-Walid Hischam II. al-Mu'ayyad bi-llah sau đó bắt giữ ông làm con tin ở Cordoba.[883] Vào tháng 11 cùng năm, chỉ vài tháng sau khi bắt đầu sự kiểm soát của mình với tư cách là người cai trị Caliphate, Muhammad II al-Mahdi đã bị lật đổ bởi một đội quân Berber chủ yếu của Sulaiman al-Mustain trong trận chiến Alcolea. Sau trận chiến, Muhammad II al-Mahdi bị đày đến Toledo, lúc đó Sulaiman al-Mustain đã bao vây thành phố Cordoba, giải thoát Abu l-Walid Hischam II. al-Mu'ayyad bi-llah[884] khỏi nhà tù diễn ra dưới sự cai trị của Muhammad II al-Mahdi. Sulayman ibn al-Hakam được quân đội Berber của ông bổ nhiệm làm Caliphate và duy trì vị trí đó cho đến khi Muhammad II al-Mahdi tái chiếm lãnh thổ vào tháng 5 năm 1010. Cuối cùng, quân Slav của Caliphate dưới thời Al-Wahdid đã khôi phục Abu l-Walid Hischam II. al-Mu'ayyad bi-llah thành Caliphate vào cuối năm đó.[885]

Năm 1009, Muhammad II al-Mahdi lật đổ được Abu l-Walid Hischam II. al-Mu'ayyad bi-llah nhưng không giữ nổi ngai vàng, bởi sau đó Sulaiman al-Mustain đã hưng binh thảo phạt khiến ông bị bắt làm tù binh.[886] Năm 1010, tuy ông trốn thoát khỏi nơi giam giữ, cố gắng tái chiếm lãnh thổ nhưng lại chịu thất bại bởi Al-Wahdid nên đành phải rút lui khỏi chính trường.[887]

Năm 1010, Sulaiman al-Mustain bị mất ngôi bởi quân Slav của Caliphate dưới thời Al-Wahdid đã khôi phục Abu l-Walid Hischam II.[888] al-Mu'ayyad bi-llah. Đến khi Abu l-Walid Hischam II. al-Mu'ayyad bi-llah bị giết bởi Berbers vào ngày 19 tháng 4 năm 1013 thì Sulaiman al-Mustain đã quay trở lại phục bích, chính sách nhượng bộ của ông đối với quân đội và lãnh đạo Berbers, Ả Rập và "nô lệ", đã giảm hiệu quả quyền lực của caliphate xuống chỉ còn Córdoba.[889] Trong khi đó, Zirids của Granada đã hình thành một triều đại độc lập. Năm 1016, Córdoba đã bị tấn công bởi một đội quân Berber lớn dưới quyền thống đốc của vua Lutudid, Sulaiman al-Mustain bị cầm tù và ngay sau đó bị chặt đầu.[890]

Năm 1021, Al-Qasim al-Ma'mun ibn Hammud bị mất ngôi bởi người cháu ruột Yahya ibn Ali ibn Hammud al-Mu'tali phải đi lánh nạn ở Seville.[891] Năm 1023, ông đánh bại Yahya ibn Ali ibn Hammud al-Mu'tali để giành lại ngôi báu, nhưng chưa bao lâu bị lật đổ bởi đảng Umayyad, họ đã đưa Abd ar-Rahman V lên làm caliphate.[887]

Nhà nước Caliphate Córdoba và Taifa của Málaga[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1023, Yahya ibn Ali ibn Hammud al-Mu'tali chấp nhận thua người chú ruột Al-Qasim al-Ma'mun ibn Hammud.[892] Nhưng Al-Qasim al-Ma'mun ibn Hammud cũng chẳng giữ nổi địa vị khi đảng Umayyad đưa Abd ar-Rahman V lên ngôi, năm 1023 Abd ar-Rahman V bị sát hại bởi một đám đông công nhân thất nghiệp, đứng đầu là một trong những người anh em họ của ông ta. Năm 1024, Muhammad bin 'Abd ar-Rahman bin' Obayd Allah nắm giữ quyền lực, đến năm 1025 thì quần chúng nổi dậy đánh đuổi ông này, Muhammad bin 'Abd ar-Rahman bin' Obayd Allah bỏ trốn sang Zaragoza.[893] Sáu tháng sau, nhân dân kêu gọi Yahya ibn Ali ibn Hammud al-Mu'tali phục bích. Vào năm 1026, các cuộc bạo loạn xảy ra ở Córdoba đã gây ra sự kết thúc cuối cùng của triều đại Hammudid, người dân đã trục xuất Yahya ibn Ali ibn Hammud al-Mu'tali và bầu ra vị caliphate cuối cùng, Umayyad Hisham III.[894] Sau khi bị trục xuất dứt khoát khỏi Córdoba, năm 1027 Yahya ibn Ali ibn Hammud al-Mu'tali đã tạo ra vương quốc độc lập ở Málaga, nơi ông cai trị cho đến khi qua đời.[895]

Taifa của Málaga[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1046, có một cuộc nổi loạn chống lại Idris II al-Ali bắt đầu ở pháo đài Ayrus, nơi hai anh em họ của ông, Muhammad I ibn al-Qasimal-Hassan đang bị cầm tù.[896] Đến năm 1047, Idris II al-Ali đi săn mà không biết chuyện gì đang xảy ra, nhưng ngay khi ông băng qua các bức tường của thành phố, những kẻ bạo động đã đóng cửa và tung hô Muhammad I ibn al-Qasim là caliphate.[897] Năm 1053, Idris III al-Sami giành quyền kiểm soát Málaga, nhưng chỉ ít lâu sau Idris II al-Ali đã quay trở lại ngôi báu. Đến năm 1055, khi Muhàmmad II quật khởi thì Idris II al-Ali mới thất bại và bị tiêu diệt hoàn toàn.[898]

Triều đại Bourbon[sửa | sửa mã nguồn]

Philip V
Fernando VII

Năm 1724, vua Philip V nhường ngôi cho con trai là Luis I.[899] Tuy nhiên cuộc thay bậc đổi ngôi này chỉ kéo dài được bảy tháng thì Luis I qua đời vì bệnh đậu mùa, Philip V buộc phải lên ngôi lần thứ hai vì hoàng tử thứ hai của ông, về sau là vua Ferdinand VI chưa đến tuổi trưởng thành.[900] Lý do của hành động thoái vị này hiện còn đang bị tranh cãi, một giả thuyết cho rằng Philip V, người đã biểu hiện nhiều yếu tố bất ổn về tinh thần trong suốt triều đại của ông, không muốn cai trị do đầu óc căng thẳng.[901] Giả thuyết thứ hai cho rằng sự thoái vị này đến từ nội bộ gia tộc Bourbon, các thành viên trong hoàng gia Pháp gần dây tử vong rất nhiều do bệnh tật. Từ khi Philip V thoái vị chỉ một tháng sau cái chết của Công tước Orléans, người nhiếp chính cho vua Louis XV, việc thiếu người thừa kế có thể dẫn đến nguy cơ về cuộc chiến tranh mới trên lục địa.[902] Philip V là một hậu duệ hợp pháp của Louis XIV, nhưng vấn đề trở nên phức tạp bởi Hiệp ước Utrecht, cấm một liên minh cá nhân giữa Pháp và Tây Ban Nha. Giả thuyết giả định rằng Philip V hy vọng rằng bằng cách thoái vị ở Tây Ban Nha, ông có thể phá vỡ Hiệp ước và được quyền lên ngôi vua ở Pháp.[903]

Năm 1808, một cuộc nổi dậy đã diễn ra ở Tây Ban Nha và quốc vương Carlos IV buộc phải tuyên bố thoái vị để nhường ngôi cho con trai là Fernando VII.[904] Chẳng bao lâu, Napoléon I của đệ nhất đế chế Pháp đem quân sang, phế truất Fernando VII để lập anh trai mình là Joseph I lên làm vua Tây Ban Nha.[905] Năm 1812, Fernando VII đề xuất hiến pháp tự do với Joseph I cho nên vị vua này mới quay về Pháp trao quyền nhiếp chính Tây Ban Nha cho ông. Năm 1813, Napoléon I chấp nhận hiến pháp tự do nên đồng ý cho Fernando VII trở lại ngai vàng, nhưng phải chờ sau khi Đế chế Napoléon I sụp đổ, Fernando VII mới chính thức khôi phục được quyền lực thực sự của mình.[906]

Bồ Đào Nha[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Bồ Đào Nha và Algarves[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Braganza:

  • Dona Maria II Maria da Glória Joana Carlota Leopoldina da Cruz Francisca Xavier de Paula Isidora Micaela Gabriela Rafaela Gonzaga (tại vị:1826-1828)(phục vị:1834-1853)
Dona Maria II

Năm 1828, Miguel I tuyên bố cướp chính quyền từ tay cháu gái Dona Maria II.[907] Trận chiến kế vị của ông ta và anh trai Pedro I của Brazil và IV của Bồ Đào Nha kết thúc năm 1834 khiến Miguel I phải thoái vị và trả lại ngôi báu cho cháu gái Maria II, Miguel I lui về làm công tước Braganza cho đến hết đời.[908] Sự kiện trên khởi nguồn từ cuộc khủng hoảng kế vị sau khi vua John VI qua đời, nhà vua có một người con trưởng là Pedro I, nhưng Pedro I đã tuyên bố nền độc lập của Brazil vào năm 1822 với chính mình là Hoàng đế.[909] Nhà vua quá cố còn một người con trai thứ Miguel I, nhưng Miguel I đã bị đày đến Áo sau khi lãnh đạo một số cuộc cách mạng chống lại cha mình.[910] Trước khi qua đời, John VI đã đề cử con gái của mình, Infanta Isabel Maria, làm nhiếp chính cho đến khi "người thừa kế hợp pháp trở về vương quốc" - nhưng nhà vua lại không xác định được con trai mình là người thừa kế hợp pháp: Pedro I (Hoàng đế tự do của Brazil) hay Miguel I (hoàng tử lưu vong).[911] Hầu hết mọi người coi Pedro I là người thừa kế hợp pháp, nhưng dân chúng Brazil không muốn ông này hợp nhất ngai vàng của Bồ Đào Nha và Brazil.[912] Nhận thức được rằng những người ủng hộ em trai của mình đã sẵn sàng để đưa Miguel I trở lại và đưa ông này lên ngai vàng, Pedro I quyết định cho một lựa chọn đồng thuận hơn, ông ta sẽ từ bỏ yêu sách của mình cho ngai vàng Bồ Đào Nha để ủng hộ con gái Dona Maria II (lúc đó mới 7 tuổi), và rằng cô sẽ kết hôn với chú ruột Miguel I, người sẽ chấp nhận hiến pháp tự do và hành động như một nhiếp chính cho đến khi cháu gái của ông ta chiếm đa số.[913] Miguel I giả vờ chấp nhận, nhưng khi tới Bồ Đào Nha, ông ta ngay lập tức phế truất Dona Maria II và tự xưng là vua, bãi bỏ hiến pháp tự do trong quá trình này. Năm 1831, Pedro I đã từ bỏ vương miện của Brazil, truyền ngôi cho con trai Pedro II, và đến Châu Âu cùng với con gái Dona Maria II (bấy giờ đã lưu vong sang Brazil) để ủng hộ quyền của con gái ông với vương miện từ Bồ Đào Nha và gia nhập lực lượng trung thành với Dona Maria II ở Azores trong cuộc chiến chống lại Miguel I.[914] Pedro I lấy danh hiệu Công tước xứ Braganza và Nhiếp chính nhân danh con gái Dona Maria II, sau đó tiến hành cuộc bao vây Porto và một loạt các trận quyết chiến đẫm máu để kết cục giành lấy thắng lợi tuyệt đối.[915] Pedro I đến Lisbon và triệu tập con gái Dona Maria II từ Paris về nước, buộc Miguel I phải thoái vị.[916] Dona Maria II được khôi phục lại ngai vàng, và đã hủy bỏ hôn ước với chú ruột của mình, nhưng chưa được bao lâu, cha cô đã qua đời vì bệnh lao. Trước đây, Dona Maria II từng làm công tước xứ Braganza (1822-1826) và sau đó là công tước xứ Porto (1833-1838).[917]

Pháp Lan Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc NeustriaVương quốc Burgund[sửa | sửa mã nguồn]

Theodoric III

Năm 673, vua Chlothar III qua đời và Theodoric III kế vị anh trai mình trở thành quân chủ của Newstria và Burgundy.[918] Tuy nhiên, người anh thứ hai của ông là Childeric II đã sớm nhận được sự ủng hộ của giới quý tộc Newcastle nên đưa quân xâm chiếm rồi truất ngôi Theodoric III.[919] Năm 675, Childeric II áp dụng hình phạt bất hợp pháp của đối với nhà quý tộc tên Bodilo, điều này khiến Bodilo ôm hận nên phối hợp cùng những người bạn của mình là AmalbertIngobert lập kế hoạch ám sát nhà vua cùng với hoàng hậu Bilichild và hoàng tử mới năm tuổi của ông ta Dagobert, trong khi đi săn trong rừng Livry (Lognes ngày nay).[920] Tidrick III nhờ đó lại lên ngôi và trở thành vua của Newstralia và Burgundy lần thứ hai, khi Dagobert II qua đời vào năm 679, Tidrick III cũng đã nhận được Austrasia và trở thành vua của cả vương quốc Frankish.[921]

Đế quốc Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Đệ nhất Đế chế Pháp:

  • Napoléon I (tại vị:1804-1814)(phục vị:20/3/1815—22/6/1815)
Napoléon I

Năm 1813, Sau cuộc Chiến tranh Liên minh thứ sáu, Napoléon I rút quân về Pháp, quân Liên minh tiến hành bao vây nước Pháp, đã đánh bại Napoléon trong những trận đánh quan trọng tại LaonArcis-sur-Aube, và tiến chiếm Paris vào năm 1814.[922] Khi Napoléon đề xuất hành quân tới thủ đô, các thống chế của ông quyết định gây binh biến, Thống chế Michel Ney lãnh đạo cuộc tạo phản này đã lật đổ Napoléon.[923] Napoléon khẳng định rằng quân đội sẽ theo ông, và Michel Ney đáp lại rằng quân đội sẽ theo những vị tướng của nó, Napoléon không có lựa chọn nào ngoài thoái vị.[924] Ông quyết định nhường ngôi cho con là Napoléon II nhưng Liên minh từ chối điều này, Napoléon buộc phải từ bỏ không chỉ các quyền của mình đối với ngai vàng của Pháp, mà cả của con cháu ông.[925] Louis XVIII được liên minh thần thánh gồm: Phổ, Nga, ÁoAnh hộ tống lên làm vua.[926] Trong hiệp ước Fontainebleau, những người chiến thắng đày Napoléon I tới Elba, một hòn đảoĐịa Trung Hải, cách bờ biển Toscana 20 km.[927] Napoléon I đã tạo dựng một đội quân và cả một lực lượng hải quân nhỏ trên đảo, phát triển các mỏ sắt, và ra những sắc lệnh liên quan đến phương thức canh tác nông nghiệp hiện đại.[928] Napoléon trốn khỏi Elba ngày 26 tháng 2 năm 1815, ông cập bến ở Golfe-Juan trên đất liền Pháp hai ngày sau đó.[929] Napoléon tiếp cận đội quân một mình, xuống ngựa và khi đứng trong tầm đạn, ông hét lên: "Ta ở đây. Giết Hoàng đế của các người đi, nếu các người muốn". Những người lính đáp lại bằng tiếng hô "Hoàng đế Vạn tuế!" và hành quân cùng Napoléon tới Paris, Louis XVIII bỏ chạy.[930] Các cường quốc tại hội nghị Viên đã tuyên bố Napoléon là kẻ ngoài vòng pháp luật, và bốn ngày sau Anh, Nga, Áo và Phổ kết hợp một lần nữa để gửi mỗi nước 15 vạn quân tới chiến trường để chấm dứt nền cai trị của ông.[931] Lần phục vị này kết thúc bởi trận Waterloo, trên lịch sử gọi là triều đại Một trăm ngày, Napoléon I bị tống giam và sau đó lưu đày tới đảo Saint Helena trên Đại Tây Dương, cách bờ biển Tây Phi 1.870 km.[932]

Bourbon phục hoàng:

  • Louis XVIII (tại vị:6/4/1814-20/3/1815)(phục vị:8/7/1815-16/9/1924)
Louis XVIII

Năm 1814, sau khi đánh bại và cầm tù Napoléon I, Louis XVIII được liên minh thần thánh nhất trí lập làm vua nước Pháp.[933] Năm 1815, việc Napoléon I trở lại phục vị khiến ông sợ hãi phải bỏ chạy đến vùng Le Cateau-Cambrésis lánh nạn.[934] Nhưng triều đại thứ hai của Napoléon I chỉ tồn tại không đầy 100 ngày thì bị tứ đại cường quốc lúc bấy giờ là: Anh, Nga, Áo, Phổ tập hợp binh lực tiêu diệt.[935] Napoléon I thất thế buộc phải từ ngôi lần thứ hai vì lợi ích của đứa con trai bốn tuổi của mình, ủy ban chính phủ của năm thành viên đã thống trị Pháp, đang chờ đợi sự trở lại của vua Louis XVIII, họ nắm giữ quyền lực trong hai tuần, nhưng chưa bao giờ chính thức triệu tập Napoleon II làm Hoàng đế hoặc chỉ định một người đại diện.[936] Lối vào của quân Đồng minh vào Paris vào ngày 7 tháng 7 đã mang lại một kết thúc nhanh chóng cho những mong muốn của người ủng hộ ông, Napoléon II đã định cư tại Áo với mẹ và chắc chắn là không biết rằng ông đã được tuyên bố Hoàng đế về việc cha ông từ bỏ.[937] Louis XVIII quay về Pháp tái đăng cơ, trên lịch sử gọi sự kiện này là Bourbon phục hoàng.[938]

Thân vương quốc Andorra[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1396, Thân vương quốc Andorra bị Vương quốc Aragon sáp nhập, Galcerand de Vilanova do đó mất ngôi.[939] Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau, ông đã khôi phục lại chính quyền do quân đội Aragon triệt thoái bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.[940]

Năm 1396, Thân vương quốc bị Vương quốc Aragon sáp nhập, Mathieu de Foix do đó mất ngôi.[941] Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau, ông đã khôi phục lại chính quyền do quân đội Aragon triệt thoái bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.[942]

Năm 1512, lần thứ hai trong lịch sử nhân loại, Vương quốc Aragon lại chiếm đóng Thân vương quốc Andorra.[943] Pere de Cardona thất thế phải bỏ chạy, cuộc chinh phục này kéo dài hơn một năm thì chấm dứt bởi những thỏa thuận đạt được thông qua nhất trí của cả hai bên, ông được đưa trở lại ngôi báu.[944]

Năm 1512, lần thứ hai trong lịch sử nhân loại, Vương quốc Aragon lại chiếm đóng Thân vương quốc Andorra.[945] Catherine thất thế phải bỏ chạy, cuộc chinh phục này kéo dài hơn một năm thì chấm dứt bởi những thỏa thuận đạt được thông qua nhất trí của cả hai bên, bà được đưa trở lại ngôi báu.[946]

Napoléon Bonaparte thoái vị

Năm 1814, Hoàng đế Pháp Napoléon Bonaparte bị liên minh 4 nước: Anh, Nga, Áo, Phổ đánh bại, địa vị của ông tại Thân vương quốc Andorra cũng mất luôn.[947] Louis XVIII lên ngôi chưa bao lâu thì Napoléon Bonaparte trốn khỏi nơi giam giữ khôi phục cơ đồ, nhưng triều đại lần hai cũng chỉ kéo dài không đến 100 ngày thì đã bị quật đổ.[948]

Năm 1815, Louis XVIII phải bỏ trốn vì sự phục bích của Napoléon Bonaparte.[949] Tuy nhiên 97 ngày sau, khi liên minh tứ đại cường quốc đánh tan được Napoléon Bonaparte, ông đã trở lại vị trí từng có của mình.[950]

Thân vương quốc Monaco[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Grimaldi:

Ngày 19/12/1395, sau ngót một năm đồng cai trị, Louis I và Jean I đều bị buộc phải thoái vị, Thân vương quốc Monaco được đặt dưới sự kiểm soát của nước cộng hòa Genova.[951] Năm 1397, Louis I khôi phục quyền lực khi nước cộng hòa Genova quyết định trao trả độc lập cho Monaco.[952]

Ngày 19/12/1395, sau ngót một năm đồng cai trị, Louis I và Jean I đều bị buộc phải thoái vị, Thân vương quốc Monaco được đặt dưới sự kiểm soát của nước cộng hòa Genova.[953] Năm 1402, Louis I qua đời, Monaco lại bị cộng hòa Genova sáp nhập.[954] Đến năm 1419, cộng hòa Genova xây dựng lại Thân vương quốc Monaco, Jean I lên ngôi lần thứ hai, ban đầu đồng cai trị cùng hai người anh em của mình là Ambrogio Grimaldi (cho đến năm 1433) và Antonio Grimaldi (cho đến năm 1427), giai đoạn năm 1433-1436 chỉ còn một mình Jean I cầm quyền.[955] Từ ngày 03/10/1436-01/11/1436, Monaco bị chiếm đóng bởi Công quốc Milan, dưới sự thống lĩnh của công tước Biagio Assereto.[956] Tiếp theo đó, Jean I trục xuất được Biagio Assereto và giữ vai trò chúa tể ở đây cho đến hết quãng đời còn lại.[957]

Đại công quốc Luxembourg[sửa | sửa mã nguồn]

Charlotte

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đại gia đình nữ đại công tước Charlotte đã rời khỏi Luxembourg ngay trước khi quân đội Đức Quốc xã xuất hiện, tính trung lập của Luxembourg bị vi phạm nghiêm trọng vào ngày 9 tháng 5 năm 1940, trong khi Đại công tước và gia đình bà đang ở Colmar-Berg.[958] Hôm đó, bà gọi một cuộc họp bất thường của các bộ trưởng hàng đầu của mình và tất cả họ quyết định đặt mình dưới sự bảo vệ của Pháp, được Đại công tước mô tả là một quyết định khó khăn nhưng cần thiết.[959] Ban đầu, gia đình đã cư trú tại Château de Montastruc ở miền tây nam nước Pháp, nhưng sự xâm nhập nhanh chóng của lực lượng Đức vào Pháp sau đó là sự đầu hàng của Pháp vào tháng tới khiến chính phủ Pháp từ chối bất kỳ sự bảo đảm nào về an ninh cho chính phủ Luxembourg bị lưu đày, giấy phép đã được nhận để vượt qua Tây Ban Nha với điều kiện họ không dừng lại trên đường và Nữ công tước với các bộ trưởng của bà chuyển đến Bồ Đào Nha.[960] Vào ngày 29 tháng 8 năm 1940, Charlotte đã ở London - Anh Quốc, nơi bà bắt đầu thực hiện các chương trình phát sóng ủng hộ về quê hương của mình bằng cách sử dụng BBC.[961] Năm 1943, Charlotte và chính phủ Luxembourg đã tự thành lập tại Luân Đôn, các chương trình phát sóng của bà trở thành một đặc điểm thường xuyên hơn trong lịch trình của BBC, biến bà thành một trọng tâm cho các phong trào kháng chiến chống Đức cứu nước ở Luxembourg.[962] Năm 1945, Đức quốc xã đầu hàng quân đồng minh, Charlotte trở về tổ quốc dưới sự chào đón nhiệt liệt của quần chúng.[963]

Hà Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Thân vương quốc Orange-Nassau[sửa | sửa mã nguồn]

Willem I

Năm 1806, công tước Willem I của Công quốc Nassau-Orange-Fulda tiếp quản thân vương quốc Orange-Nassau sau khi cha của ông là William V qua đời.[964] Cũng năm đó, Napoléon I xâm chiếm Đức và chiến tranh nổ ra giữa Đế quốc Pháp và Phổ, Willem I đã ủng hộ người thân Phổ của mình, mặc dù trên danh nghĩa ông là một chư hầu của Pháp.[965] Ông nhận được chỉ huy của một sư đoàn Phổ tham gia Trận Jena mật Auerstedt, quân Phổ đã thua trận chiến đó và Willem I buộc phải đầu hàng.[966] Ông bị bắt làm tù binh chiến tranh, nhưng đã được tạm tha sớm, Napoleon I đã trừng phạt ông vì sự phản bội bằng cách không cho Willem I được phép tham gia chiến sự nữa.[967] Sau thất bại của Napoléon I tại Leipzig tháng 10 năm 1813, quân đội Pháp đã rút về nước từ khắp các chiến trường châu Âu.[968] Trong khoảng trống quyền lực tiếp theo, một số cựu chính trị gia Orangist và cựu người yêu nước đã thành lập một chính phủ lâm thời vào tháng 11 năm 1813.[969] Mặc dù một số lượng lớn các thành viên của chính phủ lâm thời đã giúp đuổi William V mười tám năm về trước, nhưng điều đó được cho là của ông con trai sẽ phải đứng đầu bất kỳ chế độ mới.[970] Họ cũng đồng ý rằng về lâu dài, người Hà Lan sẽ tự phục hồi Willem I, thay vì các cường quốc áp đặt ông lên đất nước.[971] Sau khi được Driemanschap (Triumvirate) mời vào ngày 30 tháng 11 năm 1813, Willem I rời khỏi chiến binh HMS và đáp xuống bãi biển Scheveningen, ông trở lại vị trí công tước Orange-Nassau lần thứ hai, đến năm 1815 ông chính thức được chính phủ lâm thời đề nghị lên làm vua Hà Lan.[972]

Vương quốc Hà Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Wilhelmina Helena Pauline Maria

Năm 1940, phát xít Đức tấn công Hà Lan, nữ hoàng Wilhelmina Helena Pauline Maria và gia đình của bà chạy trốn khỏi The Hague, lên tàu HMS Hereward, một tàu khu trục của hải quân Anh, đi thẳng qua biển Bắc.[973] Tại Anh Quốc, Wilhelmina Helena Pauline Maria phụ trách chính phủ Hà Lan lưu vong, thiết lập một chuỗi chỉ huy và ngay lập tức truyền thông điệp đến người dân của mình.[974] Nhưng quan hệ giữa chính phủ Hà Lan và bà rất căng thẳng, với sự không thích lẫn nhau ngày càng tăng khi chiến tranh tiến triển, Wilhelmina Helena Pauline Maria tiếp tục là nhân vật nổi bật nhất, nhờ kinh nghiệm và kiến ​​thức của mình, bà được kính trọng trong số các nhà lãnh đạo của thế giới.[975] Thủ tướng Hà Lan Dirk Jan de Geer tin rằng quân Đồng minh sẽ không giành chiến thắng và có ý định mở các cuộc đàm phán với Đức vì một nền hòa bình riêng biệt, do đó Wilhelmina Helena Pauline Maria đã tìm cách loại bỏ ông này khỏi quyền lực, với sự giúp đỡ của một bộ trưởng, Pieter Gerbrandy, bà đã thành công.[976] Khi Hà Lan được giải phóng vào tháng 3 năm 1945, Wilhelmina Helena Pauline Maria trở về cố quốc nhưng đã thất vọng khi thấy các phe phái chính trị lên nắm quyền lực như trước chiến tranh, bà đưa ra quyết định không trở lại cung điện của mình mà chuyển đến một biệt thự ở The Hague.[977] Cùng thời gian đó, sức khỏe của Wilhelmina Helena Pauline Maria bắt đầu suy nhược, buộc bà phải tạm thời giao nhiệm vụ quân chủ cho con gái Juliana vào cuối năm 1947.[978] Nhưng đầu năm 1948, Juliana đã ép mẹ ở lại vì sự ổn định của quốc gia, thúc giục bà ở lại ngai vàng cho đến năm 1950 để có thể ăn lễ mừng thọ kim cương 70 tuổi của mình.[979]

Juliana

Wilhelmina Helena Pauline Maria từng có ý định làm như vậy, nhưng sự kiệt sức đã buộc bà phải từ bỏ nghĩa vụ quân chủ cho Juliana một lần nữa vào ngày 12 tháng 5 năm 1948, thời điểm này thật không may, vì nó đã khiến Juliana phải đối phó với cuộc bầu cử sớm do sự nhượng lại của các thuộc địa Indonesia.[980] Thất vọng vì trở lại chính trường trước chiến tranh và sự mất mát đang chờ xử lý của Indonesia, Wilhelmina Helena Pauline Maria thoái vị vào ngày 4 tháng 9 năm 1948.[981]

Năm 1947, Wilhelmina Helena Pauline Maria do sức khoẻ kém nên đã chuyển giao quyền lực chính trị cho con gái Juliana.[982] Tuy nhiên, Juliana vì sự ổn định quốc gia đã trả ngai vàng cho mẹ vào đầu năm 1948 và ép mẹ nên ở lại đến năm 1950,[983] nhưng Wilhelmina Helena Pauline Maria không thể trụ nổi trên cương vị quân chủ đành phải trao quyền cai trị Hà Lan cho con gái một lần nữa.[984]

Đức Ý Chí[sửa | sửa mã nguồn]

Đế quốc La Mã Thần thánh[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Bavaria[sửa | sửa mã nguồn]

Henry II the Wrangler
Henry IV

Năm 974, công tước Henry II the Wrangler quyết tâm hất cẳng hoàng đế Otto II khỏi ngai vàng La Mã thần thánh đế quốc, với sự hỗ trợ của chị gái Hadwig, ông đã liên minh với các quý tộc xứ Bavaria và Saxon cùng công tước Boleslaus II của Bohemia và công tước Mieszko I của Ba Lan nhưng thất thủ, Otto II bắt Henry giam cầm tại Ingelheim.[985] Năm 976, Henry the Wrangler đã trốn thoát và xúi giục một cuộc nổi dậy ở Bavaria, nhưng đã bị đánh bại khi Otto II chiếm Regensburg và tước quyền công tước của Henry the Wrangler.[986] Otto II cắt đứt Công tước CarinthiaMargraviate của Áo từ vùng đất Bavaria và trao lại chúng cho những người ủng hộ Henry the Younger (người đã đổi phe ngay sau đó) và Leopold of Babenberg, công tước xứ Bavaria nhỏ hơn đã được nhượng lại cho đối thủ của Henry the Wrangler là Công tước Otto của Swabia.[987] Sau cuộc chiến tranh Ba Henries năm 978, công tước Henry II the Wrangler bị phế truất được đặt dưới sự giam giữ bởi Giám mục Folcmar của Utrecht. Nhưng khi vào năm 983, Otto II đột ngột qua đời vì bệnh sốt rét ở Rome, Henry the Wrangler đã được thả ra khỏi nơi giam cầm. Một lần nữa, ông cố gắng chiếm đoạt ngai vàng Đức, khi ông bắt cóc Otto III trẻ sơ sinh và tự xưng là Vua của người La Mã tại mộ của Hoàng đế Otto I và Vua Henry the FowlerMagdeburgQuedlinburg.[988] Tuy nhiên, ông mất sự hỗ trợ của công tước Đức và cũng không thể hất cẳng Công tước Henry the Younger khỏi Bavaria. Thông qua cơ quan của Tổng Giám mục Willigis của Mainz, Henry the Wrangler năm 985 cuối cùng đã đệ trình lên Hoàng hậu Theophanu và mẹ chồng của bà tại một hội nghị HoftagRohr. Mặc dù thất bại trong nỗ lực giành quyền kiểm soát nước Đức, ông đã giành lại được Bavaria và năm 989 cũng nhận thêm chức công tước xứ Carinthian.[989]

Năm 1004, Henry IV nhường ngôi công tước xứ Bavaria cho người em rể Henry V (bá tước quận Luxemburg), sự kiện trên diễn ra sau khi ông được đức tổng giám mục Arnulf II trao vương miện làm vua nước Ý ("Rex Italiae").[990] Năm 1009, do bất đồng quan điểm, Henry IV phế truất Henry V để tự mình kiêm luôn cả công quốc Bavaria.[991]

Năm 1009, trong cuộc cãi vã với anh rể Henry IV, Henry V bị bãi bỏ chức vụ công tước xứ Bavaria.[992] Năm 1017, Henry V được anh rể trả lại ngôi vị, ông trị vì cho đến cuối đời.[993]

Henry VIII

Năm 1054, Henry VIII trao công quốc Bavaria cho người em trai Conrad II, nhưng chỉ hơn một năm sau Conrad II qua đời, Henry VIII lại đứng ra cầm quyền lần thứ hai.[994] Năm 1061, Thái hậu Agnes đã bổ nhiệm Otto làm công tước xứ Bavaria, mục đích để có được sự ủng hộ của ông này với tư cách là nhiếp chính cho vị vua trẻ Henry VIII.[995] Tuy nhiên, Otto đã bỏ bê chính sự ở Bavaria và thay vào đó thêm vào tài sản đồng minh Saxon của mình ở miền nam Harz, cuối cùng dẫn đến xung đột với Henry VIII, người nhằm củng cố lãnh địa hoàng gia của ông ở khu vực này.[996] Vào năm 1070, những lời buộc tội đáng ngờ đã được đưa ra chống lại Otto bởi Egeno I của Konradsburg vì đã bí mật giết người của nhà vua, và Otto đã quyết định đệ trình ra tòa bằng cách đấu tranh với người tố cáo của ông ta tại Goslar.[997] Lo sợ cho sự an toàn của mình, Otto đã yêu cầu một hành vi an toàn đến và đi từ nơi gặp gỡ, khi điều này bị từ chối, ông ta đã từ chối xuất hiện và do đó bị đặt dưới lệnh cấm của đế quốc và tước quyền của Bavaria, trong khi các điền trang của người Saxon bị cướp bóc.[998] Otto không nhận được sự hỗ trợ nào ở Bavaria, nhưng đã huy động một đội quân giữa những người Saxon và thực hiện một chiến dịch cướp bóc chống lại Henry VIII, Henry VIII đè bẹp cuộc phản loạn rồi đưa con rể của Otto là Welf I lên ngôi báu Bavaria.[999] Năm 1077, Henry VIII bãi bỏ chức vụ của Welf I do xung đột chính trị, ông tự mình cai quản công quốc Bavaria lần thứ ba.[1000]

Welf I

Năm 1077, Welf I bị Hoàng đế Heinrich IV (tức Henry VIII) bãi nhiệm vì ông đã đổi phe chống đối Hoàng đế mà ủng hộ Giáo hoàng Grêgôriô VII, Hoàng đế Heinrich IV kiêm luôn chức công tước xứ Bavaria.[1001] Năm 1096, Welf I đã chủ động làm lành với Hoàng đế, ông được Heinrich IV cho phép phục hồi chức vụ của mình.[1002] Trước đây, khi cha vợ ông, công tước Otto đã trở thành kẻ thù của Henry IV và bị mất quyền công tước, Welf I vẫn trung thành với Henry IV.[1003] Theo lệnh của Henry, ông đã từ chối và ly dị nữ công tước Ethelinde, và ngay sau đó (năm 1070), ông được khen thưởng vì lòng trung thành của mình khi được bổ nhiệm làm Công tước xứ Bavaria thay cho Otto.[1004]

Công quốc Carinthia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 979, Henry the Younger tham gia cuộc nổi dậy chống lại Hoàng đế La Mã thần thánh Otto II trong cuộc chiến tranh Ba Henries, do người tiền nhiệm của ông là công tước Henry Wrangler và Giám mục Henry I của Augsburg khởi xướng chiến dịch chống lại Bohemia. Cùng với lực lượng của Công tước Boleslaus II, họ chiếm thị trấn Passau của Bavaria, nhưng bị quân đội của Otto II đánh bại.[1005] Hoàng đế Otto II đã phế truất Henry the Younger và trao quyền cho cháu trai Salian của ông là Otto of Worms làm công tước Carinthian, tất cả các công tước Nam Đức như: Swabia, Bavaria và Carinthia sau đó được giữ bởi người thân của hoàng đế.[1006] Henry the Younger giữ chức vụ công tước xứ Bavaria từ 983 đến 985 sau cái chết của Hoàng đế Otto II, tuy nhiên quyền cai trị của ông vẫn còn vướng mắc do Henry the Wrangler tranh chấp, Thái hậu Theophanu thay mặt cho người con trai kế vị Otto III cuối cùng đã hòa giải với ông vào năm 985.[1007]

Otto I

Kết quả, công tước Henry III the Younger phải từ bỏ Bavaria thay vào đó, sự ưu ái của Henry the Wrangler và một lần nữa được trao vị trí công tước Carinthia, mà Otto I buộc phải nhượng lại địa vị cho ông.[1008]

Năm 985, góa phụ của Hoàng đế Otto II là Theophanu, để có được sự ủng hộ cho sự kế vị của con trai nhỏ Otto III, đã khôi phục ngôi công tước xứ Carinthia cho Henry III the Younger, và Otto I đành chấp nhận mất chức.[1009] Đổi lại, ông có thể giữ được danh hiệu "Công tước giun", đồng thời nhận được Kaiserpfalz của Lautern và tịch thu các bất động sản lớn của Tu viện Wissem (Weißenburg).[1010] Sau cái chết của Công tước Henry II xứ Bavaria năm 995, Otto I đã giành lại quyền cai trị công quốc Carinthia.[1011]

Sigismund von Luxemburg

Tuyển đế hầu xứ Brandenburg[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1388, Jobst thay thế người anh em họ Sigismund von Luxemburg đảm nhận vị trí tuyển đế hầu xứ Brandenburg, bấy giờ do Sigismund von Luxemburg mới làm vua Hungary nên nhường chức vụ này cho Jobst để tập trung sự cai trị vào một mối.[1012] Sau cái chết của vua Đức Rupert vào năm 1410, Jobst đã được bốn trong số bảy hoàng tử bầu chọn, chống lại Sigismund von Luxemburg, người đã được ba đại cử tri bầu chọn trước đó.[1013] Tuy nhiên, lá phiếu quyết định cuối cùng lại thuộc về Sigismund von Luxemburg với tư cách là vua của Bohemia, Jobst qua đời năm 1411 do bị Sigismund von Luxemburg đầu độc, dọn đường cho cuộc bầu cử để Sigismund von Luxemburg trở lại ngôi vị tuyển đế hầu và sau này ông đăng quang làm Hoàng đế La Mã thần thánh.[1014]

Thân vương quốc Liechtenstein[sửa | sửa mã nguồn]

Josef Wenzel I

Năm 1718, sau thời kỳ quản lý Thân vương quốc Liechtenstein theo quyền riêng của mình, Josef Wenzel I thoái vị, nhường quyền cai trị cho Antonio Florián.[1015] Jose Juan Adam lên ngôi năm 1721, sau khi ông này mất, Joseph Wenzel I trở lại lần thứ hai với tư cách là người thừa kế của anh em họ và anh rể của mình, vì khi Jose Juan Adam mất thì con trai Juan Nepomuceno Carlos mới có bốn tuổi.[1016] Năm 1745, ông được bổ nhiệm làm Generalissimo ở Ý, chính thức bàn giao cho Juan Nepomuceno Carlos tiếp quản công việc của Liechtenstein.[1017] Nhưng đến năm 1748, người cháu Juan Nepomuceno Carlos cũng mất, như vậy Josef Wenzel I quay về Liechtenstein cai trị lần thứ ba cho đến hết đời.[1018]

Phổ Lỗ Sỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Friedrich Wilhelm III

Năm 1806, trong trận Jena-Auerstädt, người Pháp đánh bại quân Phổ do đích thân Friedrich Wilhelm III chỉ huy.[1019] Quân đội Phổ sụp đổ, ông cùng hoàng gia đã chạy trốn sang Memel thuộc Đông Phổ (nay nằm trong lãnh địa Ba Lan), nơi họ rơi vào lòng thương xót của Hoàng đế Nga La Tư Alexander I.[1020] Nhưng ngay sau đó Alexander I cũng bị thất bại dưới tay của người Pháp, và tại Tilsit trên Niemen, Pháp làm hòa với Nga và Phổ.[1021] Napoleon I xử lý nước Phổ rất gay gắt, Phổ mất nhiều lãnh thổ Ba Lan của mình, cũng như tất cả các lãnh thổ phía tây sông Elbe, và có để tài trợ một khoản bồi thường lớn và phải trả tiền cho quân đội Pháp để chiếm ưu điểm quan trọng trong vương quốc.[1022] Năm 1813, sau thất bại của Napoleon I ở Nga, Frederick William III quay lưng lại với Pháp và ký kết một liên minh với Nga tại Kalisz, mặc dù ông đang trong tình trạng lưu vong, bởi Berlin vẫn nằm dưới sự chiếm đóng của đế quốc Pháp.[1023] Quân đội Phổ đóng một vai trò khá quan trọng trong chiến thắng của các đồng minh 1814, và chính nhà vua khải hoàn, trở về kinh đô phục vị cùng với quân đội của Hoàng tử Schwarzenberg, Alexander I của Nga và Francis I của Áo.[1024]

Ý Đại Lợi[sửa | sửa mã nguồn]

Triều đại Bavaria của người Oliver[sửa | sửa mã nguồn]

Perctarit

Năm 662, hưởng ứng lời kêu gọi hỗ trợ của vua Godepert trong cuộc chiến với người đồng trị vì cũng là anh trai của ông ta, vua Perctarit, Grimoald đã trao danh hiệu Công tước Benevento cho con trai cả Romuald của mình.[1025] Với sự giúp đỡ của Garibald, Công tước xứ Torino, Grimoald đã lật lọng bằng việc ám sát vua Godepert và buộc Perctarit phải chạy trốn, ông ta truy kích vợ và con trai của Perctarit đến Benevento rồi tự mình tiếp quản với tư cách là vua của những người Oliver.[1026] Grimoald qua đời năm 671 sau khi ký kết một hiệp ước với Franks, con trai thứ của ông ta là Garibald lên ngôi, Garibald trị vì đất nước được ba tháng thì bị phế truất bởi Perctarit quay về phục bích.[1027] Về phần Perctarit, sau khi bị trục xuất đầu tiên chạy sang Avar khagan Kakar, ông trở lại ngay sau đó để âm mưu chống lại Grimoald, nhưng cuộc chính biến thất bại nên đành trốn sang Francia.[1028] Khi Grimoald kết thúc một hiệp ước với Franks, Perctarit đang chuẩn bị chạy trốn sang Anh, thì tin tức về cái chết của Grimoald đã đến.[1029] Nhân cơ hội này Perctarit trở lại cố hương, ông hiệu triệu quần chúng ủng hộ mình, từ bỏ vị vua trẻ Garibald, kết quả ông giành thắng lợi tuyệt đối khiến Garibald buộc phải từ bỏ ngai vàng.[1030]

Đại công quốc Toscana[sửa | sửa mã nguồn]

Ferdinando III
Leopold II

Năm 1801, khi hiệp ước Aranjuez được ký kết, Ferdinando III bị Napoleon đệ nhất buộc phải rời đến vương quốc Etruria, như là sự bồi thường đối với công tước xứ Parma của Nhà Bourbon, vốn bị truất quyền theo hiệp ước Lunéville trong cùng năm.[1031] Thay vào đó, Ferdinando III được trao cho chức công tước và Tuyển hầu tước xứ Salzburg, vùng đất thế tục của Tổng giám mục xứ Salzburg.[1032] Ông cũng được trao cho chức Tuyển hầu tước của Đế quốc La Mã Thần thánh vào năm 1802, nhưng sau khi Đế quốc La Mã Thần thánh tan rã vào năm 1806, danh hiệu "Tuyển hầu tước" cũng không còn nữa.[1033] Năm 1805, Ferdinando III bị buộc phải rời khỏi Salzburg, theo các điều khoản của Hiệp ước Pressburg nhằm sáp nhập lãnh thổ của ông vào anh trai là Hoàng đế Francis II.[1034] Thay vào đó, Ferdinand III được trao cho chức Công tước xứ Würzburg, một nhà nước mới được tạo ra cho ông từ Tổng giáo phận Würzburg, sau khi đế quốc La Mã thần thánh tan rã, ông nhận lãnh chức vụ mới là Đại Công tước xứ Würzburg. Năm 1814, Hoàng đế Napoléon I thất trận, Ferdinand III được phục chức Đại công tước xứ Toscana.[1035]

Năm 1848, các cuộc cách mạng trong khuôn khổ Risorgimentos đã khiến Leopold II phải ban hành hiến pháp vào ngày 15 tháng 2.[1036] Tuy nhiên, nó không đủ cho các lực lượng cực đoan trong dân chúng muốn xóa bỏ hoàn toàn sự cai trị của Áo.[1037] Leopold II buộc rời khỏi đất nước vào tháng 2 năm 1849 và thành lập một chính phủ cộng hòa lâm thời, trong một thời gian ngắn liên minh với Cộng hòa La Mã cách mạng, đồng thời tồn tại ở các nước Giáo hoàng trong khoảng năm tháng.[1038] Ngay trong tháng Tư, nỗ lực của một nền dân chủ cộng hòa ở Tuscany đã bị đàn áp bởi một cuộc phản công do quân đội Áo khởi xướng và Đại công tước Leopold II đã có thể trở lại.[1039]

Vương quốc Napoli[sửa | sửa mã nguồn]

Ferdinand I

Nhà Bourbon:

Năm 1799, Ferdinand I không giữ được ngôi vua ở Napoli bởi sự thành lập nhà nước cách mạng Cộng hoà Parthenope.[1040] Cũng trong năm đó, nhà nước này bị giải thể, Ferdinand I phục bích. Năm 1806, Napoleon Bonaparte của đệ nhất đế chế Pháp tấn công như vũ bão, Ferdinand I buộc lòng phải từ bỏ ngai vàng lần thứ hai.[1041] Joseph Bonaparte được người Pháp đưa lên thay thế đến năm 1808, Joachim Murat nối tiếp quân vị cho đến khi Napoleon Bonaparte thất bại năm 1815, Ferdinand I quay trở lại vị trí vốn có của mình.[1042]

Lỗ Ma Ni - Ma Nhĩ Đa Ngoã[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Moldavia[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Românească[sửa | sửa mã nguồn]

Công quốc Românească và Công quốc Moldavia[sửa | sửa mã nguồn]

Michael I

Vương quốc România[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1930, Carol II từ nước ngoài trở về România, khi vua cha Ferdinand I mất năm 1927 ông tuy mang danh là hoàng thái tử nhưng không có ở nhà nên con trai ông Michael I được quyền kế vị ngai vàng ông nội.[1043] Vì nhận thấy Michael I còn quá nhỏ, mới 9 tuổi chưa thể đủ năng lực đảm đang việc nước, một hội đồng nhiếp chính được thành lập bao gồm chú của ông là Hoàng tử Nicholas, Tổ phụ của Giáo hội Chính thống Rumani Miron Cristea và chủ tịch của Tòa án tối cao Gheorghe Buzdugan.[1044] Do Hội đồng đã tỏ ra không hiệu quả nên Carol II được mời về nước tức vị, Michael I lui về Đông cung làm vương trữ.[1045] Năm 1940, Carol II bị phế truất xuất bôn sang hải ngoại và Michael I một lần nữa trở thành vua, dưới chính phủ do nhà độc tài quân sự Ion Antonescu lãnh đạo, Romania đã trở thành liên kết với Đức Quốc xã.[1046]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hesiod, Catalogue of Women fr. 23(a)7–9; Pseudo-Apollodorus, Bibliotheca 3. 10. 6
  2. ^ Trong Bibliotheca 3. 10. 4, cả ba được gọi là các con trai của Oebalus và Bateia; trong Pausanias, Description of Greece, 3. 1. 4, mẹ của Tyndareus là Gorgophone.
  3. ^ Pierre Vidal-Naquet, Il cacciatore nero. Forme di pensiero e forme di articolazione sociale nel mondo greco antico. Tradotto da F. Sircana. Milano: Feltrinelli Editore, 2006, p. 131, ISBN 88-07-10403-2, ISBN 978-88-07-10403-9.
  4. ^ Luisa Biondetti, Dizionario di mitologia classica, Milano, Baldini&Castoldi, 1997, ISBN 978-88-8089-300-4.
  5. ^ Pausanias, Description of Greece. W. H. S. Jones (translator). Loeb Classical Library. Cambridge, MA: Harvard University Press; London, William Heinemann Ltd. (1918). Vol. 1. Books I–II: ISBN 0-674-99104-4.
  6. ^ On this page: Melanthius – Melanthus Scanned text contains errors - cruelly killed by Odysseus. (Horn. Od. xvii. 212, &c., xxi. 176, xxii. 474, &c.) [L. S.]
  7. ^ Emmy Patsi-Garin: Επίτομο λεξικό Ελληνικής Μυθολογίας, εκδ. οίκος «Χάρη Πάτση», Αθήνα 1969, σελ. 594
  8. ^ Pascual González, José, (1997). Grecia en el siglo IV a. C. Del imperialismo espartano a la muerte de Filipo de Macedonia, Madrid: Editorial Síntesis, ISBN 978-84-7738-533-6, p. 163.
  9. ^ Amyntas III, King of Macedonia, 393-369 BC Amyntas III of Macedon. ca 393-370/69 BC. AR Diobol (1.71 gm). Head of Herakles right, in lion's skin headdress / Eagle standing left, head reverted.
  10. ^ Duane A. March, "The Kings of Makedon: 399-369 BC," Historia (Franz Steiner Verlag) vol. 44, No. 3 (1995), 257-282
  11. ^ Public Domain 本條目出自公有领域:Chisholm, Hugh (编). 大英百科全書 第十一版. 劍橋大學出版社. 1911年.
  12. ^ Williams, Henry Smith. Historians History of the World (Volume 4), p. 454.
  13. ^ Norman Davies, Europe: a history, Oxford University Press, 1996. ISBN 0198201710.
  14. ^ Plutarch, Judith Mossman, Lives of the noble Grecians and Romans, các trang 201-202.
  15. ^ Alexander to Actium: the historical evolution of the Hellenistic age by Peter Green, University of California Press, 1993.
  16. ^ The Pyrrhus Portrait by Rolf Winkes, in The Age of Pyrrhus, Proceedings of an International Conference held at Brown University April 8-10, 1988 (Archaeologia Transatlantica XI), Providence 1992, pages 175-188.
  17. ^ David Sacks, Oswyn Murray, Lisa R. Brody, Encyclopedia of the ancient Greek world, trang 196
  18. ^ Jeff Champion, Pyrrhus of Epirus, Pen & Sword Military, 2009. ISBN 1844159396.
  19. ^ Max Hastings (Biên tập), The Oxford Book of Military Anecdotes, Oxford University Press, 11-12-1986. ISBN 0195205286.
  20. ^ Edwin E. Jacques, The Albanians: An Ethnic History from Prehistoric Times to the Present, các trang 116-117
  21. ^ Plutarch, Judith Mossman, Lives of the noble Grecians and Romans, các trang 224-2233
  22. ^ Plutarch, Parallel Lives, "Demetrius", "Pyrrhus", "Aratus"
  23. ^ Justin, Epitome of Pompeius Trogus, xxiv. 1, xxv. 1-3, xxvi. 2
  24. ^ (Vol. IX) Plutarch, The Parallel Lives p347 The Life of Pyrrhus
  25. ^ Smith, William (editor); Dictionary of Greek and Roman Biography and Mythology, "Antigonus Gonatas", Boston, (1867)
  26. ^ Plutarch, Judih Mossman, Lives of the noble Grecians and Romans, Wordsworth Editions, 1998. ISBN 1853267945.
  27. ^ Titus Livius (Livy), The History of Rome, Book 8 Benjamin Oliver Foster, Ph.D., Ed Livy, History of Rome, viii. 24
  28. ^ Pausanias, Description of Greece, i. 11; Diodorus Siculus, Bibliotheca, xix. 11, 36, 74; Plutarch, Lives, "Pyrrhus", 1-2
  29. ^ This article incorporates text from a publication now in the public domain: Smith, William, ed. (1870). "Aeacides". Dictionary of Greek and Roman Biography and Mythology.
  30. ^ Pyrrhus of Epirus David Sacks, Oswyn Murray, Lisa R. Brody, Encyclopedia of the ancient Greek world, các trang 288-289
  31. ^ Petros Garouphalias, Pyrrhus King of Epirus, trang 22
  32. ^ The Life of Pyrrhus by Plutarch [1][2]. Bản dịch tiếng Việt: Những anh hùng Hy Lạp cổ đại, tác giả: Plutarch, dịch giả: Cao Việt Dũng, Nguyễn Cảnh Bình, Nguyễn Hoa Cương, Tạ Quang Đông.
  33. ^ Wilkes, J. J. The Illyrians, 1992,ISBN 0-631-19807-5,Page 124"... offered asylum to the infant Pyrrhus after the expulsion of his father...wife Beroea, who was herself a Molossian princess"
  34. ^ William George Smith, Dictionary of Greek and Roman Biography and Mythology: Oarses-Zygia, J. Walton, 1849.
  35. ^ Pyrrhus, Britannica, 2008, O.Ed. Pyrrhus: Main: king of Hellenistic Epirus whose costly military successes against Macedonia and Rome gave rise to the phrase "Pyrrhic victory." His Memoirs and books on the art of war were quoted and praised by many ancient authors, including Cicero
  36. ^ On the weapons of Sarmatian type in the Bosporan Kingdom in the 1st-2nd century AD by Mikhail Treister (Bonn)
  37. ^ Mayor, Adrienne: "The Poison King: The Life and Legend of Mithradates, Rome's Deadliest Enemy" Princeton: Princeton University Press, 2009, ISBN 978-0-691-12683-8
  38. ^ Appian z Aleksandrii Historia rzymska, t. I (ks. XII. Wojny z Mitrydatesem, rozdz. 120—121), przekł., oprac. i wstęp L. Piotrowicz, Ossolineum & Wydawnictwo PAN, Wrocław 1957.
  39. ^ Van der Kiste, John (1994). Kings of the Hellenes. Sutton Publishing. ISBN 0-7509-2147-1.
  40. ^ Polykratis, Iakovos Th. (1945–1955). "Constantine". In Passas Ioannis (ed.). Encyclopedia "The Helios" (in Greek). XI. Athens.
  41. ^ Dutton, David. "The Deposition of King Constantine of Greece, June 1917: An Episode in Anglo-French Diplomacy." Canadian Journal of History 12.3 (1978): 325–346.
  42. ^ Leontaritis, George B. Greece and the First World War (1990)
  43. ^ Darling, Janina K. (2004). “Panathenaic Stadium, Athens”. Architecture of Greece. Greenwood Publishing Group. ISBN 0-313-32152-3.
  44. ^ Anthony Beevor. Crete: The Battle and the Resistance. Athens: Govostis Pub. 2004: p.104. ISBN 978-960-270-927-6.
  45. ^ Note: Greece officially adopted the Gregorian calendar on ngày 16 tháng 2 năm 1923 (which became 1 March). All dates prior to that, unless specifically denoted, are Old Style.
  46. ^ By the Grace of God Time Magazine, ngày 18 tháng 11 năm 1935
  47. ^ Williams and Friell, các trang 181–183
  48. ^ Rafal Kosinski, The Emperor Zeno: Religion and Politics, Historia Iagellonica, 2010, ISBN 8362261188
  49. ^ Stephen Williams, J.G.P. Friell, The Rome that did not fall: the survival of the East in the fifth century, CRC Press, 1999, ISBN 0-203-98231-2.
  50. ^ Hussey, Joan (1966). The Cambridge medieval history, Volume 4. Cambridge University Press. tr. 473.
  51. ^ Brian Croke, Dynasty and Ethnicity: Emperor Leo and the Eclipse of Aspar, Chiron 35 (2005), 147–203.
  52. ^ Elton, Hugh (ngày 10 tháng 6 năm 1998). “Flavius Basiliscus (AD 475–476)”. De Imperatoribus Romanis. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2006.
  53. ^ Theophanes, Chronographia.
  54. ^ Moore, R. Scott, "Justinian II (685–695 & 705–711 A.D.)", De Imperatoribus Romanis (1998)
  55. ^ Bury, J.B., A History of the Later Roman Empire from Arcadius to Irene, Vol. II, MacMillan & Co., 1889|pg. 354
  56. ^ Canduci, Alexander (2010), Triumph & Tragedy: The Rise and Fall of Rome's Immortal Emperors, Pier 9, ISBN 978-1-74196-598-8
  57. ^ Ostrogorsky, George; Hussey (trans.), Joan (1957), History of the Byzantine state, New Brunswick, N.J.: Rutgers University Press, ISBN 0-8135-0599-2
  58. ^ Norwich, John Julius (1990), Byzantium: The Early Centuries, Penguin, ISBN 0-14-011447-5
  59. ^ Kazhdan, Alexander biên tập (1991), Oxford Dictionary of Byzantium, Oxford University Press, ISBN 978-0-19-504652-6
  60. ^ Jonathan Harris, Constantinople: Capital of Byzantium (Hambledon/Continuum, 2007). ISBN 978-1-84725-179-4
  61. ^ Kazhdan, Alexander biên tập (1991), Oxford Dictionary of Byzantium, Oxford University Press, ISBN 978-0-19-504652-6
  62. ^ Zoe Porphyrogenita (wife of Romanus III, Constantine IX, and Michael IV) Lynda Garland University of New England, Australia. Copyright (C) 2006, Lynda Garland. This file may be copied on the condition that the entire contents, including the header and this copyright notice, remain intact.
  63. ^ Norwich, John Julius. (1993), Byzantium: The Apogee, Penguin, ISBN 0-14-011448-3
  64. ^ Warren Treadgold, A History of the Byzantine State and Society (Stanford University Press, 1997) ISBN 0-8047-2630-2
  65. ^ Harris, Jonathan, Byzantium and the Crusades (London: Bloomsbury, 2nd ed., 2014). ISBN 978-1-78093-767-0
  66. ^ The first wife of Isaac II is usually considered to be a Byzantine noblewoman of unknown name. In an Italian edition of the chronicle of Nicetas Choniates "Greatness and catastrophe of Byzantium" can be found an interesting note to the XIV Book. The names of Isaac II's first wife and eldest daughter, unknown to Byzantine sources, are found in an obituary in the Cathedral of Speyer (Germany) (the Pantheon of German kings) where it can be found the second daughter of Isaac II, Irene/Maria, wife of Philip of Suabia; in this text Irene/Maria is said daughter of Isaac and Irene (there is reference to the following article: R. Hiestand, Die erste Ehe Isaaks II. Angelos und seine Kinder, in Jahrbuch der Osterreichischen Byzantinisk, XLVII 1997 pp. 199–208). This Irene could be identified with the daughter of Georg Paleologus Ducas Comnenus; the son of this one, Andronicus Paleologus Comnenoducas is known as gambrox (gamma alpha mu beta rho o x) of Isaac II.
  67. ^ Harris, Jonathan, 'Collusion with the infidel as a pretext for military action against Byzantium', in Clash of Cultures: the Languages of Love and Hate, ed. Sarah Lambert and Helen Nicholson (Turnhout, 2012), pp. 99–117
  68. ^ Brand, C.M., Byzantium Confronts the West, 1180–1204 (Cambridge, MA, 1968)
  69. ^ Morris Bierbrier's "Medieval and royal genealogy update" column in the March 1999 issue of _Genealogists' Magazine_ gives a partial summary of the article by Hiestand; this is where I learned of its existence. Hiestand's article is of special interest because it explores the hypothesis that the first wife of Isaac II is a member of the Palaiologos family, perhaps the daughter of Georgios Palaiologos Komnenodoukas, megas hetaireiarches. This is based on a reference to Andronikos Palaiologos (probable son of Georgios) as beloved gambros (brother-in-law or son-in-law, though the former is more likely) of Emperor Isaac II in a document (from 1191, I think) printed in A. Papadopoulos- Kerameus's _Analekta..._, II, Petersburg, 1894, p. 362. Unfortunately, the genealogy of the early Palaiologoi is somewhat murky.
  70. ^ Norwich, John Julius. Byzantium: The Decline and Fall (New York: Alfred A. Knopf, 1996) p. 332
  71. ^ Bonarek, J.; Czekalski, T.; Sprawski, S.; Turlej, S. (2005), Historia Grecji (en polaco), Kraków: Wydawnictwo Literackie, ISBN 83-08-03816-6
  72. ^ Ostrogorski, G. (2008), Dzieje Bizancjum (en polaco), Warszawa: Państwowe Wydawnictwo Naukowe, ISBN 978-83-01-15268-0
  73. ^ Peter F. Sugar, Southeastern Europe Under Ottoman Rule, 1354-1804, (University of Washington Press, 1996), 15-16.
  74. ^ Harris, Jonathan, The End of Byzantium. Yale University Press, 2010. ISBN 978-0-300-11786-8
  75. ^ Nicol, Donald M., The Last Centuries of Byzantium. Cambridge University Press, 1993, 2nd edition. ISBN 0-521-43991-4
  76. ^ Alexander Vasiliev, History of the Byzantine Empire 324-1453. Madison: University of Wisconsin Press, 1952. ISBN 0299809269
  77. ^ Oxford Dictionary of Byzantium. Oxford University Press, 1991.
  78. ^ Küküllei János: Lajos király krónikája, Névtelen szerző: Geszta Lajos királyról; Osisris Kiadó, Budapest, 2000. (Millenniumi Magyar Történelem)
  79. ^ Jaski, Bart (2005). "Máel-Sechnaill II (949/950–1022)". In Seán Duffy. Medieval Ireland. An Encyclopedia. Abingdon and New York. pp. 310–312.
  80. ^ Moran, W.: The hereditary lands and Royal Tuath of the O'Melaghlins, 33-44.Ríocht na Mídhe I, 4, (1958)
  81. ^ Ó Corráin, Donnchadh (1972). Ireland Before the Normans. Ireland: Gill and Macmillan.
  82. ^ a ă Byrne, Francis John (2001), Irish Kings and High-Kings, Dublin: Four Courts Press, ISBN 978-1-85182-196-9
  83. ^ O'Hart, John (1892) Irish Pedigrees; 5th ed. 2 vols. Dublin: James Duffy, pp. 157, 555. (1st ed.: 1878; several later eds.)
  84. ^ O'Byrne, Emmett (2003) War, Politics and the Irish of Leinster Dublin: Four Courts; "The MacMurrough-Kavanagh kings of Leinster; Outline Genealogies I, Ia, Ib", pages 247–249.
  85. ^ Byrne, Francis J. (1973) Irish Kings and High-Kings. London: Batsford (Rev. ed. Dublin: Four Courts, 1999) "Uí Cheinnselaig Kings of Laigin", p. 290
  86. ^ Expugnatio Hibernica, by Giraldus Cambrensis; ed., with transln and historical notes, by A. B. Scott and F. X. Martin. Dublin: Royal Irish Academy, 1978
  87. ^ Furlong, Nicholas (1973) Dermot, King of Leinster, and the foreigners. Tralee: Anvil Books ISBN 0-900068-37-X
  88. ^ William Carrigan (1905). The history and antiquities of the diocese of Ossory. I. Sealy, Bryers & Walker. tr. 41–44.
  89. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015.Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết)
  90. ^ Бирн Ф. Д. Короли и верховные правители Ирландии. — СПб.: Евразия, 2006. — 368 с. — ISBN 5-8071-0169-3.
  91. ^ Charles-Edwards T. M. Early Christian Ireland. — Cambridge: Cambridge University Press, 2000. — 728 p. — ISBN 978-0-5213-6395-2.
  92. ^ O'Donovan, John (ed. & tr.), Annala Rioghachta Eireann. Annals of the Kingdom of Ireland by the Four Masters. 7 vols. Dublin: Royal Irish Academy. 1848–51. 2nd edition, 1856. Volume II
  93. ^ Todd, James Henthorn (ed. & tr.). Cogadh Gaedhel re Gallaibh: The War of the Gaedhil with the Gaill. London: Longmans. 1867.
  94. ^ Benjamin Hudson, Benjamin (2005), Viking Pirates and Christian Princes: Dynasty, Religion and Empire in the North Atlantic, Oxford: Oxford University Press, (ISBN 0-19-516237-4)
  95. ^ Colman Etchingham, (2007), « Viking age Gwynedd and Ireland: political relations », in Jankulak, Karen; Wooding, Jonathan M., Ireland and Wales in the Middle Ages, Dublin: Four Courts Press, p. 149–167, (ISBN 978-1-85182-748-0)
  96. ^ Rosemary Power, (2005), « Meeting in Norway: Norse-Gaelic relations in the kingdom of Man and the Isles, 1090–1272 », Saga-Book (London: Viking Society for Northern Research) XXIX: 5–66, ISSN 0305-9219
  97. ^ Francis J. Byrne, (2005), « Ireland and her neighbours, c.1014–c.1072 », dans Ó Cróinín, Dáibhí, Prehistoric and Early Ireland, A New History of Ireland, I, Oxford: Oxford University Press, p. 862–898, (ISBN 0-19-922665-2)
  98. ^ Hudson, Benjamin (2005), Viking Pirates and Christian Princes: Dynasty, Religion and Empire in the North Atlantic, Oxford: Oxford University Press, (ISBN 0-19-516237-4)
  99. ^ Byrne, Francis John (2005), Ireland and her neighbours, c.1014–1072, in Ó Cróinín, Dáibhí, Prehistoric and Ireland Ireland, A New History of Ireland, I, Oxford: Oxford University Press, p. 862–898, (ISBN 978-0-19-922665-8).
  100. ^ Ó Cróinín, Dáibhí (1995), Early Medieval Ireland: 400–1200, The Longman History of Ireland, London: Longman, (ISBN 0-582-01565-0)
  101. ^ CELT: Corpus of Electronic Texts hos University College Cork omfatter Ulster-annalene, Tigernach-annalene og Annalene av de fire mesterne foruten også slektslister og ulike helgenbiografier. De fleste er oversatt fra irsk til engelsk, eller oversettelser er på gang.
  102. ^ "Muirchertach Mac Lochlainn and the "Circuit of Ireland"," Donnchadh O Corrain, in Seanchas: Studies in Early and Medieval Irish Archaeology, History and Literature in Honour of Francis John Byrne, pp. 238–250. Four Courts Press, Dublin, 2000.
  103. ^ Sean Duffy, Routledge Revivals: Medieval Ireland (2005): An Encyclopedia
  104. ^ (en) T.W Moody, F.X. Martin, F.J. Byrne A New Histor