Phan Đình Soạn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
PHAN ĐÌNH SOẠN
Tiểu sử
Sinh16 tháng 11 năm 1929
Thừa Thiên, Trung Kỳ, Đông Dương thuộc Pháp
Mất(1972-02-25)25 tháng 2, 1972 (43 tuổi)
Đà Nẵng, Việt Nam Cộng hoà
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ1951-1972
Cấp bậcUS-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vịFlag of ARVN's Artillery Forces.svg Binh chủng Pháo binh
ARVN 2nd Division SSI.svg Sư đoàn 2 Dã chiến
QD I VNCH.jpg Quân đoàn I và QK 1
Chỉ huyFlag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam
Khen thưởngVPD National Order of Vietnam - Officer BAR.png B.quốc H.chương IV[1]

Phan Đình Soạn (1929-1972), nguyên là một tướng lĩnh Pháo binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên ở trường Sĩ quan Trừ bị do Chính phủ Quốc gia Việt Nam với sự hỗ trợ của Quân đội Pháp mở ra ở miền Nam, nhằm mục đích đào tạo sĩ quan người Việt phục vụ cho Quân đội Liên hiệp Pháp. Ra trường ông gia nhập Pháo binh và đã phục vụ ở Binh chủng này một thời gian dài. Năm 1972 khi đang mang cấp bậc Chuẩn tướng Tư lệnh phó Quân đoàn I, ông bị tử nạn Trực thăng trong khi đang thi hành công vụ, được truy thăng cấp bậc Thiếu tướng.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 16 tháng 11 năm 1929, trong một gia đình "Danh gia vọng tộc" khá giả tại Phú Lương, Quảng Điền, Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam. Năm 1950, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại trường Quốc học Lycėe Khải Định, Huế với văn băng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 9 năm 1951, thi hành lệnh động viên ông nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 49/201.586. Theo học khoá 1 Lê Văn Duyệt tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1951. Ngày 1 tháng 6 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường, ông được chọn vào Binh chủng Pháo binh.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Thời điểm ông ra trường, Quân đội Quốc gia tách khỏi Quân đội Liên hiệp Pháp để thành lập Bộ Tổng tham mưu đầu tiên. Ông chuyển sang phục vụ cơ cấu mới này và được cử đi học khóa căn bản Pháo binh tại Thủ Dầu Một. Mãn khóa về Pháo đoàn 5 với chức vụ Trung đội trưởng. Ngày 1 tháng 11 năm 1953, ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm. Sau đó được cử giữ chức vụ Pháo đội trưởng.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 10 năm 1955, từ Quân đội Quốc gia chuyển sang Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Đại úy và được chỉ định giữ chức vụ Pháo đoàn trưởng Pháo đoàn 5.

Trung tuần tháng 6 năm 1956, ông được cử đi du học khóa Pháo binh cao cấp tại Hoa Kỳ. Tháng 10 hồi hương và đặt thuộc quyền sử dụng của Bộ chỉ huy Pháo binh. Đến đầu tháng 9 năm 1957, ông thuyên chuyển đến Tiểu đoàn 2 Pháo binh thuộc Sư đoàn 2 Dã chiến[2]

Trung tuần tháng 1 năm 1959, ông tiếp tục được cử đi du học Pháo binh tại Hawaii (Hạ Uy Di), Tiểu bang Hải ngoại của Hoa Kỳ. Sau 2 tuần ngày 1 tháng 2 mãn khóa về nước, thuyên chuyển đến Bộ chỉ huy Pháo binh Sư đoàn 2 Bộ binh. Ba tuần sau, ngày 21 tháng 2, ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Pháo binh Sư đoàn 2. Ngày lễ Quốc khánh 26 tháng 10 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá, thuyên chuyển về Bộ tư lệnh Quân đoàn I ở Đà Nẵng giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Pháo binh Quân đoàn, sau đó chuyển đến Pháo đội Công vụ nơi đặt Bộ chỉ huy Pháo binh Quân đoàn.

Tháng 7 năm 1963, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Chỉ huy trưởng trường Pháo binh. Sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngày 1 tháng 11). Ngày 5 tháng 11, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm. Đầu năm 1965, ông được cử đi du học lớp Tham mưu cao cấp (khóa 1965 - 1) thụ huấn 16 tuần tại Đại học Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ[3].

Trung tuần tháng 7 năm 1965, sau khi về nước, ông được chuyển đến trường Đại học Quân sự[4] giữ chức Trưởng khối Sưu tầm. Bảy tháng sau, thuyên chuyển về Bộ chỉ huy Pháo binh Trung ương. Sau đó, ông được cử giữ chức vụ Quyền Chỉ huy phó Bộ chỉ huy Pháo binh kiêm quyền Chỉ huy trưởng Trường Pháo binh. Tháng 10, chuyển sang ngạch sĩ quan hiện dịch, ông chính thức nhận chức vụ Chỉ huy trưởng trường Pháo binh.

Tháng 2 năm 1968, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Ba tháng sau, ông nhận lệnh bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng trường Pháo binh để theo học khóa 1 Cao đẳng Quốc phòng. Tháng 10 cùng năm, ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Pháo binh Trung ương. Thượng tuần tháng 7 năm 1969, ông theo học khóa 7 Thiết kế và Quản trị Chương trình tại trường Quân y. Đầu tháng 7 năm 1970, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm. Đầu năm 1972, ông thuyên chuyển trở lại Quân khu 1. Sau đó, được cử giữ chức vụ Tư lệnh phó Quân đoàn I và Quân khu 1.

Ngày 25 tháng 2 năm 1972, ông được cử làm trưởng đoàn hướng dẫn phái đoàn thuộc Quân đoàn I, từ Thị xã Đà Nẵng di chuyển bằng trực thăng ra thăm viếng tàu Hải Quân Hoa Kỳ neo tại vịnh Đà Nẵng. Trên đường trở về cùng ngày, phi cơ trục trặc kỹ thuật bị rớt chìm cách chân núi Hòn Hàn 2 cây số. Ông bị tử nạn, hưởng dương 43 tuổi. Mãi đến mười ngày sau mới tìm thấy thi thể của ông và những người trong đoàn.[5]

Ông được truy thăng cấp bậc Thiếu tướng và truy tặng Đệ tứ đẳng Bảo quốc Huân chương kèm theo Anh dũng bội tinh với nhành Dương liễu.

Tang lễ được tổ chức theo lễ nghi Quân cách dành cho tướng lĩnh. An táng tại Nghĩa trang Quân đội Quốc gia Biên Hòa.

Năm 1978, gia đình cải táng và đưa hài cốt của ông về tại một ngôi chùa ở Sài Gòn.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

-Bảo quốc Huân chương đệ tứ đẳng (truy tặng)
-Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu (truy tặng)
-Nhiều huy chương Quân sự, Dân sự và Đồng minh

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Phan Đình Quýnh
  • Thân mẫu: Nguyễn Khoa Diệu Khuê.
  • Nhạc phụ: Cụ Nguyễn Khoa Luyện.
  • Nhạc mẫu: Cụ Châu Thị Di
  • Phu nhân: Bà Nguyễn Khoa Diệu Anh (1935-1980).[6]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ Tứ đẳng (truy tặng).
  2. ^ Ngày 12 tháng 2 năm 1958, Sư đoàn 2 Dã chiến được trang bị lại và cải danh thành Sư đoàn 2 Bộ binh.
  3. ^ Được cử đi tu nghiệp lớp Chỉ huy và Tham mưu cùng với Trung tá Phan Đình Soạn còn có Trung tá Lê Ngọc Triển, Thiếu tá Lê Văn Thân
    -Thiếu tá Nguyễn Văn Bạch (Sinh năm 1931 tại Long An, tốt nghiệp khóa 4 Võ bị Đà Lạt, sau cùng là Đại tá Cục phó Cục Công binh).
    -Trung tá Trần Văn Cường (Sinh năm 1930 tại Hà Đông, tốt nghiệp khóa 3 Võ bị Đà Lạt, sau cùng là Đại tá Tham mưu phó Bộ chỉ huy Biệt động quân Trung ương).
    -Trung tá Nguyễn Hiền Điểm (Sinh năm 1925 tại Kiên Giang, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Thủ Đức, sau cùng là Đại tá Tuỳ viên Quân sự Sứ quán VNCH tại Hoa Kỳ (1973-1975).
    -Thiếu tá Huỳnh Ngọc Diệp (Sinh năm 1930 tại Gia Định, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Thủ Đức, sau cùng là Đại tá Phụ tá Tổng trưởng Nội vụ).
    -Thiếu tá Nguyễn Hợp Đoàn (Sinh năm 1930 tại Hải Dương, tốt nghiệp khóa 4 Võ bị Đà Lạt, sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tuyên Đức kiêm Thị trưởng Đà Lạt (1973-1975).
    -Trung tá Đào Ngọc Thọ (Sinh năm 1929 tại Vĩnh Long, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Thủ Đức, sau cùng là Đại tá Chỉ huy trưởng Tổng cục Tiếp vận (1966-1967). Năm 1969 giải ngũ, sau đó đắc cử Dân biểu Quốc hội Hạ viện (1971-1975).
  4. ^ Tiền thân là Trung tâm Chiến thuật Hà Nội. Năm 1960, di chuyển lên Đà Lạt đổi thành trường Chỉ huy Tham mưu
  5. ^ Trong Phi hành đoàn tử nạn còn có:
    -Đại tá Ngô Hán Đồng
    -Thiếu úy Nguyễn Đình Thư (Sĩ quan Tuỳ viên của tướng Soạn, được truy thăng Trung úy)
  6. ^ Ngày 13 tháng 7 năm 1980, bà Diệu Anh cùng 4 người con vượt biển tìm tự do. Xuất bến từ Long Hải, Phước Tuy, khi ra khỏi bờ biển được 3 giờ thì ghe bị chìm. Bà và 2 người con gái tử nạn, 2 người con trai may mắn được ghe đánh cá cứu sống.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.