Phan Đình Thứ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
PHAN ĐÌNH THỨ
Tiểu sử
Biệt danh Lam Sơn[1]
Sinh 22 tháng 4 năm 1919
Thừa Thiên, Việt Nam
Mất 23 tháng 7 năm 2002 (83 tuổi)
Thành phố HCM
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1937-1973
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị [[ ]] Sư đoàn 13 Khinh chiến
ARVN 23rd Division Insignia.svg Sư đoàn 16 Khinh chiến
81st Airborne Commando Battalion.svg Lực lượng Đặc biệt
Cư an tư nguy.svg Võ khoa Thủ Đức
Vietnamese Rangers SSI.svg Biệt động quân
ARVN Capital Military Zone Unit SSI.svg Biệt khu Thủ đô
QD II VNCH.jpg Quân đoàn II và QK 2
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Viễn chinh Pháp
Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Công việc khác Tuỳ viên Quân sự

Phan Đình Thứ (1919-2002), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Lục quân của Pháp và phục vụ trong Quân đội Viễn chinh Pháp cho đến năm 1950 mới hồi hương. Ông nguyên là Chỉ huy trưởng Liên trường Võ khoa Thủ Đức - Biệt khu Thủ đô, nguyên Tư lệnh Binh chủng Lực lượng đặc biệt và nguyên Chỉ huy trưởng Binh chủng Biệt Động Quân. Ông cũng là một sĩ quan mang cấp bậc Đại tá lâu nhất (1958-1971).

Tiểu sử & binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 22 tháng 4 năm 1919 trong một gia đình quan lại tại Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam và lớn lên tại Huế. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông phải vừa đi làm, vừa tự học. Ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Huế với văn bằng Thành chung.

Quân đội Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1937, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Viễn chinh Pháp thuộc Binh chủng Pháo binh tại Sài Gòn, mang số quân: 39/200.308. Năm 1940, ông được chuyển sang ngành Thông ngôn, phục vụ tại Hạt Charentes, Pháp.

Đầu năm 1943, khi đang là một Hạ sĩ quan Thông ngôn, ông được đơn vị cử theo học trường Võ bị Lục quân Pháp tại Bắc Phi. Tháng 6 cùng năm, tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy. Sau đó, ông được cử đi học bổ túc ở trường Chiến tranh Viễn đông của Anh tại Ấn Độ, mãn khóa ông được thăng cấp Thiếu úy và phục vụ cho Quân đội Viễn chinh Pháp tại các chiến trường Tunisia, Algérie. Năm 1944, ông theo đơn vị trở về Đông Dương đóng quân ở Lào. Năm 1945, ông được thăng cấp Trung úy và được giao nhiệm vụ chỉ huy một toán Biệt kích đa quốc gia, nhảy xuống Cánh đồng Chum, Lào để giải giới quân Nhật.

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950, ông được thăng cấp Đại úy, hồi hương phục vụ trong Quân đội Liên hiệp Pháp, được cử chỉ huy một Tiểu đoàn Việt Nam đóng tại Quảng Trị. Cùng năm này, Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập (tiền thân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa sau này).

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1952, Quân đội Quốc gia thành lập Bộ Tổng Tham mưu, ông được chuyển sang phục cơ cấu mới này. Năm 1954, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử đi học khóa Trung đoàn trưởng tại Trung tâm nghiên cứu Quân sự, Hà Nội.[2] Học cùng khóa với ông còn có Thiếu tá Nguyễn Văn Thiệu và Đại úy Nguyễn Chánh Thi.

Quân đội Việt nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955, Quân đội quốc gia được đổi tên thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Trung tá và được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 16 Khinh chiến (tiền thân của Sư đoàn 23 Bộ binh) đóng tại Đông Hà, Quảng Trị. Cuối năm 1957, ông được lệnh bàn giao Sư đoàn 16 Khinh chiến lại cho Đại tá Nguyễn Hữu Có. Đầu năm 1958, ông được thăng cấp Đại tá[3]thay thế Đại tá Lâm Văn Phát làm Tư lệnh Sư đoàn 13 Khinh chiến (tiền thân của Sư đoàn 21 Bộ binh), đồn trú tại Bến Kéo, Tây Ninh. Tháng 12 cùng năm, ông được cử đi du học khóa Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại trường Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Tháng 3 năm 1959, ông vi phạm kỷ luật ở trường nên bị triệu hồi về nước và được cử đi làm Sĩ quan Tùy viên Quân sự cạnh Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Thủ đô Manila của Philippines.

Trung tuần tháng 11 năm 1960, ông được cử thay thế Thiếu tá Phan Trọng Chinh giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Binh chủng Biệt động quân.[4] Giữa tháng 5 năm 1962, ông nhận lệnh bàn giao Bộ chỉ huy Biệt động quân lại cho Đại tá Tôn Thất Xứng. Cùng thời điểm ông được chỉ định vào chức vụ Chỉ huy trưởng Liên trường Võ khoa Thủ Đức[5]thay thế Thiếu tướng Hồ Văn Tố vừa từ trần. Ông đã sáng kiến ghi thêm 4 chữ "Cư An Tư Nguy" trên phù hiệu của trường.[6] Trong thời gian đương nhiệm, ông đã tổ chức lễ mãn khóa cho 3 khóa Sĩ quan Trừ bị là khóa 12 Trần Hưng Đạo, khóa 13 Ấp Chiến Lược và khóa 14 Nhân Trí Dũng. Đầu tháng 8 năm 1963, Liên trường Võ khoa Thủ Đức trở lại tên gọi ban đầu là trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.

Đầu tháng 11 năm 1963, ông được lệnh bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức lại cho Thiếu tướng Trần Ngọc Tám. Trung tuần tháng 2 năm 1964, ông được cử làm Tư lệnh Binh chủng Lực lượng Đặc biệt[7]thay thế Trung tướng Lê Văn Nghiêm đi làm Chỉ huy trưởng trường Đại học Quân sự. Tháng 8 cùng năm, bàn giao chức vụ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt lại cho Đại tá Đoàn Văn Quảng (nguyên Chỉ huy trưởng Biệt động quân Vùng 3 Chiến thuật). Sau đó ông được chuyển về Bộ Tổng tham mưu nhận nhiệm vụ trong Tổng cục Chiến tranh Chính trị với chức vụ Tổng cục phó đặc trách về Thể dục & Thể thao. Tháng 9 năm 1969, ông được tái nhiệm chức vụ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt thay thế Thiếu tướng Đoàn Văn Quảng đi làm Tư lệnh phó Quân đoàn II đặc trách Biên phòng. Thời điểm này, ông đã sáng kiến xây dựng "Nghĩa Dũng đài" trước trại Chương Dương của Bộ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt ở Nha Trang để tưởng niệm các anh hùng tử sĩ của Binh chủng đã hy sinh vì Tổ Quốc.

Đầu năm 1970, ông bàn giao chức vụ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt lại cho Thiếu tướng Phạm Văn Phú. Ngay sau đó, ông được về Sài Gòn giữ chức vụ Phụ tá Tư lệnh Biệt khu Thủ đô. Tháng 6 cùng năm, thuyên chuyển đến Quân đoàn III giữ chức vụ Tư lệnh phó Lãnh thổ Quân khu 3 kiêm Chỉ huy trưởng Địa phương quân & Nghĩa quân thuộc Quân khu. Đầu năm 1971, ông được thăng cấp Chuẩn tướng[8]tại nhiệm. Năm 1972, thuyên chuyển ra Quân khu 2, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh phó Quân đoàn II đặc trách Biên phòng.[9]

Vào một buổi tối tháng 9 năm 1972, tại Tổng hành dinh Quân đoàn II ở Pleiku, một viên Trung sĩ người Thượng tinh thần bất ổn do uống rượu say đứng ở cổng, tay cầm lựu đạn đã rút chốt chờ ông về để ám sát. Quân cảnh đến can thiệp đương sự không chịu, khi ông về khuyến cáo cũng không nghe. Ông đã nấp ở sau bờ tường dùng súng bắn khiến đương sự ngã quỵ, lựu đạn nổ làm người Hạ sĩ quan này bị trọng thương và sau đó tử vong.

Sau sự việc trên, ông bị đưa về tạm giam tại Đề lao Chí Hòa để điều tra. Ngày 29 tháng 11 ra Tòa án Mặt trận Quân sự, ông bị xử án 5 năm tù treo về tội cố ý đả thương và dẫn đến tử vong của viên Hạ sĩ quan nói trên. Đầu năm 1973, ông bị buộc phải giải ngũ.

Được tặng thưởng Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc đời binh nghiệp ông được thưởng nhiều huân, huy chương của Việt Nam Cộng hòa, Pháp, Mỹ và đặc biệt là Lào.

  • -Huy chương Việt Nam Cộng hòa:
    -Đệ tam đẳng Bảo quốc Huân chương -Đệ tứ đẳng Bảo quốc Huân chương
    -Lục quân Huân chương -Biệt công Bội tinh
    -Chiến thương Bội tinh -Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu
    -Anh dũng Bội tinh với ngôi Sao vàng -Mười lần Tuyên dương Công trạng trước Quân đội.
  • -Huy chương Pháp:
    -Legion D’Honneur (Bắc đẩu Bội tinh, Pháp)
    -Croix De Gùerre 1942-1946 (Chiến dịch Bội tinh cho những sĩ Quan tham dự trận Đại chiến thứ 2)
    -Medaille De La Résistance 1943 (Huy chương Bảo vệ nước Pháp), do Tổng thống Charles De Gaulle trao tặng những sĩ Quan đã bảo vệ nước Pháp trong trận Chiến tranh thế giới thứ hai 1943.
-Huy chương Mỹ:
-Silver Star, do Đại tướng Westmoreland gắn tại Bộ Tư lệnh Lực lượng Đặc Biệt Nha Trang.
  • -Huy chương Lào:
    -Huy chương Bạch tượng, do Quốc Vương Lào gắn.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày 30 tháng 4, ông ra trình diện Ban Quân quản của Chính quyền mới, bị đưa đi tù cũng như các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa khác và bị đưa ra miền Bắc Việt Nam tập trung ở trại giam Nam Hà, Hà Nam Ninh. Khi đi cải tạo, vì bị mất liên lạc với gia đình, ông không được thăm nuôi, nên được gọi là tướng mồ côi.[10]

Mười ba năm sau (1988) ông được trả tự do và được lên danh sách đi Mỹ theo chương trình H.O, nhưng ông từ chối vì một phần muốn ở lại quê hương, một phần không muốn xa 3 người con đã có gia đình không được đi theo chương trình H.O. Sau đó, với sự bảo trợ của Bộ Tư lệnh Nhảy dù Pháp, Chính phủ Pháp đã đồng ý cho cả gia đình của ông qua Pháp vào năm 1989.

Năm 1995, ông một mình trở về sống những chuỗi ngày còn lại ở quê hương Việt Nam và từ trần tại Thành phố HCM vào ngày 23 tháng 07 năm 2002. Hưởng thọ 83 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông lập gia đình với người vợ đầu tiên ở Lào. Cho đến sau này, ông có tất cả sáu người vợ và có 10 người con gồm: 7 trai, 3 gái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Khi còn là một Thiếu úy trong Quân đội Viễn chinh Pháp đóng quân ở Lào, ông kết hôn với một thiếu nữ người Lào gốc Việt và có người con trai đầu tiên đặt tên là Phan Đình Lam Sơn. Về sau, ông lấy tên của người con này làm biệt danh cho mình.
  2. ^ Còn gọi là Trung tâm Chiến thuật Hà nội. Năm 1954 di chuyển vào Nam đổi tên là trường Đại học Quân sự, năm 1960 chuyển lên Đà Lạt trở thành trường Chỉ huy và Tham mưu.
  3. ^ Có tài liệu viết tướng Phan Đình Thứ sinh năm 1916 tại Hà Tĩnh, thăng cấp Đại tá năm 1956 và Chuẩn tướng năm 1972. Tuy nhiên, trong bài này ghi ông sinh năm 1918 và thăng cấp Đại tá năm 1958, Chuẩn tướng 1971 là theo sách "Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa", vì các soạn giả Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân... nguyên là những sĩ quan cao cấp từng phục vụ trong những bộ phận có liên quan đến Ban Quân sử và Trung tâm Hồ sơ Cá nhân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Hơn nữa, các vị này cũng đã trực tiếp gặp hoặc trao đổi bằng thư từ và điện thoại với các cựu tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa về các chi tiết trước khi viết tiểu sử của họ trong sách nói trên.
  4. ^ Chỉ huy trưởng thứ ba của Binh chủng Biệt động quân, sau Thiếu tá Lữ Đình Sơn (Năm 1963 giải ngũ cùng cấp) và Thiếu tá Phan Trọng Chinh.
  5. ^ Chỉ huy trưởng thứ năm của trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, sau Đại tá Phạm Văn Cảm (Sinh năm 1904 tại Hà Nam, tốt nghiệp trường Võ bị Lục quân Pháp. Giải ngũ năm 1956), Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm, Đại tá Nguyễn Văn Chuân và Đại tá Hồ Văn Tố.
  6. ^ Bốn chữ Cư An Tư Nguy có nghĩa là: Muốn sống yên ổn thì phải nghĩ đến lúc hiểm nguy. Suy rộng ra: Muốn hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh.
  7. ^ Tư lệnh thứ ba của Binh chủng Lực lượng Đặc biệt sau Đại tá Lê Quang Tung và Trung tướng Lê Văn Nghiêm
  8. ^ Có giai thoại nói rằng năm 1964, sau khi tướng Nguyễn Khánh thực hiện cuộc Chỉnh lý, đã thăng cấp Chuẩn tướng cho ông, nhưng vì ông không phục tướng Khánh nên không đến dự lễ gắn lon và vẫn tiếp tục mang cấp Đại tá.
  9. ^ Một lần nữa thay thế Thiếu tướng Đoàn Văn Quảng. Tướng Quảng được điều về Sài Gòn làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung.
  10. ^ Cùng cảnh ngộ "mồ côi" với tướng Lam Sơn, còn có tướng Dương Văn Đức và tướng Hồ Trung Hậu.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]