Phan Trọng Chinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
PHAN TRỌNG CHINH
Tiểu sử
Sinh Tháng 2 năm 1931
Bắc Ninh, Việt Nam
Mất 17 tháng 11, 2014 (83 tuổi)
Maryland, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1951-1975
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị Vietnamese Airborne Division 's Insignia.svg Binh chủng Nhảy dù
Cờ Thẳng tiến.png Sư đoàn 25 Bộ binh
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Tổng cục Quân huấn[1]
Cờ Chỉnh binh thao lược.png Chỉ huy & Tham mưu
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Công việc khác Tỉnh trưởng

Phan Trọng Chinh (1931-2014) nguyên là một tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng. Ông xuất thân từ những khóa đầu tại trường Võ bị Liên quân do Quốc gia Việt Nam mở ra ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Ra trường phục vụ trong Binh chủng Nhảy dù. Cuối năm 1960, ông tham gia cuộc đảo chính do Đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu. Cuộc đảo chính thất bại, ông bị cầm tù cho đến sau cuộc chính biến 1963, được tha và phục hồi quân ngũ. Tuy nhiên, ông bị rời khỏi Binh chủng Dù và Bộ Tổng tham mưu chuyển ông sang lãnh vực khác. Về sau, ông là người đảm trách tổng quát bộ phận đào tạo nhân sự cho Quân đội trong thời gian lâu nhất (1969-1974). Ông là một trong số ít tướng lĩnh của Việt Nam Cộng hòa được xem là thanh liêm và trong sạch nhất.[2]

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 2 năm 1931 trong một gia đình có truyền thống Quân nhân tại Bắc Ninh, miền Bắc Việt Nam. Thân phụ ông nguyên là sĩ quan cấp tá phục vụ trong Quân đội Pháp và Quân đội Quốc gia. Năm 1950, ông tốt nghiệp Trung học phổ thông chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài I (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 6 năm 1951, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 51/400.542. Theo học khóa 5 Hoàng Diệu tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 7 năm 1951. Ngày 24 tháng 4 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. Ra trường, ông được tuyển thẳng vào đơn vị Nhảy dù với chức vụ Trung đội trưởng. Giữa năm 1953, ông được thăng cấp Trung úy, giữ chức vụ Đại đội trưởng.

Sau Hiệp định Genève ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954, ông theo đơn vị di chuyển vào Nam. Hai tháng sau ông được thăng cấp Đại úy và được cử làm Tiểu đoàn trưởng đầu tiên của Tiểu đoàn 3 Nhảy dù tân lập.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 10 năm 1955, sau khi Thủ tướng Diệm đổi tên Quân đội Quốc gia thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông chuyển sang phục vụ cơ cấu quân đội mới. Một năm sau, ông nhận lệnh bàn giao Tiểu đoàn 3 Nhảy dù lại cho Thiếu tá Nguyễn Văn Lộc. Ngay sau đó ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử làm Tham mưu trưởng Liên đoàn Nhảy dù.[3]

Giữa năm 1960, ông nhận lệnh bàn giao chức vụ Tham mưu trưởng Lữ đoàn Nhảy dù. Hạ tuần tháng 10 cùng năm ông được cử làm Chỉ huy trưởng Biệt động quân thay thế Thiếu tá Lữ Đình Sơn.[4] Ngày 11 tháng 11 năm 1960, ông tham gia cuộc đảo chính do Đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu. Cuộc đảo chính sau đó bất thành, ông bị bắt giữ và bị đưa ra xét xử tại Tòa án Mặt trận.

Tháng 7 năm 1963, Tòa án Mặt trận Sài Gòn tuyên phạt ông mức án 18 năm tù. Tháng 10 cùng năm ông bị đưa đi thọ hình ở Côn Sơn. Tuy nhiên chỉ chưa đầy một tháng sau, cuộc đảo chính 1 tháng 11 năm 1963 Tổng thống Diệm do tướng Dương Văn Minh cầm đầu thành công, ông được trả tự do về lại Quân đội và được phục hồi cấp bậc cũ. Tháng 12 cuối năm được thăng cấp Trung tá, sau đó được cử lên Cao nguyên làm Tỉnh trưởng Pleiku thay thế Trung tá Phạm Văn Út.[5]

Sau cuộc chỉnh lý của tướng Nguyễn Khánh ở Sài Gòn ngày 30 tháng 1 năm 1964. Tháng 3 năm 1964, ông được lệnh bàn giao chức vụ Tỉnh trưởng Pleiku lại cho Phó Tỉnh trưởng Nội an Võ Văn Ba để về Bộ Tổng tham mưu chờ nhận nhiệm vụ mới. Tháng 6 năm 1965, ông được thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh thay thế Chuẩn tướng Nguyễn Thanh Sằng.[6] Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1966, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

Thượng tuần tháng 1 năm 1968, ông được cử làm Tư lệnh Phó Quân đoàn III và Vùng 3 Chiến thuật, hoán chuyển nhiệm vụ với Chuẩn tướng Nguyễn Xuân Thịnh thay ông làm Tư lệnh Sư đoàn 25. Sau đó, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm. Tháng 2 năm 1969, chuyển về Bộ Tổng tham mưu ông được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn. Ngày 24 tháng 4 năm 1970, Chủ tọa lễ mãn khóa 5/69 sĩ quan Nữ quân nhân và gắn cấp bậc Chuẩn úy cho Thủ khoa Đinh Thị Kim Nga. Đầu năm 1972, ông được kiêm Phụ tá Quân huấn Tổng tham mưu trưởng. Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1973, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm.

Đầu năm 1974, chuyển lên Cao nguyên Trung phần ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Trường Chỉ huy và Tham mưu. Hoán chuyển nhiệm vụ với Trung tướng Nguyễn Bảo Trị[7]

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4, ông cùng gia đình di tản khỏi Việt Nam. Sau đó được sang định cư tại Rockville, Tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ.

Ngày 17 tháng 11 năm 2014, ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 83 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Phan Trọng Vinh (1898-1952, nguyên là Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 22 Việt Nam. Năm 1952 tử trận tại Vĩnh Bảo, Hải Phòng)
  • Thân mẫu: Cụ Hoàng Thị lựu (1902-2001)
  • Nhạc phụ: Cụ Bùi Phó Chí (nguyên Đại úy Liên đoàn trưởng Liên đoàn Thủy quân Lục chiến (1955), giải ngũ năm 1956).
  • Nhạc mẫu: Cụ Lê Thị Thịnh
  • Phu nhân: Bà Bùi Thị Tỉnh - Ông bà có tám người con gồm 3 trai, 4 gái.
  • Bào huynh:
-Ông Phan Trọng Hoan (Xuất thân từ Thiếu sinh quân Việt Nam Cộng hòa, giải ngũ ở cấp Trung úy).
-Ông Phan Trọng Thiện (Tốt nghiệp khóa 6 Võ bị Đà Lạt, cấp bậc sau cùng là Đại tá Bộ binh).
  • Bào đệ:
-Ông Phan Trọng Sinh (Tốt nghiệp khóa 11 Võ bị Đà Lạt, cấp bậc sau cùng là Trung tá Nha Kỹ thuật).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu Quân lực VNCH
  2. ^ Trong Quân lực Việt Nam Công hòa có bốn vị tướng được xem là thanh liêm và đức độ, được giới quân nhân đương thời truyền tụng: Nhất Thắng, Nhì Chinh, Tam Thanh, Tứ Trưởng:
    -Nhất Thắng: Trung tướng Nguyễn Đức Thắng (SN 1930, Tốt nghiệp Võ khoa Nam Định K1, sau cùng: Phụ tá Kế hoạch Tổng Tham mưu trưởng)
    -Nhì Chinh: Trung tướng Phan Trọng Chinh
    -Tam Thanh: Trung tướng Nguyễn Viết Thanh (SN 1931, Võ bị Đà Lạt K4, sau cùng: Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn IV, năm 1970 tử nạn khi đang làm nhiệm vụ, được truy thăng Trung tướng)
    -Tứ Trưởng: Trung tướng Ngô Quang Trưởng (SN 1929, Võ khoa Thủ Đức K4, sau cùng: Tư lệnh Quân đoàn I và Quân khu 1)
  3. ^ Năm 1959 Liên đoàn Nhảy dù được nâng cấp và đổi tên thành Lữ đoàn Nhảy dù
  4. ^ Giải ngũ cuối năm 1963 ở cấp Trung tá.
  5. ^ Chức vụ sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng An Xuyên (Cà Mau).
  6. ^ Tướng Sằng chuyển ra miền Trung làm Tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh.
  7. ^ Trung tướng Trị đang là Chỉ huy trường Chỉ huy Tham mưu, được điều về Trung ương làm Phụ tá Quân huấn cho Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn thay tướng Chinh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử quân lực Việt Nam Cộng hòa.