Phan Văn Trường (sinh 1946)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Phan Văn Trường

PhanVanTruong2019.jpeg
Phan Vân Trường tại Hà Nội
tháng 1 năm 2019
Sinh27 tháng 7, 1946 (72 tuổi)
Ninh Giang, Hải Dương, Việt Nam
Học vấn
Nghề nghiệpQuy hoạch đô thị, quản trị doanh nghiệp, giảng viên
Nổi tiếng vì
Chức vị
  • Phó chủ tịch tập đoàn Alstom (1989-1992)
  • Giám đốc Alstom Châu Á (1986-1989)
  • Phó giám đốc Alstom Transport (1992-1997)
  • Giám đốc Suez khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (1997-2004)
Vợ/chồng
Vũ Thị Mộng Lan
(cưới 1972)
Con cái3
Cha mẹ
  • Phan Văn Tạo
Trang webBản mẫu:LinkedIn URL

Phan Văn Trường là chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực đàm phán quốc tế và là cố vấn của Chính phủ Pháp về thương mại Quốc tế.[1] Ông được Tổng thống Pháp đã trao tặng Huy Chương Hiệp Sĩ Bắc Đẩu Bội Tinh (Chevalier de la Légion d’Honneur) năm 2007.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo sư Phan Văn Trường sinh ngày 27 tháng 07 năm 1946. Nguyên quán: Làng Tranh Xuyên, xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo sư Phan Vân Trường
  • Năm 1970: Kỹ Sư Trường Quốc gia Cầu Đường- Pháp
  • Năm 1973-1975:Nguyên Giảng Viên Quy Hoạch Vùng/Kinh tế Đô thị tại Đại học Paris 1 Panthéon-Sorbonne
  • Năm 1986 - 1992: Nguyên Phó Chủ tịch Alsthom Power
  • Năm 1992 - 1997: Nguyên Phó Chủ tịch Alsthom Transports
  • Năm 1985 - 1986: Nguyên Chủ tịch Alsthom châu Á
  • Năm 1997 - 1998: Nguyên Chủ tịch Suez- ĐNÁ
  • Năm 1998 - 2004: Nguyên Chủ tịch Lyonnaise VietNam-BOT Company
  • Năm 2006 - 2008: Nguyên Chủ tịch Wah-Seong Việt Nam
  • Hiện là Cố vấn Chính phủ Pháp về thương mại quốc tế; Giáo sư cao học Kinh tế đô thị & Quy hoạch vùng tại Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh; và là Cố vấn Hội đồng quản trị Công ty Xây dựng Hòa Bình.[2]
  • Năm 2014: Chủ nhiệm Chương trình đào tạo Kỹ năng Quản trị và Lãnh đạo của Viện John von Neumann trực thuộc Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh theo Quyết định Số: 86/2014/QĐ-JVN
  • Năm 2014: Thành viên Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh địa ốc Hòa Bình

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Thời niên thiếu và thanh niên[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc nhỏ ông Phan Văn Trường sống tại số 15 đường Tôn Đản (nay gọi là Tông Đản), Hà Nội đến năm 1954 thì vào Sài Gòn, ngụ tại 384/61 đường Công Lý (nay Nam Kỳ Khởi Nghĩa), học trung học tại Trường Jean Jacques Rousseau. Sang bên Pháp, năm 1963 ông đi học nội trú tại trường Francisque Sarcey- Dourdan (Essonne). Năm 1964, sau khi đậu tú tài. Và năm 1967, ông đậu trường Quốc gia Cầu Đường của Pháp (École Nationale des Ponts et Chaussées).[1] Năm 1970, ông tốt nghiệp Kỹ Sư. Năm 1973, Ông ghi danh làm luận án Tiến sĩ Kinh tế Đô thị và Quy Hoạch Vùng tại Paris Sorbonne 1 với GS Boudeville, sau khi được bổ nhiệm kỹ sư trưởng tại Sema Metra International. Ông bỏ dở công cuộc nghiên cứu tại trường Đại học Paris 1. Từ đó, ông theo đuổi nghề nghiệp kỹ sư và quản lý/quản trị công ty đến khi về hưu vào cuối năm 2004.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là một trong số hiếm các công dân Pháp gốc Việt được phong tặng tước Chevalier de la Légion d'Honneur, một loại Bảo Quốc Huân Chương của Pháp, nhờ "công lao đóng góp vào việc phát triển nước Pháp". Sinh năm 1946, ông Trường theo học bậc trung học tại trường Jean Jacques Rousseau, tiền thân của trường Lê Quý Đôn, tại Sàigòn, trước khi vào Lycée Janson de Sailly tại Paris để chuẩn bị thi vào trường đại học công chánh danh tiếng thế giới École Nationale des Ponts et Chaussées vào năm 1970. Sự nghiệp quốc tế của ông thực sự bắt đầu năm 1977 khi ông gia nhập công ty SGTE (Société Générale de Techniques et d'Études) một chi nhánh của tổ hợp Spie Batignolles trong cương vị giám đốc đối ngoại. Trong cương vi này, ông đã có dịp nghiên cứu hệ thống cảng biểu sâu tại quần đảo Fiji và một số dự án công nghiệp cho Indonesia. Năm 1986, ông chuyển sang làm cho tổ hợp Alsthom, trong thời gian mà tổ hợp này lớn mạnh cực độ trong số này các hợp đồng cung cấp 300 đầu máy xe lửa và nhiều trung tâm năng lượng cho Trung quốc. Chính trong giai đoạn này, Tổng thống Pháp vào lúc đó đã ký sắc luật tặng cho ông Trường huân chương Chevalier de l'Ordre National du Merite, một huân chương tạm dịch là Bắc Đẩu Bội Tinh. Vào năm 1997, tổ hợp Suez-Lyonnaise des Eaux giao cho ông Phan văn Trường trọng trách phát triển các hoạt động của tổ hợp tại Á châu. Vào tháng 11 cùng năm, ông có tham dự Hội nghị Cấp Cao các nước có sử dụng tiếng Pháp (Sommet de la Francophonie) tại Hà Nội và đã ký một hợp đồng xây dựng và khai thác một nhà máy nước uống tại thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng trước đó, vào năm 1995, ông Phan văn Trường là Cố vấn Ngoại Thương cho Chính phủ Pháp. Vào năm 2006, khi chọn định cư tại Kuala Lumpur, ông đã nhận giảng dạy tại trường Đại học Kiến Trúc Thàmh phố hồ Chí Minh.[1]

Thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những việc lớn nhất ông đã thực hiện được là giúp cho nền điện lực thế giới cấu trúc lại vào cuối những năm 1980[cần dẫn nguồn], đó là lúc lĩnh vực (sector) điện lực thế giới đang gặp nhiều khó khăn về công suất, về giá biểu, về cả công nghệ[cần dẫn nguồn]. Chủ tịch Toshiba thời đó mời ông sang Nhật cộng tác[cần dẫn nguồn]. Chủ tịch Sumitomo sang Pháp có ý kiến muốn gặp mặt "người chuyên gia sắc bén đã làm cho công nghiệp điện Nhật Bản đảo điên"[cần dẫn nguồn].

Những đóng góp với Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đến khi về hưu cuối năm 2004, ông quyết định về nước dạy học miễn phí tại Trường Đại Học Kiến Trúc, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông học lại Việt ngữ sau 41 năm xa quê hương. Ông dạy bộ môn Quy Hoạch Vùng và Kinh tế Đô thị bằng Việt ngữ từ 2005 đến ngày hôm nay.

Song song, Ông cộng tác với sở Khoa Học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (hiện hữu, 2011/2012)[cần dẫn nguồn], ông cũng là Cố vấn Hội đồng Quản trị Công ty Hòa Bình đứng hàng đầu ngành xây dựng tại VN(từ năm 2007)[cần dẫn nguồn], ông cũng là thành viên của Hội từ thiện "Bạn Của Bé". Song song, Ông cũng đóng góp tài sản cá nhân vào các quỹ vi-tín dụng (Sóc Trăng tháng 1/2013).

Sau khi ông đã đóng góp vào việc đào tạo hơn 230 thạc sĩ Quy Hoạch, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Thiện Nhân đã trao cho Ông vào đầu năm 2010 tại Hà Nội huân chương "Vì Sự nghiệp Giáo dục"[cần dẫn nguồn].

Trong nhiều năm, từ 2006 đến 2012, Ông đã cống hiến rất nhiều bài báo trên các diễn đàn quen thuộc trong nước như Saigon Times/Thời Báo Kinh tế, Saigon Giải Phóng, VietnamNet.com, Tuổi Trẻ, Thanh Niên.

Một số lớn bài của ông là những phân tích và tư vấn cho nhà nước trên những vấn đề kỹ thuật thuần túy, như đường sắt cao tốc[cần dẫn nguồn], vịnh Vân Phong[cần dẫn nguồn], quy hoạch lại Hà Nội[cần dẫn nguồn], đô thị hóa và thành phần trung lưu, kinh tế vỉa hè, chính sách xây dựng hệ thống metro, phát triển hệ thống đô thị trung bình trong nước, xã hội đứt quãng. Bài "Tiền Đâu May Áo Mới" nói về quy hoạch các thủ đô, và Hà Nội, đã được độc giả người Việt trên thế giới bầu là một trong những bài đặc sắc nhất.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo sư Phan Văn Trường xuất thân trong một gia đình Nho giáo miền Bắc. Cha của ông Phan Văn Trường là nhà văn Phan Văn Tạo, nguyên Chánh Văn phòng Bộ Ngoại giao(1945-1946)[cần dẫn nguồn], Hiệu Trưởng Trường Nguyễn Văn Tố (1946-1950).[cần dẫn nguồn] Em ruột của Giáo sư Phan Văn Trường là Nhạc sĩ Phan Văn Hưng, là một nhạc sĩ nổi tiếng.[3] Bà Vũ Thị Mộng Lan, vợ Ông Phan Văn Trường là Tiến sĩ Kinh tế Trường Đại Học Sorbonne-Paris tại Pháp.[cần dẫn nguồn]

Ông Bà Phan Văn Trường được hai người con gái.

  • Trưởng nữ Phan Vân Lan, sanh năm 1973, vừa là kỹ sư kinh tế thương mại quốc tế vừa là luật sư.[cần dẫn nguồn]
  • Thứ nữ Phan Vân Đào, sanh năm 1975, kỹ sư Trường Đại học Điện lực Grenoble Pháp và Master Trường Đại học Texas A.M (college station).[cần dẫn nguồn]

Ngoài ra Ông Phan Văn Trường còn có thêm một con nuôi, Cô Isaure Galley. Isaure Galley là cháu gái của Robert Galley, một vị Tổng Trưởng lão thành của Đệ Ngũ Cộng Hòa Pháp, và cũng là chắt ruột của Thống Chế Leclerc de Hauteclocque, người đã cùng De Gaulle giải cứu nước Pháp trong Đại Thế Chiến II và được nước Pháp tôn thờ.[cần dẫn nguồn]

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1990 Tổng thống Pháp đã trao tặng Huy Chương Hiệp Sĩ Đài Ghi Công (Chevalier de l’Ordre du Mérite)
  • Năm 2007: Tổng thống Pháp đã trao tặng Huy Chương Hiệp Sĩ Bắc Đẩu Bội Tinh (Chevalier de la Légion d’Honneur)[1]
  • Năm 2009: Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã trao tặng Huy Chương "vì Sự nghiệp Giáo dục" tại Hà Nội.
  • Năm 2016: Sách của Ông "Một Đời Thương Thuyết" được vinh danh "Sách Hay 2016" trong hạng mục Quản trị.

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc biệt, song song ông viết truyện ngắn bằng Pháp Ngữ trên diễn đàn hàng tháng Good Morning, báo trực tuyến của cựu học sinh Trường Trung học Jean Jacques Rousseau (aejjrsite.free). Ông đã đăng trên 70 truyện từ 2005 đến 2013. Mục đích là viết cho đọc giả Pháp, và chính con cháu của ông hiểu thêm về phong tục Việt Nam hiện đại, những tình huống thời đại, những câu truyện học đường tại Trường Trung học Jean Jacques Rousseau vào những năm 1960.

Các tác phẩm được ưa chuộng nhất:

Truyện tiếng Pháp
  1. Le saumon et le ginseng (Good Morning 59)
  2. Le 79 rue Nguyễn Hữu Cầu (Good Morning 60)
  3. Dis Papy (GM 64)
  4. Trung et Hiếu (GM 65)
  5. Les Cents Oeufs (GM 69)
  6. La Langouste et le Joueur d’échec (GM 71)
  7. Les deux mondes (GM 74)
  8. Je suis Américaine mais,... (GM 76)
  9. La Bentley de Monsignor (GM80)
  10. L’encensoir en bronze des Mạc (GM 82)
  11. Mourir immodérément (GM 84)
  12. Une promenade (GM 86)
  13. Tu seras un Homme, ma fille! (GM 90)
  14. L’irrésistible tentation de vous faire un mot (GM 92)
  15. Le Viet, la Viet et le VietKieu (GM 96)
  16. L’ étrange sonate de Beethoven (GM 97)
  17. Et si c’était demain (GM 99)
  18. Ecoute Marie (GM 100)
  19. Le coeur serré en cet été 2009 (GM101)
  20. Les confessions de Hạnh (GM 104)
  21. Monsieur Pomme et la Pêche aux Péchés (GM 106)
  22. L’arbitraire et le sacré (GM 109)
  23. En passant par la Moskva (GM112)
  24. La vierge du 3ème jour (GM 113)
  25. Le centimetre décisif (GM 114)
  26. Ce matin là (GM 118)
  27. Thu et Phong, la vraie vie (GM 131)
  28. Ode à un monde disparu (GM 134)
  29. L’ âme de Septembre (GM137)
  30. Mon ami Pierrot (GM138)
  31. La Pépite de Vie (GM139)
  32. La vraie valeur de l’existence (GM 141)
  33. L’imaginaire et l’obsessionnel (GM 142)
Hồi ký tiếng Việt
  1. Một đời thương thuyết (Nhà xuất bản Trẻ, 2014)
  2. Một đời quản trị (Nhà xuất bản Trẻ, 2017)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]