Pheng Xat Lao

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Pheng Xat Lao
Tiếng Anh: Quốc ca Lào
"Pheng Xat Lao" sheet music.gif

Quốc gia ca của  Lào
LờiSisana Sisane, 1975
NhạcThongdy Sounthonevichit, 1941
Được chấp nhận1945
Đoạn nhạc mẫu

Pheng Xat Lao (tiếng Lào: ເພງຊາດລາວ, dịch nghĩa đen: "Bài thánh ca của nhân dân Lào") là quốc ca của Lào. Thongdy Sounthonevichit đã viết phần nhạc và lời vào năm 1941. Nó được sử dụng làm quốc ca của Vương quốc Lào vào năm 1945. Khi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được thành lập vào năm 1975, lời mới được thay cho lời cũ, nhưng giai điệu và tên bài ca vẫn được giữ nguyên.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Từ lâu là một quốc gia cống hiến cho Xiêm, năm 1893, Lào trở thành một nước bảo hộ thuộc Pháp trong đế chế thực dân. Người Pháp tuyên bố sự thôn tính của họ là để bảo vệ Lào khỏi các "nước láng giềng thù địch" như Trung Quốc và đặc biệt là Xiêm, vốn đã bị quân đội buộc phải nhượng lại Lào cho cường quốc thực dân châu Âu. Trên thực tế, Pháp chỉ đơn giản cai trị Lào như một thuộc địa, thậm chí còn đưa nhiều người Việt vào làm việc. Tuy nhiên, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ đã sớm chứng kiến ​​sự sụp đổ của Pháp đối với Đức Quốc xã. Chính phủ cánh hữu mới ở Xiêm coi đây là cơ hội có thể để giành lại lãnh thổ Thái Lan trước đây đã bị mất cho Pháp, đặc biệt là vùng đất nằm ở phía bên bờ sông Thái Lan. Để chống lại điều này, chính quyền thực dân Pháp bắt đầu thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc Lào.[1]

Vì sự tự do hóa này, nhiều bài hát yêu nước đã được sáng tác, mỗi bài đều nhấn mạnh "tính độc đáo" của Lào.[2] "Pheng Xat Lao" là một trong số đó, được sáng tác bởi Thongdy Sounthonevichit vào năm 1941.[3] Bài hát đã được chọn làm quốc ca vào năm 1945,[4] khi nhà vua bị quân Nhật Bản chiếm đóng buộc phải tuyên bố Lào độc lập khỏi sự cai trị của Pháp. Sự tự do mới này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, vì Pháp nhanh chóng giành lại quyền kiểm soát Đông Dương thuộc Pháp sau khi Nhật Bản đầu hàng vào năm 1945.[1] Năm 1947, Pháp trao quyền tự trị hạn chế cho Lào trong Liên hiệp Pháp, và "Pheng Xat Lao" lại trở thành quốc ca.[5]

Khi Pathet Lào chiến thắng năm 1975, nhờ sự trợ giúp lớn của Việt Nam trong Nội chiến Lào, chính quyền cộng sản mới đã bãi bỏ chế độ quân chủ và thay đổi lời bài hát để phản ánh hệ tư tưởng của chế độ Mác xít.[6] Kết quả là bài quốc ca trở nên toàn diện, đề cập đến tất cả các nhóm dân tộc ở Lào, thay vì tập trung vào chủng tộc LàoPhật giáo. Tuy nhiên, giai điệu vẫn được giữ lại.[7]

Lời bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản sau năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Lào Chuyển tự Latinh Tiếng Việt

ຊາດລາວຕັ້ງແຕ່ໃດມາ ລາວທຸກຖ້ວນຫນ້າເຊີດຊູສຸດໃຈ
ຮ່ວມແຮງຮ່ວມຈິດຮ່ວມໃຈ ສາມັກຄີກັນເປັນກຳລັງດຽວ
ເດັດດ່ຽວພ້ອມກັນກ້າວຫນ້າ ບູຊາຊູກຽດຂອງລາວ
ສົ່ງເສີມໃຊ້ສິດເປັນເຈົ້າ ລາວທຸກຊົນເຜົ່າສະເໝີພາບກັນ
ບໍ່ໃຫ້ຝູງຈັກກະພັດ ແລະພວກຂາຍຊາດເຂົ້າມາລົບກວນ
ລາວທັງມວນຊູເອກະລາດ ອິດສະລະພາບຂອງຊາດລາວໄວ້
ຕັດສິນໃຈສູ້ຊິງເອົາໄຊ ພາຊາດກ້າວໄປສູ່ຄວາມວັດທະນາ

Xat Lao tang tae day ma, Lao thook thuan na xeut xoo soot chay,
Huam haeng huam chit huam chay, Samakkhi kan pen kamlang diao.
Det diao phom kan kao na, Boo xa xu kiat khong Lao,
Song seum xay sit pen chao, Lao thook xon phao sameu pab kan.
Bo hay fung chackkaphat, Lae phuak khay xat khao ma lob kuan,
Lao thang muan xoo ekkalat, Itsalaphab khong xat Lao vai,
Tatsin chay soo xing ao xay, Pa xat kao pay soo khuam vatthana.

Quốc gia Lào từ ngàn xưa đến nay, tất cả người Lào đều ngợi ca hết lòng,
Chung sức chung lòng, đoàn kết thành một khối.
Quyết cùng nhau tiến lên, tôn vinh quốc gia Lào,
Khuyến khích quyền làm chủ, tất cả các dân tộc Lào đều bình đẳng.
Không cho bọn đế quốc, và bè lũ bán nước xâm lăng,
Toàn thể dân tộc Lào giữ gìn độc lập, tự do cho quốc gia Lào,
Quyết tâm đấu tranh giành chiến thắng, đưa quốc gia tiến tới thịnh vượng.

Phiên bản trước năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Lào Chuyển tự Latinh

ຊາດລາວຕັ້ງແຕ່ເດີມມາ ຂື້ນຊື່ລືຊາຢູ່ໃນອາຊີ
ຊາວລາວຜູກພັນໄມຕຼີ ຮ່ວມສາມັກຄີຮັກຫໍ່ໂຮມກັນ
ຮັກຊາດຮັກປະເທດເຮົາ ຮັກເຈົ້າປົກເກດເກສາ
ໂຮມຮັກຮ່ວມສາສນາ ແຕ່ບູຮານມາຮັກສາດິນແດນ
ບໍ່ໃຫ້ຊາດໃດມາລວນ ຮາວີຮົບກວນຍາດແຍ່ງຊີງເອົາ
ໃຜຂືນເຂົ້າມາລູ່ວຸ່ນວາຍ ສູ້ຈົນຕົວຕາຍຕ້ານທານສັດຕຼູ
ຊ່ວຍເຊີດຊູເລືອດເນື້ອເຊື້ອເຜົ່າ ຟື້ນຟູກູ້ເອົາບັນເທົາທຸກກັນ

Xat Lao thung thae derm ma, Khun xu lu xa yu nai ahzi,
Sao Lao phouk parn maitri, Huam samakkhi huk ho hôm karn.
Huk xat huk pathét hao, Huk jao pôk két késa,
Hôm huk huam satsana, Thae buhlahn ma huksa din daen.
Baw hai xat dai ma luan, Havi hôp kuan yat yaeng xing ao,
Phai khun khao ma loun vounvai, Sou jôn thua tai tan than sattru,
Suay xeut xu leuat nua xua phao, Feun fu ku ao banthao thouk karn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “History of Laos”. Lonely Planet. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2013. 
  2. ^ Raffin, Anne (2005). Youth Mobilization in Vichy Indochina and Its Legacies: 1940 to 1970. Lexington Books. tr. 137–38. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013. 
  3. ^ Doedan, Matt (2007). Laos in Pictures. Twenty-First Century Books. tr. 69. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013. 
  4. ^ “Laos”. The World Factbook. CIA. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013. 
  5. ^ Kutler, Stanley I. biên tập (1996). “Laos”. Encyclopedia of the Vietnam War. New York: Charles Scribner's Sons. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013.  (cần đăng ký mua)
  6. ^ Holt, John Clifford (2009). Spirits of the place: Buddhism and Lao religious culture. University of Hawaii Press. tr. 133. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013. 
  7. ^ St. John, Ronald Bruce (11 tháng 1 năm 2013). Revolution, Reform and Regionalism in Southeast Asia: Cambodia, Laos and Vietnam. Routledge. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]