Bước tới nội dung

Philippe Aghion

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Philippe Aghion
Aghion tại Đại học Boston vào tháng 2 năm 2015
SinhPhilippe Mario Aghion
17 tháng 8, 1956 (69 tuổi)
Paris, Pháp
Nổi tiếng vìMô hình Aghion–Howitt
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh
Hủy diệt sáng tạo
Người thânGaby Aghion (mẹ)
Trình độ học vấn
Học vấnÉcole normale supérieure de Cachan (BA)
Đại học Panthéon-Sorbonne (DEA, doctorat de troisième cycle)
Đại học Harvard (PhD)
Sự nghiệp học thuật
Trường pháiKinh tế Tân-Schumpeter[1]
Nơi công tácCollège de France
INSEAD
Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị Luân Đôn
Đại học Harvard
University College London
Nuffield College, Oxford
Viện Công nghệ Massachusetts
Giải thưởngBBVA Foundation Frontiers of Knowledge Award (2019)
Giải Nobel Kinh tế (2025)

Philippe Mario AghionFBA (tiếng Pháp: [filip aɡjɔ̃]; sinh ngày 17 tháng 8 năm 1956) là một nhà kinh tế học người Pháp. Ông hiện là Giáo sư kiêm Chủ nhiệm về Kinh tế học về Thể chế, Đổi mới Sáng tạo và Tăng trưởng tại Collège de France và là Giáo sư giữ Ghế vinh danh Kurt Björklund về Đổi mới sáng tạo và Tăng trưởng tại Trường kinh doanh INSEAD.[2] Ông cũng là Giám đốc Phòng thí nghiệm về Kinh tế học Đổi mới sáng tạo tại INSEAD.

Aghion được biết đến nhiều nhất qua công trình nghiên cứu chung với Peter Howitt, trong đó nổi bật là Mô hình Aghion–Howitt. Với đóng góp này, hai ông cùng nhận một nửa Giải Nobel Kinh tế năm 2025 cho “lý thuyết tăng trưởng bền vững thông qua huỷ diệt sáng tạo”.[3]

Tiểu sử và học vấn

[sửa | sửa mã nguồn]

Philippe Aghion sinh tại Paris năm 1956,[4] là con trai của Gaby Aghion,[5] nhà thiết kế thời trang người Pháp và là người sáng lập nhãn hàng Chloé. Cha ông, Raymond Aghion, điều hành một phòng trưng bày nghệ thuật tại Boulevard Saint-Germain.[6]

Cả cha và mẹ của Aghion xuất thân từ các gia đình do thái Ý - Hy Lạp sống tại Alexandria, Ai Cập.[7] Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Rayomnd và Gaby Aghion từng có thời gian lưu vong tại Israel, sống trong tư dinh của người chú Edward Raphael Aghion, căn nhà mà ngày nay là nhà công vụ của Thủ tướng Israel với tên gọi Beit Aghion. Họ sau đó chuyển tới Pháp và định cư ở Paris.[8] Raymond Aghion là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp. Henri Curiel, một nhà cộng sản và hoạt động chống chủ nghĩa thực dân Pháp nổi bật, là anh em con chú con bác của Raymond Aghion.

Philippe Aghion theo học ban toán tại École normale supérieure de Cachan và lấy bằng diplôme d'études approfondies cùng tiến sĩ (doctorat de troisième cycle) về kinh tế học toán học tại Đại học Panthéon-Sorbonne năm 1983.[9] Ông nhận bằng PhD kinh tế tại Đại học Harvard năm 1987.[9]

Khi còn là sinh viên, ông là một người theo chủ nghĩa cộng sản và từng bán L'Humanité tại quảng trường Monge ở Paris. Ông thậm chí còn từng theo học trường đào tạo cán bộ của Đảng Cộng sản Pháp với mục tiêu trở thành cán bộ chuyên trách của đảng.[10] Theo Fabien Roussel, Chủ tịch Đảng Cộng sản Pháp, thì Philippe Aghion là đảng viên từ 1973 tới 1984.[11]

Sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Aghion bắt đầu sự nghiệp học thuật năm 1987 khi gia nhập Viện Công nghệ Massachusetts với vai giáo sư dự khuyết.[12] Năm 1989, ông trở về Pháp và trở thành nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS).[12] Năm 1990, ông được bổ nhiệm làm Phó kinh tế trưởng của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu.[12] Năm 1992, ông công bố công trình nghiên cứu mà sau này được trao giải Nobel.

Sau đó, Aghion chuyển sang giảng dạy tại Nuffield College, Oxford và tiếp tục công tác tại University College London từ năm 1996.[12] Năm 2002, ông quay lại Đại học Harvard và giữ chức Giáo sư Kinh tế Robert C. Waggoner cho đến năm 2015, khi ông được bổ nhiệm làm Centennial Professor of Economics tại Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị Luân Đôn.[13][12]

Năm 2015, song song với việc trở thành giáo sư tại LSE, Aghion được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm ghế Kinh tế học tại Collège de France, một cơ sở học thuật đặc biệt của Pháp, nơi các giáo sư được tuyển chọn thông qua quy trình hàn lâm nghiêm ngặt và giữ ghế theo chế độ statutory chair.[14]

Năm 2020, Aghion được bổ nhiệm làm Giáo sư có ghế Kurt Björklund về Đổi mới sáng tạo và Tăng trưởng tại INSEAD, đồng thời giữ vai trò giám đốc học thuật của INSEAD Economics of Innovation Lab. Cùng năm đó, ông chuyển sang trở thành giáo sư thỉnh giảng tại Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị Luân Đôn và tiếp tục cộng tác với Trung tâm Nghiên cứu về Kinh tế của trường.[15]

Công trình nghiên cứu

[sửa | sửa mã nguồn]
Tại Đại học Boston (tháng 2 năm 2015).

Các công trình đầu tiên của ông, vào cuối những năm 1980, tập trung vào lý thuyết hợp đồngtài chính doanh nghiệp, đặc biệt là các nghiên cứu với Patrick BoltonOliver Hart, xoay quanh các vấn đề về cơ chế khuyến khích, phá sản và quản trị doanh nghiệp. Năm 1992, ông đề xuất, cùng với Peter Howitt, một mô hình nền tảng của lý thuyết tăng trưởng nội sinh theo trường phái Schumpeter[16][17], tập trung vào đổi mới và hủy diệt sáng tạo.

Công trình này mở ra một lĩnh vực rộng lớn các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về các yếu tố quyết định và các chính sách tăng trưởng. Điều này dẫn ông, trong những năm 2000, đến việc nghiên cứu các mối liên hệ giữa cạnh tranh, thể chế và tăng trưởng, đặc biệt là mối quan hệ hình chữ U ngược giữa cường độ cạnh tranh và đổi mới sáng tạo[2]. Các nghiên cứu của ông mở rộng sang các vấn đề bất bình đẳng, di động xã hội và kinh tế chính trị của đổi mới. Các công trình gần đây nhất của ông đề cập đến tác động của tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, toàn cầu hóa, cũng như tăng trưởng xanh[18].

Các công trình của ông bị phê phán vì khuynh hướng lạc quan về công nghệ, sự gắn bó với tăng trưởng GDP như một chỉ số trung tâm, cũng như sự hiểu biết bị cho là hạn chế về cuộc khủng hoảng môi trường đa nhân tố đương đại[19]. Tuy nhiên, ông tuyên bố "Tôi tin rằng cần có tăng trưởng vì không thể phân phối những gì ta không sản xuất. Nhưng tôi muốn tăng trưởng đó mang tính bao trùm. Tôi muốn mọi người đều có thể có phần của mình, được tham gia", trong phiên điều trần của ông trước CESE năm 2024. Chuỗi bài giảng của ông tại Collège de France cho năm học 2024–2025 tập trung vào tăng trưởng xanh[20], trong đó ông trình bày các cơ chế của quá trình “xanh hóa” đổi mới và, chẳng hạn, giới thiệu nghiên cứu của mình về “giảm tăng trưởng nội sinh”, cùng với Timo Boppart, Michael Peters, Matthew Schwartzman và Fabrizio Zilibotti[21].

Aghion–Howitt 1992 và nghịch lý của phá hủy sáng tạo

[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Ufuk Akcigit, khung tư duy do Philippe Aghion và Peter Howitt phát triển trong công trình năm 1992[16] đã cách mạng hóa phân tích các động lực tăng trưởng kinh tế nội sinh bằng cách kết nối giữa lý thuyết vĩ mô và mô hình vi mô ở cấp độ doanh nghiệp, qua đó giải thích sự phổ biến của mô hình này trong văn liệu kinh tế. Cách tiếp cận của họ đặc biệt ở chỗ họ chỉ ra những điều kiện giúp tạo ra cơ chế hủy diệt sáng tạo theo Schumpeter, theo đó các đổi mới làm cho các công nghệ cũ trở nên lỗi thời (hiệu ứng “business stealing”) và chi phối cả việc thành lập lẫn phá sản doanh nghiệp.

Trước Howitt và Aghion, người ta thường cho rằng sự hủy diệt sáng tạo bắt nguồn từ những yếu tố không tác động được, như tinh thần khởi nghiệp. Tuy nhiên, trong phân tích của mình, Aghion và Howitt, chỉ ra, nỗ lực đổi mới là phản ứng trước việc tìm kiếm "địa tô" của các doanh nghiệp. Các địa tô này đóng vai trò như “củ cà rốt”, còn phá hủy sáng tạo là “cây gậy”; tuy nhiên, khi địa tô quá lớn, chúng cho phép thiết lập các rào cản gia nhập đối với các doanh nghiệp mới trên thị trường. Đồng thời, động cơ nỗ lực đổi mới biến mất, và có thể dẫn tới tăng trưởng chậm lại khi không còn “cây gậy” và “củ cà rốt” đã đạt được. Qua đó, Aghion và Howitt xác định điều kiện để có hủy diệt sáng tạo liên tục là khi môi trường kinh doanh ở trạng thái cạnh tranh độc quyền, nằm giữa cạnh tranh hoàn hảođộc quyền. Chính việc tính đến sự khác biệt giữa các doanh nghiệp tạo nên tính độc đáo của nghịch lý này, cho phép nghiên cứu động lực tăng trưởng tùy theo doanh nghiệp là nhỏ hay lớn, đã hiện diện trên thị trường hay mới thành lập, ở tuyến đầu đổi mới hay ở vị thế bắt chước[22].

Bẫy thu nhập trung bình

[sửa | sửa mã nguồn]

Philippe Aghion cũng đã đóng góp cho việc phân tích “Bẫy thu nhập trung bình”, thuật ngữ chỉ khó khăn của một số quốc gia đang phát triển trong việc vượt qua ngưỡng để trở thành nền kinh tế tiên tiến. Theo ông[23], tăng trưởng dựa trên tích lũy vốn và bắt chước công nghệ ban đầu cho phép bắt kịp nhanh, nhưng đạt tới giới hạn khi các quốc gia tiến gần đến biên công nghệ[2]. Để duy trì quỹ đạo tăng trưởng, các nước này phải tái định hướng các thể chế và chính sách của mình theo hướng đổi mới ở biên, điều được minh họa bởi thất bại của Argentina trong thế kỷ XX hoặc, ngược lại, thành công tạm thời của Hàn Quốc sau khủng hoảng châu Á năm 1997. Trong những bối cảnh này, các lợi ích đã được thiết lập của các doanh nghiệp thống lĩnh thường cản trở các cải cách nhằm thúc đẩy cạnh tranh, nghiên cứu và mở cửa kinh tế. Aghion qua đó làm nổi bật tầm quan trọng của các chuyển đổi thể chế: chỉ có việc áp dụng các chính sách phù hợp — giáo dục đại học, hỗ trợ nghiên cứu cơ bản, thị trường tài chính phát triển và cạnh tranh hiệu quả — mới cho phép tránh sự suy kiệt tăng trưởng và vượt qua ngưỡng giữa bắt kịp và đổi mới.

Bất bình đẳng, di động xã hội và giáo dục

[sửa | sửa mã nguồn]

Philippe Aghion đã dành một phần quan trọng các nghiên cứu của mình cho mối liên hệ giữa tăng trưởng, bất bình đẳng và di động xã hội. Các công trình của ông cho thấy rằng đổi mới, động lực của phá hủy sáng tạo, có xu hướng làm gia tăng chênh lệch thu nhập trong nhóm 1% giàu nhất bằng cách ưu ái các cá nhân và doanh nghiệp ở biên công nghệ[24]. Tuy nhiên, các bất bình đẳng này có thể tương thích với tăng trưởng nếu chúng đi kèm với mức độ di động xã hội cao. Trong cách tiếp cận này, Aghion nhấn mạnh vai trò trung tâm của giáo dục và đào tạo: đầu tư vào giáo dục trung học và đại học quyết định khả năng của cá nhân trong việc tham gia vào các động lực đổi mới và tiếp cận mức di động liên thế hệ cao hơn. Ông cũng quan tâm đến thuế khóa và chính sách công, cho thấy rằng việc đơn giản hóa các khuyến khích thuế có thể kích thích tinh thần doanh nhân, trong khi các mạng lưới an sinh xã hội được thiết kế tốt sẽ khuyến khích chấp nhận rủi ro và đổi mới[25]. Những phân tích này tiếp nối lý thuyết Schumpeter bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của các thể chế giáo dục và phân phối lại nhằm làm cho tăng trưởng trở nên bao trùm và bền vững.

Tự động hóa và Trí tuệ nhân tạo (AI)

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ cuối những năm 2010, Philippe Aghion phát triển một chương trình nghiên cứu về Trí tuệ nhân tạo (AI). Ông đặc biệt quan tâm đến tác động của AI đối với việc làm và năng suất[26] [27]. Ông thể hiện thái độ lạc quan và cho rằng AI sẽ biến đổi bản chất của việc làm và nhiệm vụ, nhưng có tác động tích cực đến việc làm và năng suất; đồng thời ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thích ứng các chương trình đào tạo, cũng như của một hệ thống an sinh xã hội chất lượng cao trước những biến động này[28] [29]. Năm 2024, ông được Tổng thống Pháp giao nhiệm vụ đồng chủ trì ủy ban về AI cùng với Anne Bouverot; hai người đã công bố một báo cáo đưa ra 25 đề xuất cho một chiến lược AI của Pháp[30]. Cũng trong năm 2024, ông giành được một khoản tài trợ Advanced Grant của ERC để tiếp tục các nghiên cứu của mình, đặc biệt là về đổi mới đột phá và cuộc cách mạng AI[31].

Hoạt động chính trị và chính sách

[sửa | sửa mã nguồn]

Aghion thường xuyên tham gia vào các cuộc thảo luận chính sách công tại Pháp, đặc biệt liên quan đến tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo và cải cách thể chế. Ông được xem là một trong những nhà kinh tế có ảnh hưởng đến tư duy chính sách kinh tế tại Pháp trong thập niên 2010.

Trước bầu cử tổng thống Pháp năm 2012, Aghion là một trong số các nhà kinh tế ký tên vào thư ngỏ công khai ủng hộ ứng viên François Hollande.[32]

Trong nhiệm kỳ tổng thống của Emmanuel Macron, Aghion từng giữ vai trò cố vấn kinh tế không chính thức cho chính phủ Pháp trong một số vấn đề liên quan đến đổi mới sáng tạo, chính sách cạnh tranh và cải cách giáo dục đại học. Ông tham gia hoặc đóng góp cho nhiều báo cáo và hội đồng tư vấn chính sách, trong đó có các báo cáo tăng trưởng thường được gọi là “Aghion report”.

Aghion cũng nhiều lần công khai bảo vệ vai trò của khoa học, sự thật học thuật và tự do nghiên cứu trong các cuộc tranh luận chính trị đương đại tại Pháp, nhấn mạnh tầm quan trọng của bằng chứng khoa học trong hoạch định chính sách công.[33]

Giải thưởng

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2019, Aghion và Peter Howitt nhận Giải Frontiers of Knowledge của Quỹ BBVA trong lĩnh vực Kinh tế học.[34] Ông và Howitt cũng được trao một nửa Giải Nobel Kinh tế năm 2025 “cho lý thuyết tăng trưởng bền vững thông qua phá hủy sáng tạo”, nửa còn lại thuộc về Joel Mokyr.[4]

Báo cáo Aghion

[sửa | sửa mã nguồn]

Aghion là tác giả chính của một số báo cáo chính sách có ảnh hưởng lớn đối với chính phủ Pháp, thường được gọi chung là “Aghion report”. Các báo cáo này tập trung vào cải cách cấu trúc nhằm thúc đẩy tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế Pháp thông qua đổi mới sáng tạo, giáo dục và tăng cường cạnh tranh.

Năm 2010, ông chủ trì báo cáo L’économie de la croissance, được thực hiện theo yêu cầu của Thủ tướng Pháp khi đó, trong đó nhấn mạnh vai trò trung tâm của đổi mới sáng tạo, đầu tư vào giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học đối với tăng trưởng kinh tế.[35]

Năm 2021, Aghion đồng chủ trì báo cáo Repenser la croissance, trình bày một khuôn khổ chính sách tăng trưởng mới cho Pháp, kết hợp mục tiêu tăng trưởng kinh tế với chuyển đổi xanh và giảm bất bình đẳng. Báo cáo này có ảnh hưởng đáng kể đến các cuộc thảo luận chính sách kinh tế dưới thời Tổng thống Emmanuel Macron.[36]

Hoạt động khác

[sửa | sửa mã nguồn]

Aghion được bầu làm Viện sĩ của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học Hoa Kỳ năm 2009.[37] Ông cũng là thành viên của Ủy ban Điều hành và Giám sát (Executive and Supervisory Committee) của CERGE-EI.[38][39]

Năm 2017, ông giữ chức Chủ tịch Hiệp hội Kinh tế châu Âu.[40] Từ năm 2018, ông là biên tập viên của Annual Review of Economics.[41]

Trước bầu cử tổng thống Pháp năm 2012, Aghion là một trong những nhà kinh tế ký tên vào thư ngỏ ủng hộ ứng viên François Hollande.[42]

Ấn phẩm

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "Philippe Aghion, Peter Howitt and Joel Mokyr win 2025 Nobel Prize in Economics". Le Monde (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2025.
  2. ^ a b c "Philippe Aghion | Collège de France". www.college-de-france.fr (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2025. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “:3” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  3. ^ Ahlander, Johan; Allen, Jonathan; Johnson, Simon. "Trio win Nobel economics prize for work on innovation, growth and 'creative destruction'". Reuters. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2025.
  4. ^ a b "The Prize in Economic Sciences 2025" (PDF). The Royal Swedish Academy of Sciences. ngày 13 tháng 10 năm 2025.
  5. ^ Cetinic, Oleg; Leicester, John (ngày 13 tháng 10 năm 2025). "Nobel laureate Philippe Aghion says creative upbringing shaped his vision of innovation and freedom". AP News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2025.
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :2
  7. ^ . ngày 28 tháng 10 năm 2019 https://www.vanityfair.fr/pouvoir/politique/story/rencontre-avec-philippe-aghion-le-conseiller-de-macron-qui-a-grandi-dans-les-defiles-chloe/10552. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |langue= (gợi ý |language=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |nom= (gợi ý |last=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |prénom= (gợi ý |first=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp).
  8. ^ Article (sửa | talk | lịch sử | liên kết | theo dõi | nhật trình).
  9. ^ a b Wallet, Paul-Henri (ngày 14 tháng 10 năm 2025). "Philippe Aghion : quelles études a suivi le nouveau prix Nobel d'économie ?". Le Figaro Etudiant (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2025.
  10. ^ Article (sửa | talk | lịch sử | liên kết | theo dõi | nhật trình)
  11. ^ . 11 décembre 2025 https://x.com/Fabien_Roussel/status/1999160125685444999. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |auteur= (gợi ý |author=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp)
  12. ^ a b c d e Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :03
  13. ^ "Philippe Aghion". The London School of Economics and Political Science (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2025.
  14. ^ "Scientific truth is a pillar to be defended". www.college-de-france.fr (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
  15. ^ cep.lse.ac.uk https://cep.lse.ac.uk/_new/people/person.asp. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  16. ^ a b Article (sửa | talk | lịch sử | liên kết | theo dõi | nhật trình).
  17. ^ Article (sửa | talk | lịch sử | liên kết | theo dõi | nhật trình).
  18. ^ https://www.philippeaghion.com/publications. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |langue= (gợi ý |language=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp).
  19. ^ . ngày 10 tháng 2 năm 2025 https://aoc.media/opinion/2025/02/10/leconomiste-philippe-aghion-ou-le-crepuscule-des-idoles/. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |langue= (gợi ý |language=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |nom= (gợi ý |last=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |prénom= (gợi ý |first=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp).
  20. ^ . ngày 8 tháng 7 năm 2024 https://www.college-de-france.fr/fr/agenda/cours/impulser-une-nouvelle-croissance-ia-et-innovation-verte. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |langue= (gợi ý |language=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp).
  21. ^ . ngày 8 tháng 7 năm 2024 https://www.college-de-france.fr/fr/agenda/cours/impulser-une-nouvelle-croissance-ia-et-innovation-verte/innovation-verte-et-le-debat-sur-la-decroissance. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |langue= (gợi ý |language=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp).
  22. ^ . 2023. ISBN 978-0-674-27036-7. {{Chú thích sách}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |auteur1= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |auteur2= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |champ libre= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |directeur1= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |directeur2= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |isbn2= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |isbn3= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |langue= (gợi ý |language=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |présentation en ligne= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |éditeur= (gợi ý |editor=) (trợ giúp).
  23. ^ . 2023. ISBN 978-0-674-29209-3. {{Chú thích sách}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |nom1= (gợi ý |last1=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |nom2= (gợi ý |last2=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |nom3= (gợi ý |last3=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |prénom1= (gợi ý |first1=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |prénom2= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |éditeur= (gợi ý |editor=) (trợ giúp).
  24. ^ Article (sửa | talk | lịch sử | liên kết | theo dõi | nhật trình).
  25. ^ . ngày 5 tháng 7 năm 2021 https://www.college-de-france.fr/fr/agenda/cours/repenser-le-capitalisme. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |langue= (gợi ý |language=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp).
  26. ^ . ngày 28 tháng 10 năm 2025 https://www.project-syndicate.org/commentary/ai-will-boost-productivity-growth-without-harming-jobs-by-philippe-aghion-et-al-2025-10/french. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |langue= (gợi ý |language=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |nom= (gợi ý |last=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |prénom= (gợi ý |first=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp)
  27. ^ . ngày 25 tháng 12 năm 2025 https://www.lexpress.fr/economie/lutte-contre-le-cancer-deux-prix-nobel-francais-ia-retour-sur-les-bonnes-nouvelles-de-2025-SD4X6XCJBVDW7NPQ6W2TVTCEGI/. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |langue= (gợi ý |language=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp)
  28. ^ . ngày 27 tháng 11 năm 2025 https://www.radiofrance.fr/franceinter/podcasts/zoom-zoom-zen/zoom-zoom-zen-du-jeudi-27-novembre-2025-5871507. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |langue= (gợi ý |language=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp)
  29. ^ . ngày 18 tháng 10 năm 2025 https://www.repubblica.it/economia/2025/10/19/news/intervista_premio_nobel_economia_2025_philippe_aghion_intelligenza_artificiale_innovazione_distruzione_creativa-424922433/. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |langue= (gợi ý |language=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |nom= (gợi ý |last=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |prénom= (gợi ý |first=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp)
  30. ^ a b . ngày 15 tháng 3 năm 2024 https://www.vie-publique.fr/rapport/293444-ia-notre-ambition-pour-la-france. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |langue= (gợi ý |language=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp)
  31. ^ . 2024 https://erc.europa.eu/sites/default/files/2025-06/erc-2024-adg-results-all-domains.pdf. {{Chú thích web}}: |title= trống hay bị thiếu (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |auteur= (gợi ý |author=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |consulté le= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |site= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |titre= (gợi ý |title=) (trợ giúp)
  32. ^ "Philippe Aghion". The London School of Economics and Political Science (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2025.
  33. ^ "Philippe Aghion". The London School of Economics and Political Science (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2025.
  34. ^ "12th Edition Archives".
  35. ^ "Philippe Aghion". The London School of Economics and Political Science (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2025.
  36. ^ "Philippe Aghion". The London School of Economics and Political Science (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2025.
  37. ^ "Eighteen faculty, affiliates named to 2009 class of AAAS Fellows". Harvard Gazette. ngày 20 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2025.
  38. ^ "CERGE-EI | Executive and Supervisory Committee | Governance Bodies | People". www.cerge-ei.cz.
  39. ^ "Book of Members, 1780–2010: Chapter A" (PDF). American Academy of Arts and Sciences. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2011.
  40. ^ "Past Presidents | EEA".
  41. ^ "Annual Review of Economics, Planning Editorial Committee – Volume 10, 2018". Annual Reviews Directory. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2021.
  42. ^ "Nous, économistes, soutenons Hollande". Le Monde (bằng tiếng Pháp). ngày 17 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2025.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “note”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="note"/> tương ứng