Philippe Coutinho

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Philippe Coutinho
20180610 FIFA Friendly Match Austria vs. Brazil Philippe Coutinho 850 1692.jpg
Coutinho thi đấu cho Brasil năm 2018
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Philippe Coutinho Correia[1]
Ngày sinh 12 tháng 6, 1992 (27 tuổi)
Nơi sinh Rio de Janeiro, Brasil
Chiều cao 1,71 m (5 ft 7 12 in)[2]
Vị trí Tiền vệ tấn công / Tiền vệ cánh
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Barcelona
Số áo 7
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1999–2008 Vasco da Gama
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2008–2013 Internazionale 28 (3)
2009–2010Vasco da Gama (mượn) 19 (1)
2012Espanyol (mượn) 16 (5)
2013–2018 Liverpool 152 (41)
2018– Barcelona 51 (13)
Đội tuyển quốc gia
2009 U-17 Brasil 5 (3)
2011–2012 U-20 Brasil 7 (3)
2010– Brasil 55 (16)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 27 tháng 4 năm 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 7 tháng 7 năm 2019

Philippe Coutinho Correia (sinh ngày 12 tháng 6 năm 1992) là một cầu thủ bóng đá người Brasil hiện đang chơi cho câu lạc bộ Barcelona của Tây Ban Nhađội tuyển quốc gia Brasil ở vị trí tiền vệ tấn công, tiền vệ cánh hoặc tiền đạo cánh.

Anh bắt đầu sự nghiệp tại câu lạc bộ Brasil Vasco da Gama trước khi chuyển đến thi đấu cho Inter Milan của Ý, và được cho Espanyol mượn vào năm 2012. Vào tháng 1 năm 2013, Coutinho ký hợp đồng với câu lạc bộ đang thi đấu tại Premier League - Liverpool với mức giá 8,5 triệu euro. Với khả năng đọc trận đấu, cũng như khả năng qua người, rê bóng và tấn công, anh đã được các cổ động viên và đồng đội tại Liverpool đặt biệt danh Tiểu phù thủy.[3][4] Vua bóng đá Pelé cho rằng Coutinho hứa hẹn sẽ là một "tương lai lớn" cho bóng đá thế giới,[5] sau khi lọt vào danh sách Đội hình của năm bởi PFA.[6] Và sau đó, Coutinho kí hợp đồng 146 triệu bảng với Barcelona.

Ở tuổi 18, Coutinho có trận ra mắt đầu tiên trên đấu trường quốc tế cho Brasil vào năm 2010. Anh cũng xuất hiện trong thành phần tuyển quốc gia tham dự Copa América 2015, World Cup 2018Copa América 2019.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Vasco da Gama[sửa | sửa mã nguồn]

Coutinho bắt đầu sự nghiệp bóng đá của mình từ 1 thanh niên tại Vasco da Gama Vào năm 2008 ở độ tuổi 16, Coutinho được câu lạc bộ Ý Inter Milan mua với giá 4 triệu €. Coutinho ở lại Vasco cho đến khi sinh nhật lần thứ 18 của mình anh mới có thể chuyển đến Inter Milan, anh trở thành cầu thủ trẻ Brasil đầu tiên 16 tuổi được câu lạc bộ lớn tại Ý ký hợp đồng.

Inter Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Coutinho chuyển đến Inter Milan tháng 7 năm 2010, sau khi anh bước sang tuổi 18, huấn luyện viên Rafael Benitez và chủ tịch Massimo Moratti được trích dẫn nói rằng: "Coutinho là tương lai của Inter". Anh xuất hiện lần đầu chính thức của mình trong màu áo Inter tại giải UEFA Super Cup đá với Atlético Madrid. Anh là một con bài chiến lược rất quan trọng trong chiến thắng 3-2 trước FC Bayern MünchenĐức. Ngày 08 tháng 5 năm 2011, anh đã ghi bàn thắng đầu tiên cho Inter từ một pha đá cận thành trong một trận đấu mà Inter thắng 3-1 ở sân nhà trước ACF Fiorentina. Bàn thắng thứ hai của anh cho Inter là trong trận đấu với Cagliari vào ngày 19 tháng 11 năm 2011 trong một pha chuyền bóng của Alvarez Coutinho đã nhanh trí dứt điểm vào góc trái khung thành để nâng tỉ số lên 2-0 cho Inter Milan.

Espanyol (cho mượn)[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 2012, Coutinho gia nhập Espanyol dưới dạng cho mượn đến hết mùa giải 2011-12.[7]

Liverpool[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 1 năm 2013, anh chuyển đến Liverpool với giá 8,5 triệu bảng, và được trao chiếc áo số 10.[8]

Anh nhanh chóng hòa nhập với môi trường EPL, trở thành cầu thủ không thể thiếu trong đội hình The Kop. Tiền vệ người Brasil chứng minh xứng đáng với chiếc áo số 10 bằng việc thường xuyên lập siêu phẩm sút xa với những pha đi bóng lắc léo từ cánh trái, xộc vào trung lộ rồi cứa lòng tạo nên thương hiệu. Mùa giải 2015/2016, anh là nguồn cảm hứng chính của The Kop sau khi đội trưởng huyền thoại Steven Gerrard ra đi.

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 2018, Coutinho gia nhập FC Barcelona và trở thành cầu thủ đắt giá nhất trong lịch sử chuyển nhượng của câu lạc bộ với mức phí chuyển nhượng kỉ lục 146 triệu bảng. Ở Barcelona, anh được trao chiếc áo số 14, số áo gắn liền với huyền thoại nổi tiếng nhất của câu lạc bộ là "Thánh" Johan Cruyff. Được kì vọng sẽ là người thay thế tiền vệ đội trưởng Iniesta trong tương lai. Coutinho nhanh chóng hòa nhập lối chơi của Barcelona. Trong chiến thắng hủy diệt 5-0 trước CLB Sevilla tại Chung kết Cúp Nhà vua (Copa del Rey) ngày 22-4-2018, anh có công lớn khi đóng góp một bàn thắng và một pha dọn cỗ cho Luis Suarez qua đó có chức vô địch đầu tiên cùng Barcelona trong sự nghiệp của mình. Cũng trong mùa giải đầu tiên này cùng Barcelona, tại vòng 34 La Liga mùa 2017-18, trong chiến thắng 4-2 của Barcelona trước Deportivo La Coruna, anh là người mở tỉ số ở phút thứ 7' qua đó góp công giúp Barcelona đăng quang La Liga sớm 4 vòng đấu và giành cú đúp danh hiệu. Coutinho chuyển số áo từ 14 sang số 7 ngay trước khi mùa giải 2018-2019 bắt đầu. Ban lãnh đạo Barcelona đã định để dành số áo này cho Antoine Griezmann nhưng với việc chân sút này quyết định ở lại Atlético Madrid nên nó đã được chuyển cho Coutinho.

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Coutinho xuất hiện đầu tiên trong màu áo Đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil vào ngày 07 tháng 10 năm 2010 trong trận giao hữu với Iran.

Anh được huấn luyện viên Tite triệu tập tham dự World Cup 2018 diễn ra tại Nga. Ở lượt trận ra quân bảng E gặp Thụy Sĩ, Coutinho là người ghi bàn thắng mở tỉ số trước nhưng chung cuộc Brasil để Thụy Sĩ cầm chân với tỉ số 1-1. Đến lượt trận thứ hai gặp Costa Rica, anh đã ghi bàn thắng mở tỉ số ở những phút bù giờ hiệp 2 giúp Brasil vượt qua Costa Rica với tỉ số 2-0. Đội tuyển Brasil sau đó lọt vào vòng knock-out nhưng để thua chung cuộc 1-2 trước Bỉ ở tứ kết.

Tại Copa América 2019, Coutinho trở thành cầu thủ đầu tiên ghi bàn tại giải đấu này bằng một cú đúp với chiến thắng 3-0 trước Bolivia ở trận khai mạc. Đội tuyển Brasil sau đó lọt vào trận chung kết và giành chức vô địch lần thứ 9 sau khi vượt qua Peru với tỉ số 3-1.

Phong cách chơi bóng[sửa | sửa mã nguồn]

Coutinho năm 2013

Được xem là mẫu cầu thủ số 10 điển hình của bóng đá Brasil, Coutinho có thể chơi dưới vai trò tiền vệ tấn công, tiền đạo thứ hai và thi đấu hai cánh, nơi anh đã ghi dấu ấn trong việc hỗ trợ bóng cho các đồng đội.[9] Với khả năng điều khiển trái bóng tài tình, cũng như tốc độ và sự nhanh nhẹn của mình,[10][11] anh đã được so sánh với Lionel MessiRonaldinho bởi cựu huấn luyện viên của Espanyol Mauricio Pochettino, ông nói "Philippe...anh ấy có một ma thuật đặc biệt dưới đôi chân".[12] Cựu tiền đạo người Brasil Careca cũng so sánh Coutinho với danh thủ Zico, bởi sự sáng tạo trong cách chơi bóng,[11] và anh đã được đánh giá cao bởi các đồng đội ở Liverpool.

Tầm nhìn và khả năng chuyền bóng đã mang lại cho Coutinho biệt danh Tiểu phù thủy bởi người hâm mộ Liverpool.[3][4] và khả năng phát triển từ sớm khiến các cổ động viên nhà gọi anh là The Kid.[10] Mặc dù thuận chân phải, Coutinho có khả năng chơi tốt bằng cả hai chân.[13]

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Coutinho chuyển đến Ý ở tuổi 18 để gia nhập Inter, cha mẹ và bạn gái của anh Aine cũng đến đây sinh sống. Coutinho gặp Aine lần đầu tại một bữa tiệc của một người bạn. Khi chuyển sang Espanyol, cha mẹ anh trở về Brasil. Anh kết hôn với Aine vào mùa hè năm 2012 tại Brasil.[14] Coutinho cho biết rằng thần tượng của anh là ngôi sao Ronaldinho. Anh đã xăm dài phần tay của mình để tri ân cha mẹ, hai anh em, và người vợ của anh Aine.[14]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 7 tháng 5 năm 2019[15]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Châu lục Khác Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Brasil Brasileirão Copa do Brasil Carioca Châu lục Khác Tổng cộng
Vasco da Gama (mượn) 2009 12 0 0 0 0 0 0 0 12 0
2010 7 1 7 1 17 3 0 0 31 5
Tổng cộng 19 1 7 1 17 3 0 0 43 5
Ý Serie A Coppa Italia League Cup Châu Âu Khác Tổng cộng
Internazionale 2010–11 13 1 0 0 0 0 7 0 20 1
2011–12 5 1 0 0 0 0 3 0 8 1
2012–13 10 1 0 0 0 0 9 2 19 3
Tổng cộng 28 3 0 0 0 0 19 2 47 5
Tây Ban Nha La Liga Copa del Rey Cúp liên đoàn Châu lục Khác Tổng cộng
Espanyol (mượn) 2011–12 16 5 0 0 16 5
Tổng cộng 16 5 0 0 16 5
Anh Premier League FA Cup Football League Cup Châu Âu Khác[16] Tổng cộng
Liverpool 2012–13 13 3 0 0 0 0 0 0 13 3
2013–14 33 5 3 0 1 0 37 5
2014–15 35 5 7 3 4 0 6 0 52 8
2015–16 26 8 1 1 3 1 13 2 43 12
2016–17 31 13 2 0 3 1 36 14
2017–18 14 7 0 0 1 0 5 5 20 12
Tổng cộng 152 41 13 4 12 2 24 7 201 54
Barcelona 2017–18 18 8 4 2 22 10
2018–19 33 5 6 3 12 3 1 0 52 11
Tổng cộng 51 13 10 5 12 3 1 0 74 21
Tổng cộng sự nghiệp 266 63 30 10 12 2 54 12 19 3 381 90

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 7 tháng 7 năm 2019.[17]
Đội tuyển quốc gia Năm Trận Bàn
Brasil 2010 1 0
2014 4 0
2015 7 1
2016 11 5
2017 10 2
2018 12 5
2019 10 3
Tổng cộng 55 16

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 7 tháng 6 năm 2015 Allianz Parque, São Paulo, Brasil  México 1–0 2–0 Giao hữu
2. 8 tháng 6 năm 2016 Sân vận động Camping World, Orlando, Hoa Kỳ  Haiti 1–0 7–1 Copa América Centenario
3. 2–0
4. 7–1
5. 6 tháng 10 năm 2016 Arena das Dunas, Natal, Brasil  Bolivia 2–0 5–0 Vòng loại World Cup 2018
6. 10 tháng 11 năm 2016 Sân vận động Mineirão, Belo Horizonte, Brasil  Argentina 1–0 3–0
7. 28 tháng 3 năm 2017 Arena Corinthians, São Paulo, Brasil  Argentina 1–0 3–0
8. 31 tháng 8 năm 2017 Arena do Grêmio, Porto Alegre, Brasil  Ecuador 2–0 2–0
9. 23 tháng 3 năm 2018 Sân vận động Luzhniki, Moscow, Nga  Nga 2–0 3–0 Giao hữu
10. 9 tháng 6 năm 2018 Ernst-Happel-Stadion, Vienna, Áo  Áo 3–0 3–0
11. 17 tháng 6 năm 2018 Rostov Arena, Rostov-on-Don, Nga  Thụy Sĩ 1–0 1–1 World Cup 2018
12. 22 tháng 6 năm 2018 Sân vận động Krestovsky, Saint Petersburg, Nga  Costa Rica 1–0 2–0
13. 11 tháng 9 năm 2018 FedExField, Landover, Maryland, Hoa Kỳ  El Salvador 3–0 5–0 Brasil Global Tour 2018
14. 9 tháng 6 năm 2019 Sân vận động Beira-Rio, Porto Alegre, Brasil  Honduras 3–0 7–0 Brasil Global Tour 2019
15. 14 tháng 6 năm 2019 Sân vận động Morumbi, São Paulo, Brasil  Bolivia 1–0 3–0 Copa América 2019
16. 2–0

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Vasco da Gama
Internazionale
Barcelona

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Brasil

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Premier League Clubs submit Squad Lists” (PDF). Ngày 22 tháng 10 năm 2014. tr. 20. Bản gốc (PDF) lưu trữ |url lưu trữ= cần |ngày lưu trữ= (trợ giúp). 
  2. ^ “Philippe Coutinho”. liverpoolfc.com. Liverpool F.C. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  3. ^ a ă Carroll, James (ngày 30 tháng 4 năm 2014). “Video: Get to know Philippe Coutinho”. Liverpool FC. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2015. 
  4. ^ a ă “Coutinho the 'little magician' can take Liverpool a long way, says Lallana”. ESPN FC. Ngày 1 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015. 
  5. ^ “Pele on Philippe Coutinho and England's El Clásico”. SB Nation. Ngày 20 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2015. 
  6. ^ “PFA Team of the Year: Chelsea have six players selected”. BBC Sport. Ngày 26 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2015. 
  7. ^ Coutinho ja és jugador de l'Espanyol. Rcdespanyol.cat (ngày 30 tháng 1 năm 2012). Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2013.
  8. ^ Pearce, James (ngày 29 tháng 1 năm 2013). “Philippe Coutinho set for medical as he closes in on move for Liverpool FC”. Liverpool Echo. 
  9. ^ Mattia Bonasia (ngày 9 tháng 7 năm 2013). “Chi è Philippe Coutinho "The Kid", Numero 10 del Liverpool” [Who is Philippe Coutinho "The Kid", Liverpool's number 10] (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2015. 
  10. ^ a ă Lorenzo Palmieri (ngày 3 tháng 12 năm 2013). “Philippe Coutinho, "the Kid" che vuole conquistare Scolari” [Philippe Coutinho, "the Kid" who wants to win over Scolari] (bằng tiếng Ý). Mai Dire Calcio. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2015. 
  11. ^ a ă Christian Liotta (ngày 6 tháng 6 năm 2010). “Careca sponsorizza Milito e... Coutinho: "Ricorda Zico"” [Careca sponsors Milito and...Coutinho: "He reminds me of Zico"] (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2015. 
  12. ^ “Philippe Coutinho similar to Lionel Messi, says Mauricio Pochettino”. BBC Sports. Ngày 15 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2015. 
  13. ^ Benji Inwood (ngày 22 tháng 10 năm 2010). “Europe's rising stars”. The Independent. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2015. 
  14. ^ a ă Reddy, Melissa (ngày 10 tháng 8 năm 2015). “Philippe Coutinho: The secret life of 'O Mágico'. CNN. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2015. 
  15. ^ Philippe Coutinho tại Soccerway
  16. ^ Bao gồm Club World Cup, và FA Community Shield
  17. ^ “Coutinho, Philippe”. National Football Teams. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  18. ^ a ă â b Smith, Ben (ngày 26 tháng 1 năm 2013). “Liverpool agree a deal for Inter Milan's Philippe Coutinho”. BBC Sport. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  19. ^ “FIFA Player Statistics: Philippe Coutinho”. Fifa.com. FIFA. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  20. ^ Carroll, James (ngày 2 tháng 3 năm 2015). “Coutinho voted PFA Fans' POTM”. liverpoolfc.com. Liverpool F.C. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2015. 
  21. ^ “Phil wins four prizes at Players' Awards”. Official Site Liverpool FC. Ngày 19 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2015. 
  22. ^ “Philippe Coutinho claims quartet of awards at Liverpool's end-of-season ceremony including Player of the Year gong”. Daily Mail. Ngày 19 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]