Phong thần diễn nghĩa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Phong thần diễn nghĩa
封神演义
FengShen2.jpg
Trái: Dương TiễnNa Tra; Phải: Tô Hộ và Hoàng Phi Hổ
Thông tin sách
Tác giảHứa Trọng Lâm
Lục Tây Tinh
Quốc giaTrung Quốc
Ngôn ngữChữ Hán
Thể loạiTiểu thuyết lịch sử, thần ma
Ngày phát hànhThế kỷ XVI
Bản tiếng Việt
Người dịchTrần Phong Sắc
Vũ Như Khôi
Vương Quốc Sung
Mộng Bình Sơn

Phong thần diễn nghĩa (nguyên bản) (giản thể: 封神演义; phồn thể: 封神演義; bính âm: fēngshén yǎnyì, cũng gọi là Bảng phong thần, Vũ Vương phạt Trụ ngoại sử phong thần diễn nghĩa, Phong thần truyện, Thương Chu liệt quốc toàn truyện (tái bản), là một bộ tiểu thuyết được viết lại trên cơ sở cuốn Vũ Vương phạt Trụ bình thoại in đời Nguyên, trong đó bao gồm các tư liệu lịch sử cùng với các thần thoại, truyền thuyết.

Phong thần diễn nghĩa xoay quanh việc suy vong của nhà Thương và sự nổi lên của nhà Chu, cùng với đó là rất nhiều thần thoại, truyền thuyết Trung Hoa, bao gồm các thần, tiên, yêu quái v.v. Trong chừng mực nào đó, Phong thần diễn nghĩa mô tả cuộc sống của người Trung Hoa đương thời, nơi tôn giáo có một vai trò lớn trong cuộc sống hàng ngày.

Tác giả[sửa | sửa mã nguồn]

Tác giả của Phong thần diễn nghĩa (bảng phong thần)

có thuyết nói là Hứa Trọng Lâm (giản thể: 许仲琳; phồn thể: 許仲琳), hiệu là Chung Sơn Dật Tẩu, người Phủ Ứng Thiên huyện Trực Lệ biên soạn. Thuyết khác lại cho rằng tác giả rất có thể là Lục Tây Tinh (giản thể: 陆西星; phồn thể: 陸西星), hiệu Trường Canh, người huyện Hưng Hóa, tỉnh Giang Tô viết[1].

Nội dung tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Phong thần diễn nghĩa khởi đầu với chuyện kể về vua Trụ nhà Thương đến miếu thờ Thần Nữ Oa dâng hương, đã đề thơ với hàm ý bất kính khiến cho Nữ Oa nổi giận. Sau khi bấm tay biết vận số nhà Thương còn 28 năm mới chấm dứt, Nữ Oa đã sai ba yêu quái ở mộ Hiên Viên mê hoặc vua Trụ nhằm nhanh chóng làm cho nhà Thương sụp đổ, nhưng không được giết người. Một trong ba yêu quái là hồ ly tinh đã đạt hỏa hầu tu luyện ngàn năm, chiếm thân xác Đát Kỷ, một cô gái đẹp, con gái Ký Châu Tô Hộ, được tiến cung để ra mắt nhà vua. Được nhà vua sủng ái, Đát Kỷ giả dần dần lộng hành, trừ khử các bề tôi trung thực bằng bào lạc (trụ đồng nung đỏ), bày mưu cùng Vu Hồn giết Khương hoàng hậu và toan giết cả hai hoàng tử là Ân Giao và Ân Hồng. Bên cạnh đó, Đát Kỷ giả còn tìm cách hại 4 chư hầu lớn, xui vua Trụ mời họ vào chầu rồi bắt Tây Bá Hầu là Cơ Xương bỏ ngục.

Viên quan tổng binh ở cửa quan Trần Đường là Lý Tịnh sinh con trai đặt tên là Na Tra. Na Tra làm đồ đệ của Thái Ất chân nhân, lên bảy tuổi đã đại náo Đông Hải, rút gân chân thái tử con của Đông Hải Long Vương Ngao Quảng. Long Vương đến nhà Lý Tịnh đòi đền mạng. Na Tra không chịu, quay lại về động tìm thầy nhờ chỉ bảo. Sau đó Na Tra lập mưu bắt Long Vương Ngao Quảng trên đường đến Thiên môn (cổng Trời), bắt biến thành con rắn chui vào tay, hứa khi quay trở lại sẽ xin tạ tội với Lý Tịnh. Nhưng khi về nhà, Long Vương đã thuật lại hết tội trạng của Na Tra, sau đó đằng vân (cưỡi mây) đi mất, trở về tập hợp các Long Vương Bắc Hải, Nam Hải và Tây Hải tìm cách trị tội Na Tra. Bốn Long Vương thi thố thần thông, bắt Na Tra phải nộp mình, bằng không sẽ gây họa loạn cho gia đình Lý Tịnh và trăm họ Trần Đường. Na Tra vô cùng u uất và căm phẫn, cuối cùng đồng ý tự vẫn "lóc xương trả mẹ, lóc thịt trả cha" để cha mẹ được sống. Sau khi chết, hồn Na Tra phiêu bạt không nơi nương náu, theo lời dặn của Thái Ất chân nhân mà về báo mộng liên tiếp cho mẹ. Người mẹ y mộng lập miếu thờ Na Tra nhưng Lý Tịnh lại bắt phá đi vì sợ quan trên dèm pha là mê tín và vì vẫn còn buồn tức với nghịch tử. Sau khi dong chơi trở về, thấy miếu thờ do cha mình đốt phá đi, Na Tra rất tức giận và buồn bã, đành quay trở lại hỏi ý thầy. Ông dùng thần thông tạo mới thân thể của Na Tra từ lá, thân và ngó sen. Tái tạo xong thân hình, Na Tra một mực cầu đuổi đánh Lý Tịnh. Sau nhờ Nhiên Đăng đạo nhânVăn Thù quảng pháp thiên tôn hóa giải ân oán phụ tử, và theo phò Khương Tử Nha giúp nhà Chu diệt nhà Thương.

Khương Tử Nha là đồ đệ của Nguyên Thủy Thiên Tôn trên núi Côn Lôn, vâng lệnh thầy xuống núi giúp nhà Chu diệt nhà Thương. Tử Nha ở lại nhà một người bạn giàu có, và cũng thành gia thất với một bà lão tuổi ngoài 60. Ông có tính kế sinh nhai bằng nhiều cách như đan sọt, buôn bán nhưng đều thất bại. Sau đó, ông bén duyên với nghề xem quẻ bói mệnh, nhờ tài năng và đạo đức cao dày mà ông trở nên rất nổi tiếng và có của dư giả. Sau đó ông bắt và giết được Tỳ bà tinh (đàn tỳ bà thành tinh), bạn của Đát Kỷ giả, và nhờ đó ông được vua Trụ phong chức Hạ Đại phu trông coi thiên văn địa lý. Để trả thù, Đát kỷ bày vẽ việc cất Lộc Đài, do Tử Nha phụ trách. Biết là kế của Đát Kỷ giả, ông vẫn một mực can Trụ vương xây Lộc Đài. Trụ Vương phán ông chết, ông nhảy xuống nước nhưng không chết, dùng phép 'độn thủy' mà quay về nhà. Ông có khuyên vợ cùng đi sang Tây Kỳ nhưng bà coi thường ông, nhất quyết không đi, hai người ly dị từ đây. Sau đó ông giúp hàng trăm người dân Triều Ca, thi thố pháp thuật đưa họ sang ấp Tây Kỳ thuộc đất nhà Chu. Bấy giờ Tây Bá Cơ Xương trốn thoát khỏi ngục đã tìm đến Khương Tử Nha nhờ giúp đỡ.

Trong một trận chiến, nhà Chu đã đánh bại quân của vua Trụ, nhưng vua Trụ không vì thế mà hối cải, vẫn tiếp tục ghẹo vợ của Hoàng Phi Hổ là Giả Thị, khiến Phi Hổ tức giận. Phi Hổ đã vượt 5 cửa ải về với nhà Chu.

Với sự giúp sức của Giáo chủ Thông Thiên, vua Trụ sai 36 lộ quân tiến đánh ấp Tây Kỳ. Trong trận chiến này, được hậu thuẫn của Xiển Giáo, nhà Chu đã đánh bại 36 lộ quân của vua Trụ. Tuy vậy, vua Trụ vẫn tiếp tục hoang dâm tàn bạo, không biết hối cải, và các nước chư hầu phải hợp lực tiến đánh. Trong trận chiến đối đầu khốc liệt cuối cùng này, quân của vua Trụ đã thất bại thảm hại, vua Trụ tự thiêu, Đát Kỷ giả cũng bị giết chết. Khương Tử Nha được Nguyên Thủy Thiên Tôn trao quyền phân phong các thần, còn Chu Vũ Vương (tức Cơ Phát, con Cơ Xương) cũng được quyền tấn phong các chư hầu.

Tân Bảng phong thần[sửa | sửa mã nguồn]

Về Bảng phong thần có thể tóm tắt như sau: Đất Thần Châu triều đại Nhà Thương có 3 giáo phái cùng phát triển rực rỡ đó là: Xiển Giáo, Triệt Giáo, Đạo Giáo. Đứng đầu 3 giáo phái lần lượt là Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thông Thiên Giáo chủ và Lão Tử. Câu chuyện được bắt đầu khi mười hai đệ tử của Nguyên Thủy Thiên Tôn đều là tiên phạm luật sát sinh nên phải bị đày xuống trần chịu khổ. Ngọc Hoàng Đại Đế truyền chỉ dụ cho hai giáo phái Xiển Giáo và Triệt Giáo đưa 365 giáo đồ phạm tội xuống trần lập công trạng sau này sẽ phong thần cho đủ số nhà trời. 12 đệ tử của Nguyên Thủy Thiên Tôn phải hạ giới phò nhà Chu diệt nhà Thương.

Trong bảng phong thần sẽ được chia làm 8 bộ: 4 bộ trên là Lôi, Hoả, Ôn, Đẩu. 4 bộ dưới là Thần Mưa, Thần Mây, Thần Núi, Thần Sao. Sau khi Trụ Vương mất nước, Vũ Vương ra đời thì dựa vào công tội của từng thần để phân ngôi cao thấp. Chính vì lẽ đó mà Khương Tử Nha - môn đồ của Nguyên Thể Thiên Tôn (Nguyên Thủy Thiên Tôn) được xuống trần gian phò Chu diệt Trụ. Tương truyền đài Phong Thần được Khương Tử Nha xây dựng vào đời Vũ Vương, do Bá Giám (Nguyên soái của Hoàng Đế Hiên Viên đi đánh giặc Xi Vưu, bị chết trận tại Đông Hải) đốc thúc, Ngũ Lôi Thần phụ trách xây dựng, đây là nơi các linh hồn 365 giáo đồ đã dứt nợ trần sẽ yên vị trước ngày được Nguyên Thể phong sắc thành thần.

Giá trị nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Tân Bảng Phong Thần có dung nạp cả những tư liệu lịch sử và những hư cấu, truyền thuyết, tôn giáo nên yếu tố khoa trương rất đậm nét. Lý tưởng vua sáng tôi hiền của tác giả cũng bộc lộ qua những chương hồi viết về Vũ Vương và Khương Tử Nha[1]. Tiểu thuyết ví cuộc chiến đấu giữa chính-tà nói trên cho "mệnh trời", "khí số", đặc trưng cho văn hóa Thần truyền của Thần Châu Trung Hoa. Tác phẩm đề cao vai trò của Đạo Giáo trên vai trò của đạo sĩ, binh tướng, thần tiên vận dụng âm dương, tướng số, kỳ môn độn giáp và cho là số phận con người đều do trời đất sắp đặt, hướng tới con người về số trời đã định. Về nghệ thuật miêu tả, nhân vật trong Phong thần diễn nghĩa được đặc tả sinh động nên trở thành những cá tính lưu truyền rộng rãi trong dân gian.

Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phong thần diễn nghĩa từng được Lê Quý ĐônTrịnh Xuân Thụ trong đoàn sứ giả Việt Nam sang cống nhà Thanh năm 1762 chọn mua mang về nước, nhưng đến Quế Lâm thì bị giữ lại[1]. Đầu thế kỷ 20, tác phẩm này lần đầu tiên được Trần Phong Sắc dịch ra tiếng Việt. Sau có bản dịch của Mộng Bình Sơn, được tái bản nhiều lần.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Mục từ Phong thần diễn nghĩa, trên Từ điển văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới, H. 2003, trang 1415-1416.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Từ điển văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới, H. 2003, trang 1415-1416.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]