Phosphoryl hóa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Phosphoryl hóa là việc bổ sung một nhóm phosphate vào bất kỳ phân tử nào khác. Vai trò chính của nó trong hóa sinh làm cho nó trở thành một đối tượng nghiên cứu quan trọng, đặc biệt là trong quá trình phosphoryl hóa protein và fructose. Đó là phản ứng ngược lại với quá trình phosphat hóa. Trong quá trình trao đổi chất, phosphoryl hóa là cơ chế vận chuyển năng lượng cơ bản từ những nơi được sản xuất đến những nơi cần thiết. Nó cũng là một trong những cơ chế điều hòa chính của hoạt động của protein nói chung và enzyme nói riêng.

Phosphoryl hóa đường thường là giai đoạn đầu tiên trong quá trình dị hóa của chúng. Phosphoryl hóa cho phép các tế bào tích lũy đường vì nhóm phốt phát ngăn các phân tử khuếch tán trở lại qua chất vận chuyển của chúng. Phosphoryl hóa glucose là một phản ứng quan trọng trong chuyển hóa đường vì nhiều loại đường đầu tiên được chuyển đổi thành glucose trước khi chúng được chuyển hóa thêm.

Phương trình hóa học để chuyển đổi D-glucose thành D-glucose-6-phosphate trong bước đầu tiên của quá trình đường phân được đưa ra

D-glucose + ATP → D-glucose-6-phosphate + ADP

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tùy theo nguồn cung cấp năng lượng mà chia làm 3 hình thức photphoryl hóa cơ bản là:

-Photphoryl hóa quang hóa: Dùng năng lượng từ ánh sáng, xảy ra trong quang hợp, (photphoryl hóa vòng và không vòng).

-Photphoryl hóa oxi hóa: Dùng năng lượng từ các phản ứng oxi hóa tạo ra, có hai loại:

+Photphoryl hóa ở mức độ cơ chất: Do phản ứng oxi hóa trực tiếp cơ chất tạo ra năng lượng để tổng hợp ATP, gặp ở quá trình tạo ATP trong đường phân và chu trình Creps của hô hấp tế bào.

+Photphoryl hóa do vận chuyển e: Trong quá trình vận chuyển e, năng lượng giảm dần, e mất dần năng lượng, năng lượng đó thải ra được dùng để tổng hợp ATP.

-Photphoryl hóa thẩm: Năng lượng hóa thẩm tạo ra do sự chênh lệch gradien pH giữa hai phía màng dùng để tổng hợp ATP, gặp ở màng ti thể và màng thylacoid ở lục lạp.