Photograph (bài hát của Ed Sheeran)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Photograph"
Đĩa đơn của Ed Sheeran
từ album ×
Mặt B "I Will Take You Home"
Phát hành 11 tháng 5, 2015 (2015-05-11)
Định dạng
Thu âm 2014
Thể loại
Thời lượng 4:19
Hãng đĩa
Sáng tác
Sản xuất
Thứ tự đĩa đơn của Ed Sheeran
"Bloodstream"
(2015)
"Photograph"
(2015)
"Lay It All on Me"
(2015)

"Photograph" là ca khúc của ca sĩ-nhạc sĩ người Anh Ed Sheeran trong album phòng thu thứ hai của anh, x. Sheeran đồng sáng tác bài hát với thành viên Johnny McDaid của Snow Patrol, người tạo ra đoạn loop piano mà từ đó bài hát phát triển. Sau nhiều khó khăn ban đầu, Sheeran nhờ cậy tới sự giúp đỡ của nhà sản xuất nhạc hip hop Jeff Bhasker và thành công trong việc tăng thêm sức sống cho bài hát. Với việc sử dụng guitar acoustic, piano và bộ trống điện tử, bản ballad đầy tâm trạng và dạt dào cảm xúc kể lại câu chuyện về mối tình xa cách đầy khắc khoải bằng lời hát cụ thể và rõ ràng.

Nhìn chung bài hát nhận được ý kiến phản hồi tích cực từ giới phê bình, đặc biệt là đối với lời bài hát và cách Sheeran sử dụng các hình ảnh. "Photograph" là đĩa đơn thứ năm và cuối cùng của album. Bài hát lọt vào top 5 tại trên năm quốc gia. Bài hát đạt vị trí thứ 10 tại Mỹ và là đĩa đơn thứ ba trong album lọt vào top 10 tại đây. Ở Anh, bài hát đạt vị trí thứ 15 và được chứng nhận bạch kim. Bài hát cũng được chứng nhận bạch kim hai lần tại Úc và Canada, và một bạch kim tại New Zealand và Ý.

Bối cảnh và kết cấu bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

"Photograph" được lấy cảm hứng từ bạn gái cũ của Sheeran, nữ ca sĩ-nhạc sĩ Nina Nesbitt.

"Photograph" là một bản ballad acoustic với nhạc khí bao gồm guitar acoustic, piano, keyboard, guitar điện và bass, và trống điện tử. Bài hát bắt đầu với những tiếng guitar acoustic và nối tiếp bởi phím đàn piano, "cứ thế cho tới khi những tiếng trống cỡ lớn bắt đầu vang dội".[1]

Vào tháng 5 năm 2012, Sheeran tham gia tour diễn của Snow Patrol với tư cách nghệ sĩ mở màn một số buổi diễn tại Bắc Mỹ. Johnny McDaid, một thành viên của nhóm, chính là người tạo nên đoạn loop piano dài ba nốt[2] mà sau đó chính là tiền đề của "Photograph". Động cơ phát triển bài hát được thúc đẩy khi Sheeran, lúc này đang ở một khách sạn tại Kansas City, cứ ngân nga điệp khúc "loving can hurt, loving can hurt" trong lúc đoạn loop[2] đang vang lên trên máy tính của McDaid.[3] Sau bốn tiếng tiếp tục các hoạt động cá nhân trong lúc lên ý tưởng cho bài hát, Sheeran liền lấy cây guitar của anh ra và họ chính thức bắt đầu xây dựng nó;[4] McDaid cũng thêm phần nhạc nền cho bài hát.[5] Theo Sheeran, họ chỉ mất nửa tiếng để hoàn thành công việc soạn nhạc cho bài hát. Cả hai chỉ thực sự nhận ra những gì họ đã tạo ra chỉ sau khi nghe thử lại vào ngày hôm sau và cuối cùng quyết định ghi âm nó.[5]

Theo Sheeran, anh có lẽ đã thu bài hát 60 hay 70 lần theo nhiều phiên bản khác nhau từ hát trực tiếp tới phiên bản có tiếng đệm piano đi kèm. Anh cũng thu âm với nhiều nghệ sĩ khác ngoài McDaid ra như Jake Gosling, người sản xuất phần lớn album +, và Rick Rubin, người cũng có nhiều đóng góp cho album x. Tuy nhiên những phiên bản này không làm anh thỏa mãn và anh quyết định nhờ sự giúp đỡ từ Jeff Bhasker. Sự cộng tác này đem lại hiệu quả tích cực và Bhasker tiếp tục hoàn thiện và chau chuốt cho bản thu trong vài tháng sau đó cho tới khi họ cảm thấy hoàn hảo. Sheeran coi "Photograph" là bản thu đầu tiên được hoàn thiện một cách chuẩn mực cho sản phẩm phòng thu tiếp theo.[6]

Lời bài hát kể về một mối tình xa cách[7] với những chi tiết như khi nhân vật chính nhớ về lúc anh và người con gái của mình trao nụ hôn "bên dưới ánh đèn đường, trên con phố thứ 6",[7][8] hay khi cô gái ấy giữ những tấm ảnh của anh "trong túi quần jeans rách [của cô ấy]".[9] Trong một buổi phỏng vấn trên đài phát thanh, Sheeran xác nhận "Photograph" lấy cảm hứng từ một cô gái tên Nina,[10] cùng tên với một bài hát trong album x. Nina này chính là Nina Nesbitt, ca sĩ-người viết ca khúc người Edinburgh, Scotland, người anh từng hẹn hò trong khoảng một năm.

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 2 năm 2013, Sheeran biểu diễn bản demo của "Photograph" trên một đài phát thanh của Đức. Sheeran khẳng định "Photograph" là một trong những bài hát tuyệt nhất album và có thể thay đổi con đường sự nghiệp của anh.[11] Theo Sheeran, "Photograph" sẽ là bài hát "song hành" cùng album, bài hát mà vẫn có thể giúp "[album] tiêu thụ được" nếu các track còn lại không đủ sức hút.[12]

Bài hát được phát hành dưới dạng tải kĩ thuật số "instant grat" trên iTunes Store vào ngày 20 tháng 6 năm 2014,[13] đóng vai trò đĩa đơn thứ bảy từ album x. Vào ngày 22 tháng 4 năm 2015 Sheeran thông báo trên Twitter rằng "Photograph" sẽ là đĩa đơn chính thức tiếp theo của x.[14] Vào ngày 11 tháng 5 năm 2015 bài hát ra mắt dưới định dạng hot adult contemporary,[15] và ngày hôm sau dưới định dạng contemporary hit radio.[16] Bài hát cũng là single cuối của album.[17][18]

Ý kiến phê bình[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi album x ra mắt, "Photograph" nhận được khá nhiều ý kiến phê bình tích cực. Trong bài đánh giá x qua từng track trên Billboard, Jason Lipshutz cho rằng đoạn "Loving can hurt sometimes/But it's the only thing that I know" của "Photograph" là đoạn lời "trụ cột của cả album".[1] Capital FM khen ngợi bài hát "đẹp một cách ám ảnh" và bài ca của "một cô gái chờ người cô yêu trở về nhà".[19] Sarah Rodman của The Boston Globe cũng cùng chung quan điểm khi cho rằng bài hát thật "ám ảnh" "khiến bạn rùng mình với sự du dương" [của nó].[20] Cách Sheeran sử dụng hình ảnh tượng trưng trong lời bài hát được Jamieson Cox của Time đánh giá cao.[8]

Neil McCormick của tờ Daily Telegraph nhận xét rằng Ed Sheeran "có thể nhẹ nhàng chuyển tông" trong suốt cả album, còn bài hát là một "bản ballad sâu lắng".[21] Lipshutz miêu tả cách hát của Ed Sheeran là "giản dị" qua tiếng guitar "ngập ngừng".[1] Katy Empire của The Guardian gọi "Photograph" là một bản "ballad có sức ảnh hưởng", còn cách sáng tác lời của Sheeran như thể "được tính toán cụ thể".[9] Trên MusicOHM, John Murphy thấy rằng dù "nó không hề tệ", "Photograph" vẫn hơi "thận trọng và đầy nghi ngờ", cho rằng nó giống một bài hát "nhạc phim cho một cảnh lột tả cảm xúc trong các loạt phim truyền hình Mỹ".[22]

Trong bài viết phân tích lời bài hát trong album, Annie Zaleski của The A.V. Club nhận xét rằng sự tự ý thức về bản thân của Sheeran "bao trùm phần còn lại" của album, ví dụ như việc nói về cảm xúc nhớ nhà trong "Photograph".[23] Trong khi đó, Carolyn Menyes của Music Times viết về ca khúc như sau rằng "trong bố cục rộng hơn của x, 'Photograph' dường như không mấy hài hòa về mặt câu từ", và chỉ ra rằng phần lớn album khám phá "những cảm xúc của người tình bị coi khinh, người yêu cũ lừa dối và chút phóng túng cuộc đời"[24] và bình luận thêm rằng: "'Photograph' là trong số những bài hát đẹp một cách giản dị của Sheeran."[24]

Sự góp mặt của McDaid cũng được nhắc tới. Kevin Harly của The Independent viết: "Nếu bạn không biết rằng Johnny McDaid của Snow Patrol sản xuất bản ballad 'Photograph', những bước đi nặng nề dửng dưng đầy sáo rỗng về lý do vì sao yêu đương 'có thể gây tổn thương' và 'hàn gắn' sẽ nói cho bạn biết".[25] Dave Hanratty của Drowned in Sound nhấn mạnh: "... 'Photograph' ngọt ngào giả tạo... được đồng sáng tác và sản xuất bởi một thành viên của Snow Patrol chẳng làm ai bất ngờ, nếu biết rằng bài hát đi theo lối sáng tác lời gây nhức nhối con tim một cách cứng nhắc. Ít nhất nó cũng lay động cảm xúc đấy chứ."[26]

Diễn biến xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

"Photograph" đứng thứ 18 trên Spotify về lượng phát cho bài hát ở thể loại sleep.

Nếu tính tới tỉ lệ streaming thì tất cả 12 track của album, bao gồm cả "Photograph", đều có vị trí trên UK Singles Chart.[27] "Photograph" xuất phát ở vị trí số 44 trên vào ngày 5 tháng 7 năm 2014, 10 tháng trước khi đĩa đơn ra mắt.[13] Bài hát đạt vị trí 15 và có 40 tuần tính tới 27 tháng 8 năm 2015.[28] Vào ngày 31 tháng 7 năm 2015, British Phonographic Industry trao cho đĩa đơn chứng nhận vàng, đồng nghĩa với việc cán mốc 400.000 bản.[29]

Tại Hoa Kỳ bài hát đạt được vị trí 15 trên Billboard Hot 100 và giúp Sheeran trở thành một trong không nhiều nghệ sĩ nam trong thập niên 2010 có 4 đĩa đơn trong một album có mặt ở top 20.[30] Ở nhiều bảng xếp hạng khác như Mainstream Top 40, đĩa đơn lọt vào the top 10 ngày 29 tháng 8 năm 2015,[31] trở thành bài hát thứ tư từ album đạt được thành công này.[32] Vào ngày 21 tháng 7 năm 2015, Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ chứng nhận vàng cho single, chỉ ra mức doanh thu 500.000 bản.[33] Ngoài ra bài hát vươn tới top 5 tại Áo, Bỉ, Canada, Ireland và Nam Phi.

Vào tháng 4 năm 2015, công ty truyền dữ liệu âm nhạc thương mại Spotify công bố báo cáo về các bài hát được stream nhiều nhất trên toàn thế giới ở thể loại "Sleep" (những bài hát tạo sự êm dịu, sảng khoái và giúp bạn thư giãn). "Photograph" đứng thứ 18 để cùng 6 bài hát khác của Sheeran tại vị trong top 20.[34][35] Tim Dowling của The Guardian cho rằng thống kê trên cho thấy bài hát "rất nổi tiếng, hơi hơi êm dịu [...] giữ vị thế vững vàng trong danh sách những bài hát đưa bạn vào giấc ngủ".[36]

Kiện tụng[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 9 tháng 6 năm 2016, Sheeran bị hai tác giả Martin Harrington và Thomas Leonard của bài hát "Amazing" đòi bồi thường 20 triệu đôla vì đạo nhạc.[37] Vụ kiện sau đó đã được bí mật dàn xếp vào tháng 4 năm 2017 với kết quả Ed Sheeran vô tội.[38]

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Video âm nhạc phần nào cho người ta biết lý do vì sao Sheeran "mê mẩn Lego đến vậy".[18]

Video của "Photograph" do Emil Nava đạo diễn,[18] và ra mắt vào ngày 9 tháng 5 năm 2015. Video sử dụng những thước phim do gia đình quay và kể lại từ thời thơ ấu cho tới khi trưởng thành của Ed Sheeran. Những clip này do Sheeran nhận lại từ cha anh và chủ yếu được tổng hợp lại thành các DVD làm quà Giáng sinh của gia đình.[39] Sheeran nói anh không có nhiều thời gian để quay video vì vậy anh tìm tới những thước phim này và nghĩ rằng nó sẽ thích hợp cho một video âm nhạc.[40][41]

Trong video Sheeran chơi nhiều nhạc cụ như piano, cello, guitar bass, guitar acoustictrống,[18] cho thấy hứng thú với âm nhạc của anh bắt đầu từ khi còn rất nhỏ.[17][42] Video cũng cho người xem hiểu hơn về những sở thích khác của Sheeran như đồ chơi lego, đồ vật có trong tên đĩa đơn "Lego House" phát hành năm 2011, hay hứng thú với mèo, loài vật gắn bó với mật thiết với anh (trên hình xăm, bìa đĩa, logo, trong video của "Drunk" và một bài hát). Một cảnh khi Sheeran đang hát rong[43]Galway, Ireland, cũng xuất hiện, cũng clip gần cuối khi Sheeran biểu diễn tại một lễ hội âm nhạc.[44]

Đánh giá về video trên Music Times, Ryan Book cho rằng cách lựa chọn kiểu làm video này đi ngược lại với tên của bài hát.[13] Daniel Kreps của Rolling Stone gợi lại Kurt Cobain: Montage of Heck,[18] bộ phim tài liệu về thành viên nhóm Nirvana và biểu tượng rock thập niên 90 Kurt Cobain.[18]

Danh sách track[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đĩa đơn CD[45]
  1. "Photograph" – 4:19
  2. "I Will Take You Home" – 3:59
Tải kĩ thuật số — Remix[46]
STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Photograph" (Felix Jaehn Remix) 3:22
2. "Photograph" (Jack Garratt Remix) 4:06
Tổng thời lượng:
7:28

Credit và nhận sự của bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Credit lấy từ liner note mặt sau của album x:[47]

  • Ed Sheeran – giọng, sáng tác bài hát, guitar acoustic
  • Johnny McDaid - sáng tác bài hát
  • Jeff Bhasker - sản xuất, piano, keyboard, guitar bass điện
  • Emile Haynie - sản xuất phụ, programming
  • Tyler Sam Johnson - engineering, guitar điện, programming trống
  • Mark "Spike" Stent - mixing
  • Geoff Swan - engineering
  • Davide Rossi - hòa âm bộ dây
  • Stuart Hawkes - mastering

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[119] 3× Bạch kim 210.000^
Áo (IFPI Austria)[120] Vàng 15.000x
Bỉ (BEA)[121] Vàng 15.000*
Canada (Music Canada)[122] 5× Bạch kim 400.000^
Đan Mạch (IFPI Denmark)[123] 2× Bạch kim 120.000^
Đức (BVMI)[124] 3× Vàng 600.000^
Ý (FIMI)[125] 4× Bạch kim 200.000double-dagger
New Zealand (RMNZ)[126] 2× Bạch kim 30.000*
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[127] 2× Bạch kim 80.000^
Thụy Điển (GLF)[128] Bạch kim 20.000x
Thụy Sĩ (IFPI Switzerland)[129] Bạch kim 30.000x
Anh (BPI)[130] 2× Bạch kim 1.200.000double-dagger
Hoa Kỳ (RIAA)[131] 2× Bạch kim 2.000.000^

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng
double-daggerChứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ/stream

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực Ngày Định dạng Hãng đĩa
Hoa Kỳ 11 tháng 5 năm 2015 Hot adult contemporary[15] Atlantic
12 tháng 5 năm 2015 Contemporary hit radio[16]
Ý 22 tháng 5 năm 2015 Phát thanh mainstream[132]
Đức[133] 12 tháng 6 năm 2015 Đĩa đơn CD Asylum
Anh Quốc[46] 30 tháng 6 năm 2015 Tải kỹ thuật số (Remixes) Atlantic

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Lipshutz, Jason (ngày 23 tháng 6 năm 2014). “Ed Sheeran, 'x': Track-By-Track Review”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  2. ^ a ă Connolly, Lynn (ngày 24 tháng 7 năm 2015). “Ed Sheeran confesses 'Photograph' lyrics "fell out" in phút, as did his bowels once apparently”. Unreality TV. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  3. ^ “Ed Sheeran Begins To Multiply”. noise11.com. Ngày 20 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  4. ^ Music-News.com Newsdesk (ngày 29 tháng 6 năm 2014). “Ed Sheeran talks through new album”. Music-news.com. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  5. ^ a ă Tietjen, Alexa (ngày 22 tháng 4 năm 2015). “Relive Ed Sheeran's Touching Performance of "Photograph" While You Wait for the Music Video to Drop”. VH1 (Viacom). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  6. ^ “Ed Sheeran Wrote The Song "Photograph" While On Tour With Snow Patrol”. VH1. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  7. ^ a ă Roth, Madeline (ngày 22 tháng 4 năm 2015). “Warning: Ed Sheeran's Next 'X' Single Will Probably Make You Cry”. MTV (Viacom). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  8. ^ a ă Cox, Jamieson (ngày 31 tháng 5 năm 2014). “REVIEW: Ed Sheeran Multiplies His Appeal on x”. Time. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  9. ^ a ă Empire, Kitty (ngày 22 tháng 6 năm 2014). “x review – Ed Sheeran's second album has a broad palette but lacks depth”. The Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  10. ^ “Ed Sheeran Talks Dirty In NSFW Radio Interview [Video]”. Inquisitr.com. Ngày 30 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  11. ^ Corner, Lewis (ngày 25 tháng 2 năm 2013). “Ed Sheeran: 'New song Photograph will change my career path'. Digital Spy. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014. 
  12. ^ McLean, Craig (ngày 16 tháng 7 năm 2014). “Ed Sheeran interview: 'I don't make music for critics'. The Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  13. ^ a ă â Book, Ryan (ngày 9 tháng 5 năm 2015). “Ed Sheeran Unveils Family Videos in 'Photograph' Video [WATCH]”. Music Time. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  14. ^ Vena, Jocelyn (ngày 22 tháng 4 năm 2015). “Ed Sheeran Announces 'Photograph' As Next 'X' Single”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  15. ^ a ă “Hot/Modern/AC Future Releases”. All Access. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2015. 
  16. ^ a ă “Top 40/M Future Releases”. All Access. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2015. 
  17. ^ a ă Krauser, Emily (ngày 10 tháng 5 năm 2015). “Ed Sheeran Releases Cutest Music Vid Ever for 'Photograph'. Entertainment Tonight. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  18. ^ a ă â b c d Kreps, Daniel (ngày 11 tháng 5 năm 2015). “Watch Ed Sheeran's Home Movies in 'Photograph' Video”. Rolling Stone. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  19. ^ “Taylor Swift Dancing Along To Ed Sheeran's NYC Gig Is AMAZING”. Capital FM. Ngày 17 tháng 6 năm 2014. 
  20. ^ Rodman, Sarah (ngày 23 tháng 6 năm 2014). “Ed Sheeran, 'X'. The Boston Globe. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  21. ^ McCormick, Neil (ngày 24 tháng 6 năm 2014). “Ed Sheeran, X, review: 'genuinely great'. The Daily Telegraph. 
  22. ^ John, Murphy (ngày 23 tháng 6 năm 2014). “Ed Sheeran – X”. MusicOHM. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  23. ^ Zaleski, Annie (ngày 24 tháng 6 năm 2014). “Taylor Swift’s BFF Ed Sheeran reaffirms his pop star status”. The A.V. Club. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  24. ^ a ă Menyes, Carolyn (ngày 20 tháng 6 năm 2014). “REVIEW: Ed Sheeran Takes A 'Photograph' In Beautiful New Love Song from 'X' [LISTEN]”. Music Times. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  25. ^ Kevin, Harley (ngày 22 tháng 6 năm 2014). “Album review: Ed Sheeran - X”. The Independent. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  26. ^ Dave, Hanratty (ngày 23 tháng 6 năm 2014). “Ed Sheeran”. Drowned in Sound. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  27. ^ Vincent, Alice (ngày 2 tháng 12 năm 2014). “Ed Sheeran saves album sales”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2015. 
  28. ^ “Official Charts”. Official Charts. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  29. ^ “Certified Awards”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  30. ^ Lipshutz, Jason; Caulfield, Keith (ngày 31 tháng 7 năm 2015). “Ed Sheeran's Still on the Rise: 'X' Yields Fourth Top 20 Hit”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2015. 
  31. ^ “Ed Sheeran”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  32. ^ Trust, Gary (ngày 20 tháng 8 năm 2015). “Hot 100 Chart Moves: R. City, Adam Levine Leap With 'Locked Away'. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  33. ^ “Recording Industry Association of America”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  34. ^ Billboard Staff (ngày 13 tháng 4 năm 2015). “Spotify Says Ed Sheeran Dominates the World's Sleep Playlists”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  35. ^ Angel, Meredith (ngày 16 tháng 4 năm 2015). “Ed Sheeran puts Spotify users to sleep the most”. New York Daily News. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  36. ^ Dowling, Tim (ngày 14 tháng 4 năm 2015). “Spotify’s top 20 songs to help you sleep: we put them to the test”. The Guardian. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  37. ^ “Ed Sheeran is being sued for $20m by two songwriters over his track Photograph”. Newsbeat (BBC Online). 9 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2016. 
  38. ^ Ellis-Petersen, Hannah. “Ed Sheeran may regret Photograph that led to $20m copyright case”. The Guardian. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2017. 
  39. ^ Vena, Jocelyn (ngày 29 tháng 5 năm 2015). “Watch Ed Sheeran's 'Good Morning America' Performances”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  40. ^ Music-News.com Newsdesk (ngày 20 tháng 5 năm 2015). “Sheeran: I didn't cry at Photograph vid”. Music-news.com. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  41. ^ “Ed Sheeran On His 'Photograph' Music”. Access Hollywood. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2015. 
  42. ^ Vena, Jocelyn (ngày 9 tháng 5 năm 2015). “Ed Sheeran Shares Personal Home Videos in 'Photograph' Video”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  43. ^ Perricone, Kathleen (ngày 9 tháng 5 năm 2015). “Watch Ed Sheeran Grow Up in Home Movies in ‘Photograph’ Music Video”. ryanseacrest.com. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015. 
  44. ^ Moss, Liv (ngày 11 tháng 5 năm 2015). “Ed Sheeran shares home movies for new Photograph video”. Official Charts. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2015. 
  45. ^ “Photograph (2-Track)”. Amazon.com. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2015. 
  46. ^ a ă “Photograph (Remixes)”. Amazon.com. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2015. 
  47. ^ x (Deluxe Edition Compact Disc liner notes). Ed Sheeran. Warner Music. 2014. 
  48. ^ "Australian-charts.com - Ed Sheeran - Photograph". ARIA Top 50 Singles. Hung Medien. Truy cập 13 tháng 6 năm 2015.
  49. ^ "Ed Sheeran - Photograph Austriancharts.at" (bằng tiếng Đức). Ö3 Austria Top 40. Hung Medien. Truy cập 29 tháng 7 năm 2015.
  50. ^ "Ultratop.be - Ed Sheeran - Photograph" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratip. ULTRATOP & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập 5 tháng 6 năm 2015.
  51. ^ "Ultratop.be - Ed Sheeran - Photograph" (bằng tiếng Pháp). Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập 26 tháng 9 năm 2015.
  52. ^ “Hot 100 Billboard Brasil – weekly”. Billboard Brasil. 19 tháng 12 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2015. 
  53. ^ "Ed Sheeran - Chart history" Canadian Hot 100 của Ed Sheeran. Truy cập 28 tháng 7 năm 2015.
  54. ^ "Ed Sheeran - Chart history" Billboard Canada AC của Ed Sheeran. Truy cập 19 tháng 9 năm 2015.
  55. ^ "Ed Sheeran - Chart history" Billboard Canada CHR/Top 40 của Ed Sheeran. Truy cập 19 tháng 9 năm 2015.
  56. ^ "Ed Sheeran - Chart history" Billboard Canada Hot AC của Ed Sheeran. Truy cập 17 tháng 10 năm 2015.
  57. ^ "ČNS IFPI" (bằng tiếng Séc). Hitparáda - RADIO TOP100 Oficiální. IFPI Czech Republic. Chú ý: nhập 201534 vào ô tìm kiếm. Truy cập 26 tháng 9 năm 2015.
  58. ^ "ČNS IFPI" (bằng tiếng Séc). Hitparáda – Digital Top 100 Oficiální. IFPI Czech Republic. Chú ý: nhập 201532 vào ô tìm kiếm. Truy cập 26 tháng 9 năm 2015.
  59. ^ "Danishcharts.com - Ed Sheeran - Photograph". Tracklisten. Hung Medien. Truy cập 2 tháng 10 năm 2015.
  60. ^ [0=is_bmdb_track_id%3A6134919&f[1]=itm_field_chart_id%3A846&refine=1 “Euro Digital Songs”]. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  61. ^ "Lescharts.com - Ed Sheeran - Photograph" (bằng tiếng Pháp). Les classement single. Hung Medien. Truy cập 5 tháng 10 năm 2015.
  62. ^ "Ed Sheeran - Photograph". Charts.de (bằng tiếng Đức). Media Control. Truy cập 2 tháng 10 năm 2015.
  63. ^ [0=is_bmdb_track_id%3A6134919&f[1]=itm_field_chart_id%3A801&refine=1 “Greece Digital Songs”]. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  64. ^ "Archívum - Slágerlisták - MAHASZ - Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége" (bằng tiếng Hungary). Single (track) Top 10 lista. Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége. Truy cập 26 tháng 9 năm 2015.
  65. ^ "Chart Track". Irish Singles Chart. GfK. Truy cập 2 tháng 10 năm 2015.
  66. ^ "Italiancharts.com - Ed Sheeran - Photograph". Top Digital Download. Hung Medien. Truy cập 23 tháng 10 năm 2015.
  67. ^ “Ed Sheeran Lebanese Chart Top 20 History”. The Official Lebanese Top 20. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2015. 
  68. ^ [0=is_bmdb_track_id%3A6134919&f[1]=itm_field_chart_id%3A913&refine=1 “Luxembourg Digital Songs”]. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  69. ^ [0=ss_chart_search_title%3A%22Photograph%22&f[1]=itm_field_chart_id%3A1187&refine=1 “Mexico Airplay”]. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  70. ^ [0=ss_chart_search_title%3A%22Photograph%22&f[1]=itm_field_chart_id%3A1188&refine=1 “Mexico Ingles Airplay”]. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  71. ^ "Nederlandse Top 40 - week 27, 2015" (bằng tiếng Hà Lan). Dutch Top 40 Stichting Nederlandse Top 40. Truy cập 26 tháng 9 năm 2015.
  72. ^ "Dutchcharts.nl - Ed Sheeran - Photograph" (bằng tiếng Hà Lan). Mega Single Top 100. Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập 26 tháng 9 năm 2015.
  73. ^ "Charts.org.nz - Ed Sheeran - Photograph". Top 40 Singles. Hung Medien. Truy cập 2 tháng 10 năm 2015.
  74. ^ "Norwegiancharts.com - Ed Sheeran - Photograph". VG-lista. Hung Medien. Truy cập 24 tháng 10 năm 2015.
  75. ^ "Listy bestsellerów, wyróżnienia :: Związek Producentów Audio-Video". Polish Airplay Top 20. Truy cập 2 tháng 11 năm 2015.
  76. ^ [0=is_bmdb_track_id%3A6134919&f[1]=itm_field_chart_id%3A806&refine=1 “Portugal Digital Songs”]. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2017. 
  77. ^ "Archive Chart". Scottish Singles Top 40. Official Charts Company. Truy cập 3 tháng 7 năm 2015.
  78. ^ "SNS IFPI" (bằng tiếng Slovakia). Hitparáda - RADIO TOP100 Oficiálna. IFPI Czech Republic. Chú ý: nhập 201546 vào ô tìm kiếm. Truy cập 17 tháng 11 năm 2015.
  79. ^ "SNS IFPI" (bằng tiếng Slovakia). Hitparáda – Singles Digital Top 100 Oficiálna. IFPI Czech Republic. Chú ý: nhập 201534 vào ô tìm kiếm. Truy cập 26 tháng 9 năm 2015.
  80. ^ “SloTop50: Slovenian official singles weekly chart”. SloTop50. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2015. 
  81. ^ "EMA Top 10 Airplay: Week Ending 2015-08-04". Entertainment Monitoring Africa. Truy cập 16 tháng 9 năm 2015.
  82. ^ "Spanishcharts.com - Ed Sheeran - Photograph" Canciones Top 50. Hung Medien. Truy cập 2 tháng 12 năm 2015.
  83. ^ "Swedishcharts.com - Ed Sheeran - Photograph". Singles Top 60. Hung Medien. Truy cập 26 tháng 9 năm 2015.
  84. ^ "Ed Sheeran - Photograph swisscharts.com". Swiss Singles Chart. Hung Medien. Truy cập 18 tháng 10 năm 2015.
  85. ^ "Ed Sheeran: Artist Chart History" UK Singles Chart. Truy cập 28 tháng 6 năm 2015.
  86. ^ "Ed Sheeran - Chart history" Billboard Hot 100 của Ed Sheeran. Truy cập 14 tháng 9 năm 2015.
  87. ^ "Ed Sheeran - Chart history" Billboard Adult Contemporary của Ed Sheeran. Truy cập 29 tháng 9 năm 2015.
  88. ^ "Ed Sheeran - Chart history" Billboard Adult Pop Songs của Ed Sheeran. Truy cập 1 tháng 9 năm 2015.
  89. ^ "Ed Sheeran - Chart history" Billboard Dance/Mix Show Airplay của Ed Sheeran. Truy cập 10 tháng 10 năm 2015.
  90. ^ "Ed Sheeran - Chart history" Billboard Pop Songs của Ed Sheeran. Truy cập 8 tháng 9 năm 2015.
  91. ^ “ARIA Charts - End of Year Charts - Top 100 Singles 2015”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  92. ^ “Jahreshitparade 2015” (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  93. ^ “Rapports annuels 2015” (bằng tiếng Pháp). Ultratop. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  94. ^ “Canadian Hot 100 - Year-End 2015”. Billboard. billboard.com. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2017. 
  95. ^ “Track Top-100, 2015”. Hitlisten.NU. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  96. ^ “Classement Singles - année 2015” (bằng tiếng Pháp). SNEP. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2016. 
  97. ^ “Top 100 Single-Jahrescharts”. GfK Entertainment (bằng tiếng Đức). offiziellecharts.de. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  98. ^ “Best of 2015: Top 20 Singles”. IRMA. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  99. ^ “Classifiche “Top of the Music” 2015 FIMI-GfK: La musica italiana in vetta negli album e nei singoli digitali” (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2016. 
  100. ^ “Jaaroverzichten - single 2015”. Hung Medien. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  101. ^ “Jaarlijsten 2015” (bằng tiếng Hà Lan). Stichting Nederlandse Top 40. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  102. ^ “Top Selling Singles of 2015”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2015. 
  103. ^ “SloTop50: Slovenian official year end singles chart”. slotop50.si. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2015. 
  104. ^ “Top 100 Singles 2015” (bằng tiếng Tây Ban Nha). PROMUSICAE. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  105. ^ “Årslista Singlar – År 2015” (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Swedish Recording Industry Association. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2017. 
  106. ^ “Swiss Year-end Charts 2015”. Hung Medien. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  107. ^ “End of Year Singles Chart Top 100 - 2015”. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016. 
  108. ^ “Hot 100 Songs: Year-End 2015”. Billboard. billboard.com. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015. 
  109. ^ “Adult Contemporary Songs: Year-End 2015”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. 
  110. ^ “Adult Pop Songs - Year-End 2015”. Billboard. billboard.com. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2017. 
  111. ^ “Pop Songs - Year-End 2015”. Billboard. billboard.com. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2017. 
  112. ^ “Track Top-100, 2016”. Hitlisten.NU. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2016. 
  113. ^ “Classifiche "Top of the Music" 2016 FIMI-GfK: La musica italiana in vetta negli album e nei singoli digitali” (Click on Scarica allegato to download the zipped file containing the year-end chart PDF documents) (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2017. 
  114. ^ “SloTop50: Slovenian official year end singles chart”. slotop50.si. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2016. 
  115. ^ “TOP 100 Canciones + Streaming anual 2016” (bằng tiếng Tây Ban Nha). PROMUSICAE. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2017. 
  116. ^ “Årslista Singlar – År 2016” (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Swedish Recording Industry Association. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2017. 
  117. ^ “Swiss Year-end Charts 2016”. Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2017. 
  118. ^ “Adult Contemporary Songs: Year-End 2016”. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2016. 
  119. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2016 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. 
  120. ^ “Austrian single certifications – Ed Sheeran – Photograph” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2015.  Nhập Ed Sheeran vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập Photograph vào ô Titel (Tựa đề). Chọn single trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  121. ^ “Ultratop − Goud en Platina – 2016”. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2016. 
  122. ^ “Canada single certifications – Ed Sheeran – Photograph”. Music Canada. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2017. 
  123. ^ “Denmark single certifications – Ed Sheeran – Photograph”. IFPI Đan Mạch. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2016. 
  124. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Ed Sheeran; 'Photograph')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2017. 
  125. ^ “Italy single certifications – Ed Sheeran – Photograph” (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2017.  Chọn Online ở mục Sezione. Nhập Ed Sheeran vào mục Filtra. Chọn 2017 ở mục Anno.
  126. ^ “New Zealand single certifications – Ed Sheeran – Photograph”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2015. 
  127. ^ “Spanish single certifications – Ed Sheeran – Photograph” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Novedades y Listas Oficiales de Ventas de Música en España. 
  128. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 2015” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015.  Nhập Ed Sheeran vào ô tìm kiếm ở trên cùng. Nhấn vào "Sok" và chọn Photograph
  129. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Ed Sheeran; 'Photograph')”. IFPI Switzerland. Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2016. 
  130. ^ “Britain single certifications – Ed Sheeran – Photograph” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2017.  Nhập Photograph vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Single trong khung By Format. Nhấn Search
  131. ^ “American single certifications – Ed Sheeran – Photograph” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  132. ^ “Ed Sheeran - Photograph (Radio Date: 22-05-2015)”. EarOne. 
  133. ^ “Photograph (2-Track)” (bằng tiếng Đức). Amazon.com. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]