Pimchanok Leuwisedpaiboon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Pimchanok Luevisadpaibul
พิมพ์ชนก ลือวิเศษไพบูลย์
Baifernbah.jpg
Baifern Pimchanok tham gia Talkshow
SinhPimchanok Luevisadpaibul
30 tháng 9, 1992 (30 tuổi)
Dusit, Băng Cốc, Thái Lan
Quốc tịch Thái Lan
Tên khácBaifern • Bai • Fern
Học vịCử nhân Khoa Mỹ thuật và Ứng dụng Biểu diễn
Trường lớpĐại học Srinakharinwirot
 Thái Lan
Nghề nghiệpDiễn viên
Người mẫu
Youtuber
Năm hoạt động2009–nay
Người đại diện2011–2016: Channel 7 (Thái Lan)
2016–nay: Diễn viên tự do
Nổi tiếng vìNam trong First Love (phim Thái 2010)
Gink trong Friend Zone - Yêu nhầm bạn thân
Nira trong Chiếc lá cuốn bay
Tác phẩm nổi bậtFirst Love (phim Thái 2010)
Lhong Fai (2017)
Yêu nhầm bạn thân (2018)
Chiếc lá cuốn bay (2019)
Lừa đểu gặp lừa đảo (2020)
46 Days (2021)
Chiều cao165 cm (5 ft 5 in)
Cân nặng46 kg (101 lb)
Cha mẹ
  • Nipon Luevisadpaibul (cha)
  • Wilaiwan Luevisadpaibul (mẹ)
Gia đìnhJiratid Luevisadpaibul (em trai)
Giải thưởng2020: Giải thưởng Hiệp hội phim ảnh Bangkok lần thứ 29 - Nữ diễn viên xuất sắc nhất
2017: Giải thưởng Nataraj lần thứ 9 - Nữ diễn viên đột phá
2019: Giải thưởng Nataraj lần thứ 11 - Nữ diễn viên xuất sắc nhất
Trang webInstagram
@baifernbah
Facebook
@ใบเฟิร์น - พิมพ์ชนก ลือวิเศษไพบูลย์ (Baifern - Pimchanok)
Weibo
@Baifern吕爱惠
Thông tin YouTube
Kênh
Năm hoạt động2017–nay
Thể loạiGiải trí, Đời sống
Lượt đăng ký348.000 (tính đến 14/06/2022 )
Tổng lượt xem14.467.030 views
(Jane 2022)
YouTube Silver Play Button 2.svg 100.000 lượt đăng ký

Pimchanok Luevisadpaibul (tiếng Thái: พิมพ์ชนก ลือวิเศษไพบูลย์, RTGS: Phimchanok Luewisetphaibun, Phát âm tiếng Thái: [pʰimʨʰánók lɯːwísèːtpʰajbuːn], sinh ngày 30 tháng 9 năm 1992) hoặc Baifern Pimchanok (tiếng Thái: ใบเฟิร์น, tên gọi thân mật: 'Lit' hoặc 'Fern Leaf'), là một nữ diễn viênngười mẫu người Thái.[1] Cô nổi tiếng qua vai diễn 'Nam' khi đóng cặp với nam diễn viên Mario Maurer trong bộ phim First Love (A Little Thing Called Love) (tiếng Việt: Điều bé nhỏ mang tên tình yêu - 2010).[2] Một số phim điện ảnh khác của cô như: Love Summer (Tình hè - 2011), Suddenly It's Magic (Phép màu bất thình lình - 2012), Cat A Wabb (Mèo mai mối - 2015), Friend Zone (Yêu nhầm bạn thân - 2019) cùng phim truyền hình: Lhong Fai (Ngọn Lửa Đam Mê - 2017), Chiếc lá cuốn bay (2019) cũng đem lại những thành công lớn cho nữ diễn viên. Cô tốt nghiệp trường Đại học Srinakharinwirot vào năm 2015.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Baifern Pimchanok sinh ngày 30 tháng 9 năm 1992 tại Bệnh viện Vajira, Băng Cốc, Thái Lan. Cô là con cả trong một gia đình người Tiều. Họ của cô, Luevisadpaibul, bắt nguồn từ họ Lữ (呂) trong tiếng Trung Quốc. Cha của cô làm kinh doanh xuất khẩu, mẹ là một nhân viên xã hội. Cô có một em trai. Khi còn nhỏ, cô học thể dục nhịp điệu và từng nhiều lần tranh huy chương đồng đội. Khi Baifern học lớp 6, cô được phát hiện bởi một đội tìm kiếm diễn viên nhí tại sân tập. Vì vậy, cô đã quay quảng cáo cho một nhãn hiệu giày học sinh và bắt đầu bước chân vào làng giải trí lần đầu tiên.

Baifern hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học tại Trường Meen Prasat Wittaya và Trường Thep Aksorn. Tốt nghiệp trung học tại trường Nawaminthrachinuthit và trường dự bị Nomklao. Cô nhận bằng cử nhân Khoa Mỹ thuật và Ứng dụng Biểu diễn tại Đại học Srinakharinwirot.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2009, Baifern tham gia bộ phim đầu tiên là "Ha Hua Chai Hiro", chính thức tiến vào showbiz và ký hợp đồng với Channel 7 (Thái Lan). Năm 2010, cô vào vai nữ chính Nam trong tác phẩm điện ảnh First Love (phim Thái 2010) và trở nên nổi tiếng ở thời điểm đó. Cũng trong năm này, cô đã giành được giải Best Rising Actress (Film) tại lễ trao giải Top lần thứ 11 cho bộ phim này. Năm 2016, đài CH7 của Thái Lan đã đưa ra thông báo rằng hợp đồng giữa cô và đài sẽ hết hạn vào tháng 5. Sau 6 năm đầu quân cho CH7 và không đạt được thành công như mong đợi, Baifern Pimchanok quyết định không gia hạn hợp đồng, kết thúc hợp đồng với công ty vào năm 2016 và chính thức trở thành nghệ sĩ tự do [3].

Năm 2017, Baifern đã trở lại đầy ngoạn mục với vai diễn Kankaew trong dự án truyền hình Lhong Fai 2017 của Đài One 31, vai diễn giúp cô gây ấn tượng mạnh trong lòng khán giả. Ở giai đoạn này, Baifern cũng được biết đến qua loạt các tác phẩm như: Slam Dance, Cưa đổ nàng ác ma, Beauty Boy…

Đến tháng 3 năm 2019, Baifern Pimchanok với vai nữ chính trong Friend zone - Yêu nhầm bạn thân đã gây sốt màn ảnh rộng Thái Lan với doanh thu hơn 210 triệu baht (153 tỷ đồng). Chưa dừng lại, bộ phim như một "hiện tượng" ở các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á. Tại thị trường Việt Nam, tác phẩm cũng nhanh chóng phá đảo phòng vé với doanh thu hơn 53 tỷ đồng, vượt mặt Thiên tài bất hảo - trở thành phim Thái có doanh thu cao nhất mọi thời đại tại phòng vé Việt Nam. Tháng 6 năm 2019, cô tiếp tục gây bão khắp màn ảnh nhỏ Thái Lan với vai diễn Nira Kongsawad trong tác phẩm truyền hình Chiếc lá cuốn bay - kể về mỹ nhân chuyển giới trải qua tuổi thơ bất hạnh vì bị bố và cô ruột hắt hủi, sau đó trở lại với thân phận và hình hài mới. Trong Chiếc lá cuốn bay, Baifern chinh phục khán giả nhờ lối diễn phức tạp, mô tả được nhiều lớp tính cách, nhiều góc cạnh của nhân vật, khiến người xem có được góc nhìn chân thực đầy khắc nghiệt về những số phận chuyển giới. Với thành công của vai diễn này, tên tuổi của Baifern nổi tiếng khắp châu Á, trở thành nữ diễn viên được săn đón bậc nhất xứ Chùa Vàng. Năm 2020, sau khi hợp tác với Mario Maurer trong bộ phim First Love (phim Thái 2010), cả hai sẽ được tái hợp trong dự án điện ảnh mới AI Love You [4] sau 10 năm.

Năm 2021 - 2022, Baifern có 3 dự án truyền hình được phát sóng bao gồm : Sợi dây hoàng lan, Saree yêu dấu, 46 ngày ngày phá nát đám cưới. Trong đó Sợi dây hoàng lan đóng cặp với Nine NaphatSaree yêu dấu đóng cùng nam diễn viên Sean Jindachot là 2 bộ phim được khác giả Việt Nam vô cùng đón nhận.

Danh sách các phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Vai diễn Bạn diễn
2009 Power Kids
(5 trái tim anh hùng)

5 หัวใจฮีโร่
(RTGS: Ha Hua Chai Hiro)
Tee Lor Girl Buru
Miss You Again

อนึ่ง คิดถึงเป็นอย่างยิ่ง
(RTGS: A-nueng Khit Thueng Pen Yang Ying)
Nun
The Meat Grinder

เชือดก่อนชิม
(RTGS: Chueat Kon Chim)
Nida
2010 First Love (Crazy Little Thing Called Love)
(Mối tình đầu)[2]

สิ่งเล็กเล็กที่เรียกว่า...รัก
(RTGS: Sing Lek Lek Thi Riak Wa...Rak)
Nam Mario Maurer
BKO: Bangkok Knockout

โคตรสู้ โคตรโส
(RTGS: Khot Su Khot So)
Bai-Fern
2011 Love Summer
(Tình hè)
Kaimook Thanwa Suriyajak
2012 Suddenly It's Magic
(Phép màu bất thình lình)[5]
Sririta Taylor Mario Maurer
2014 Die A Violent Death 2

ตายโหงตายเฮี้ยน
(RTGS: Taihong Taihien)
Ant Pichaya Nitipaisalkul
2015 Cat A Wabb
(Mèo mai mối)
Issarawalee Yawapongkul
(Meyo)
Arak Amornsupasiri
Alternative 1995

2538 อัลเทอร์มาจีบ
(RTGS: 2538 Alter Majib)
Som
2017 The Guys Sukun's sister
2019 Friend Zone
Yêu nhầm bạn thân

Friend Zone ระวัง..สิ้นสุดทางเพื่อน

Gink Naphat Siangsomboon
2020 The Con-Heartist
(Lừa đểu gặp lừa đảo)

อ้าย..คนหล่อลวง
(RTGS: Ay Khon Lo Luwang)

Ina Jitimaim Nadech Kugimiya & Thiti Mahayotaruk
2022 AI Love You Lana Mario Maurer

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Tên tiếng Việt Vai diễn Kênh phát sóng Bạn diễn
2010 Wai Puan Guan Lah Fun
วัยป่วน ก๊วนล่าฝัน
Noina Channel 7 Theerapat Yamsri
Nak Su Phan Kao Niaw
นักสู้พันธุ์ข้าวเหนียว
Mali Tharakade Petchsuksai
Look Khon
ลูกโขน,
Rumthai Saran Sirilak
2011 Mon Ruk Mae Nam Moon
มนต์รักแม่น้ำมูล
Chuyện tình bên dòng sông trăng Kumlah Thanwa Suriyajak
Pandin Mahatsajun Whan Sukollawat Kanarot
2012 Arsoon Noy Nai Takieng Kaew
อสูรน้อยในตะเกียงแก้ว
Aladin và cây đèn thần Nannie Chanapol Satya
2013 Look Mai Lark See
ลูกไม้หลากสี
Sợi ren đa sắc Sutapan Boss Tonont
2014 Khun Pee Tee Ruk Ông anh đáng yêu Nammon Saran Sirilak
2016 Banlang Hong Ngai vàng của thiên nga Miss Zhou / Jomkwan Pataradet Sa-nguankwamdee
2016-2017 Club Friday The Series 8:: True Love…or Sympathy Yêu hay thương hại Eye GMM25 Popetorn Soonthornyanakij
2017 Slam Dance Đấu trường ước mơ Fang One31 HD Chutavuth Pattarakampol
Lhong Fai Ngọn lửa đam mê Karnkaew GMM25 Pathompong Reonchaidee, Chutavuth Pattarakampol
2018 Yuttakarn Prab Nang Marn Cưa đổ nàng ác ma Rumpapat Sattaphong Phiangphor
Beauty Boy Những anh chàng đẹp trai Meet CH3 SD Sattaphong Phiangphor
2019 Secret Garden Khu vườn bí mật (Thai ver) Veena True4U Ananda Everingham
Bai Mai Tee Pild Plew Chiếc lá cuốn bay Nira Kongsawad One31 HD Puttichai Kasetsin
The Sand Princess Nàng công chúa cát Kok Chanipa GMM25 Chutavuth Pattarakampol, Worrawech Danuwong
Mahassajan Rak Kham Kradad Chàng Chiến Binh Đáng Yêu Sky True4U Oabnithi Wiwattanawarang
2021 46 Days 46 ngày phá nát đám cưới Ying Ying GMM25 Chanon Santinatornkul
2022 Sroi Sabunnga Sợi dây hoàng lan Sroi Sabunnga CH3 Naphat Siangsomboon
The Curse of Saree Saree yêu dấu Nuannuerkaew One31 HD Sean Jindachot
TBA Thong Prakai Saed Thiên sứ tội lỗi Thongdee One31 HD Jirayu La-ongmanee, Sittha Sapanuchart

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nam Lai (Saliva), Silly Fools
  • Rueang Thammada (Ordinary Story), James Ruangsak
  • Rao Rak Mae (We Love Mom), RS artists
  • 14 Ik Krang (14 Again), Sek Loso
  • Jeb Hua Jai (Hurting Heart), Sek Loso
  • Phlaeng Phlaeng Ni (This Song), Singharat Chanpakdee (a.k.a. The Star)
  • Sing Lek Lek Thi Riak Wa...Rak (A Little Thing Called...Love), Wan Thanakrit
  • Wa Wae, The Jukks
  • Bala Chu Ba Chu, OST Arsoon Noy Nai Takieng Kaew
  • Sai Dtah (Eyesight), OST. Back to The 90s / Alternative 1995
  • Sanya Jak Huajai (Promise from the Heart), OST. Banlang Hong
  • Jeeb...(May I ?), Namm Ronnadet
  • Ja Mee Wun Kong Chun Mai (Will My Day Exist?), OST. Lhong Fai, New-Jiew
  • Rao (Us) (2019) - COCKTAIL

Lồng tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

MC/YouTuber[sửa | sửa mã nguồn]

Trực tuyến YouTube: FERNZONE Channel

  • 19/06/2021: FERNZONE EP.1
  • 03/07/2021: FERNZONE EP.2
  • 17/07/2021: FERNZONE EP.3
  • 31/07/2021: FERNZONE EP.4
  • 14/08/2021: FERNZONE EP.5
  • 28/08/2021: FERNZONE EP.6
  • 11/09/2021: FERNZONE EP.7
  • 25/09/2021: FERNZONE EP.8
  • 09/10/2021: FERNZONE EP.9
  • 23/10/2021: FERNZONE EP.10
  • 06/11/2021: FERNZONE EP.11
  • 20/11/2021: FERNZONE EP.12
  • 04/12/2021: FERNZONE EP.13
  • 18/12/2021: FERNZONE EP.14
  • 08/01/2022: FERNZONE EP.15
  • 22/01/2022: FERNZONE EP.16
  • 06/02/2022: FERNZONE EP.17
  • 19/02/2022: FERNZONE EP.18
  • 05/03/2022: FERNZONE EP.19
  • 19/03/2022: FERNZONE EP.20
  • 02/04/2022: FERNZONE EP.21
  • 16/04/2022: FERNZONE EP.22
  • 30/04/2022: FERNZONE EP.23
  • 14/05/2022: FERNZONE EP.24
  • 28/05/2022: FERNZONE EP.25
  • 11/06/2022: FERNZONE EP.26
  • 25/06/2022: FERNZONE EP.27
  • 09/07/2022: FERNZONE EP.28
  • 23/07/2022: FERNZONE EP.29
  • 06/08/2022: FERNZONE EP.30

Quảng cáo/Đại diện thương hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thương hiệu Presenter/TVC
Dòng sản phẩm
Hợp tác Ghi chú
2007 MK Restaurant
2008 Pop Teen TVC giày học sinh
Pantene
2011 Chancha Tee TVC Trà sữa Thái
2012 Eversense Cool Powder Eversense Cùng 2PM
Chic Moist Cologne
2013 Mistine Q Perfect Lip Colors
2014 Inspired You Brightening Snowflake
2015 Toyota Toyota Sure Cùng Davika Hoorne (Mai)
Pantene
2016 UNICEF A Basket of Hope Cùng Mario MaurerDavika Hoorne (Mai)
2017 Siam Paragon Tourist Card
2018 LYN Pink Perfume
Pantene
Mistine TVC ở Trung Quốc Cùng Dan Worrawech
Series X Mascara
MizuMi UV Water Defense & Serum
Sabina Sabina Doomm Doomm
2019 Mistine Mistine ColorTwist
MizuMi UV Water Defense & Serum
UV Water Defense SPF 50
Sabina Sabina THE ISLANDER
Sabina Sewingcup Sewingheart
Twin Lotus Dokbuaku Everfresh
Fujifilm X-T30 the Little GIANT
FUJIFILM x FernZone
FUJIFILM X-A7
Liên Quân Mobile Skin Arum - Linh Tượng Vu Nữ
Sacred Sentinel Intro Voice Line
Ing On Herbal Soap
Vivo Vivo S1 Unlock Your Style+Explore Your Style
Lay's Potato Crackers Original Thin And Crispy
UNIQLO Thailand Winter Collection
7-Eleven Hot food Cùng Paing Takhon
PERCY PERCY Eyewear x Baifern

Danh sách giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Parinyaporn, Pajee (ngày 24 tháng 12 năm 2010). “Coping with colours (Part II)”. The Nation (Thailand). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011.
  2. ^ a b “Mario Maurer và Baifern Pimchanok trong phim "Crazy Little Thing Called Love". Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012.
  3. ^ “Baifern不與七台續約變為自由藝人” (bằng tiếng Trung). HopeTrip. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2016.
  4. ^ "มาริโอ้" หวนกลับมาเล่นหนัง คู่ "ใบเฟิร์น" ในรอบ 10 ปี” (bằng tiếng Thái). DARADAILY. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2020.
  5. ^ “Baifern Pimchanok và Mario Maurer trong phim 'Suddenly It's Magic'. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]