Plasmasphere

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Magneto plasma sphere.jpg

Plasmasphere, hay từ quyển bên trong, là một khu vực của từ quyển Trái đất bao gồm plasma năng lượng thấp (lạnh). Nó nằm trên tầng điện li. Ranh giới bên ngoài của plasmasphere được gọi là plasmapause, được xác định bởi một thứ tự giảm cường độ trong mật độ plasma. Plasmasphere được Don Carpenter phát hiện vào năm 1963 từ việc phân tích dữ liệu sóng huýt sáo của VLF. [cần dẫn nguồn] Theo truyền thống, plasmasphere được coi là một plasma lạnh hoạt động tốt với chuyển động của hạt chi phối hoàn toàn bởi trường địa từ và do đó ăn mòn với Trái đất.

Trong năm 2014, các quan sát vệ tinh từ nhiệm vụ THEMIS đã chỉ ra rằng các bất thường về mật độ như các luồng hoặc điểm cắn có thể hình thành.[1][2] Nó cũng đã được chứng minh rằng plasmasphere không phải lúc nào cũng cùng quay với Trái đất. Plasma của từ quyển có nhiều mức nhiệt độ và nồng độ khác nhau. Plasma từ tính lạnh nhất thường được tìm thấy nhiều nhất trong plasmasphere, một khu vực hình vòng cung bao quanh Trái đất. Nhưng plasma từ plasmasphere có thể được phát hiện trên khắp từ quyển vì nó bị thổi xung quanh bởi điện trường và từ trường. Dữ liệu được thu thập bởi anh em sinh đôi Van Probes cho thấy rằng plasmasphere cũng hạn chế các electron siêu năng lượng cực mạnh từ nguồn gốc vũ trụmặt trời tiếp cận quỹ đạo trái đất thấp và bề mặt hành tinh.[3][4]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ đề Space

  • Danh sách các bài báo plasma (vật lý)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Karen C. Fox (6 tháng 3 năm 2014). “NASA's THEMIS Discovers New Process that Protects Earth from Space Weather”. www.nasa.gov. NASA. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2017. 
  2. ^ B. M. Walsh; J. C. Foster; P. J. Erickson (7 tháng 3 năm 2014). “Simultaneous Ground- and Space-Based Observations of the Plasmaspheric Plume and Reconnection” (PDF). science 343. 
  3. ^ http://www.latimes.com
  4. ^ http://newsoffice.mit.edu/2014/plasma-shield-against-harmful-radiation-1126
  • Carpenter, DL, Whistler bằng chứng về một 'đầu gối' trong hồ sơ mật độ ion hóa từ tính, J. Geophys. Res., 68, 1675 Từ1682, 1963.
  • Nishida, A., Sự hình thành của plasmapause, hoặc đầu gối plasma từ tính, bằng hành động kết hợp của sự đối lưu từ tính và thoát plasma từ đuôi, J. Geophys. Res., 71, 5669, 1966.
  • Sandel, BR, et al., Quan sát hình ảnh cực tím cực lớn về cấu trúc và động lực học của plasmasphere, Space Sci. Rev, 109, 25, 2003.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]