Powderfinger

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Powderfinger
Ban nhạc đang chơi "These Days"
Powderfinger đang biểu diễn "These Days" ở Across the Great Divide Tour, tháng 9 năm 2007, Sydney.
Trái qua phải: Lachlan Doley (nhạc công phụ trợ), Jon Coghill, Darren Middleton, Bernard Fanning, John Collins (obscured), Ian Haug
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danhTerry, Bruce, Econdogs
Nguyên quánBrisbane, Queensland, Australia
Thể loạiRock, alternative rock, hard rock, grunge
Năm hoạt động1989 (1989)–2010 (2010)
Hãng đĩaFinger, Polydor, Universal
Hợp tác vớiThe Eternal, Drag, Far Out Corporation, The Predators, Silverchair, The Church
Websitepowderfinger.com
Cựu thành viên
Steven Bishop
John Collins
Ian Haug
Bernard Fanning
Jon Coghill
Darren Middleton

Powderfinger là một ban nhạc rock Úc được thành lập ở Brisbane vào năm 1989. Từ năm 1992 cho đến khi họ chia tay vào năm 2010, nhóm gồm

Bernard Fanning, nhạc công guitar Darren MiddletonIan Haug, nhạc công guitar bass John Collins và tay trống Jon Coghill. Album studio thứ ba của nhóm Internationalist, đạt vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng ARIA Albums Chart vào tháng 9 năm 1998. Họ tiếp tục với bốn album studio số một khác liên tiếp, Odyssey Number Five (tháng 9 năm 2000), Vulture Street (July 2003), Dream Days at the Hotel Existence (June 2007) và Golden Rule (tháng 11 năm 2009). Các đĩa đơn top ten của họ là "My Happiness" (2000), "(Baby I've Got You) On My Mind" (2003) và "Lost and Running" (2007). Powderfinger đã có tổng cộng 18 giải ARIA Award và trở thành ban nhạc được trao giải thứ hai sau Silverchair. Mười album và DVD của Powderfinger đã được chứng nhận vị trí nhiều bạch kim, với Odyssey Number Five - album thành công nhất của họ - đạt được chứng nhận bạch kim tám lần với số lượng hơn 560.000 bản.

Sau khi phát hành đĩa DVD đầu tiên, These Days: Live in Concert (tháng 9 năm 2004), và một album biên soạn, Fingerprints: The Best of Powderfinger, 1994–2000, 1994-2000 (tháng 11 năm 2004), nhóm đã thông báo nghỉ hưu vào năm 2005. Tháng 6 năm 2007 Thông báo về chuyến lưu diễn trên toàn quốc kéo dài 2 tháng với Silverchair, Across the Great Divide Tour sau khi phát hành Dream Days tại Hotel Existence. Powderfinger đã tham gia vào các hoạt động từ thiện. Năm 2005, họ biểu diễn tại một buổi hòa nhạc WaveAid ở Sydney nhằm giúp gây quỹ cho các khu vực bị ảnh hưởng bởi trận động đất năm 2004 ở Ấn Độ Dương. Một buổi trình diễn khác tại Nhà hát Opera Sydney vào tháng 10 năm 2007 đã gây quỹ cho các nạn nhân ung thư vú và gia đình họ. Mục đích của chuyến đi xuyên quốc gia của họ là thúc đẩy nỗ lực của Hòa giải Úc và nhận thức về khoảng cách trong tuổi thọ giữa trẻ em bản địa và không phải là thổ dân. Vào tháng 4 năm 2010, Powderfinger thông báo rằng họ sẽ tan rã sau chuyến đi của Sunsets Farewell Tour, tuyên bố đây sẽ là lần cuối cùng của họ vì họ đã nói về âm nhạc mọi thứ họ muốn nói. Vào ngày 13 tháng 11 năm 2010, họ biểu diễn concert cuối cùng, biểu thị sự tan rã của họ. Vào tháng 11 năm sau, Dino Scatena, một nhà báo nhạc rock, và ban nhạc, xuất bản một cuốn tiểu sử, "Footprints: câu chuyện bên trong của ban nhạc yêu thích nhất của Úc".

Powderfinger được thành lập vào năm 1989 [1] bởi Steven Bishop (cựu thành viên của The Eternal), John Collins (The Eternal) (The Eternal) nhạc công guitar bass và Ian Haug (The Vibrants, The Fossils) trên guitar và vocals[2][3][4]. The Eternal, The Vibrants and The Fossils là những bộ trang phục khác của Brisbane[5]. Tất cả ba thành viên của Powderfinger đều là sinh viên của trường Brisbane Grammar School - một trường tư thục ở Spring Hill - và họ bắt đầu như một ban nhạc cover nhạc rock rock của nhómThe Rolling Stones, The Doors, Led Zeppelin, Steppenwolf, RodriguezNeil Young.[2][4][6]. Tên của ban nhạc là từ bài hát của song of the same name.[2][7][8] cùng tên. Mặc dù nổi tiếng ở Brisbane, khi biểu diễn heavy metal ở Newcastle vào năm 1990, Powderfinger đã bị cuốn hút khỏi sân khấu[9].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “History”. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2013. 
  2. ^ a ă â McFarlane, 'Powderfinger' entry. Archived from the original on 19 April 2004. Retrieved 8 February 2013.
  3. ^ Rice, Stephen; Gee, Ashley; Currie, Frank; Loch, Andrew; Bostock, Brooke; Bertram, Jared; Hart, Jonathan; Morley, Adam; Currie, John (23 tháng 9 năm 2002). “Powderfinger Frequently Asked Questions. Ver. 2.4”. The Powderfinger FAQ. OzMusic Central. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2013. 
  4. ^ a ă Moxon, Mark (29 tháng 4 năm 2002). “Powderfinger – The Band”. h2g2 (BBC). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  5. ^ “Band History”. Ozmusic Central. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2013. 
  6. ^ Nimmervoll, Ed. “Powderfinger”. Howlspace. White Room Electronic Publishing Pty Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2001. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2013. 
  7. ^ Sharpe-Young, Gary (25 tháng 9 năm 2006). “Powderfinger Biography”. Rockdetector. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2007. 
  8. ^ Munro, Kelsey (tháng 11 năm 2001). “Internationalists”. Juice Magazine (Ozmusic Central). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2013. 
  9. ^ Watson, Chad (10 tháng 8 năm 2000). “'My Happiness' Review”. The Newcastle Herald. tr. 46.