Quân đoàn I (Việt Nam Cộng hòa)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
QUÂN ĐOÀN I
Việt Nam Cộng hòa
QD I VNCH.jpg
Phù hiệu
Hoạt động 1957-1975
Quốc gia Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Phục vụ Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Quân chủng Hỗn hợp
Phân loại Chủ lực Quân khu
Quy mô Quân đoàn
Bộ phận của ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Bộ chỉ huy Đà Nẵng, Việt Nam
Khẩu hiệu -Bến Hải hưng binh
-Tiền phong diệt Cộng
Tham chiến -Trận Mậu Thân
-Mùa hè đỏ lửa
-Chiến cuộc 1975
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng

-Trần Văn Đôn
-Lê Văn Nghiêm
-Đỗ Cao Trí
-Nguyễn Khánh
-Nguyễn Chánh Thi
-Tôn Thất Đính
-Ngô Quang Trưởng

Quân kỳ

Quân đoàn I là một đơn vị cấp Quân đoàn, được tổ chức hỗn hợp gồm cả Hải - Lục - Không quân. Đây là Quân đoàn thành lập đầu tiên vào năm 1957 và là một trong bốn Quân đoàn chủ lực của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Trong thời gian tồn tại của mình, Quân đoàn I có nhiệm vụ kiểm soát địa bàn gồm 5 tỉnh phía Bắc lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa, giáp vùng lãnh thổ miền Bắc Việt Nam do Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát, ranh giới đệm danh nghĩa là Khu phi quân sự vĩ tuyến 17. Đầu tháng 3 năm 1975, sau khi chiếm được quyền kiểm soát các tỉnh Cao nguyên thuộc Quân khu 2 của Việt Nam Cộng hòa, chỉ trong vòng 25 ngày, Lực lượng Quân đội Nhân dân Việt NamQuân Giải phóng Miền Nam Việt Nam lần lượt chiếm Huế, Đà Nẵng, đánh tan lực lượng của Quân đoàn I cùng các đơn vị Tổng trừ bị tăng cường tại đây. Các đơn vị còn lại của Quân đoàn I rút lui vội vã về phía Nam và được sát nhập vào Quân đoàn III để lập phòng tuyến Phan Rang. Quân đoàn I chính thức bị tan rã.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân của Vùng I chiến thuật là Đệ nhị Quân khu, được thành lập ngày 1 tháng 7 năm 1952[1], là một trong 4 Quân khu của Quân đội Quốc gia Việt Nam. Vùng kiểm soát của Đệ nhị Quân khu, tương ứng với vùng Trung phần Việt Nam, từ Bình Thuận trở ra Thanh Hóa. Tư lệnh đầu tiên là Trung tá Nguyễn Ngọc Lễ.

Năm 1954, địa bàn các Quân khu được điều chỉnh lại, trong đó Đệ nhị Quân khu điều chỉnh chỉ còn phần lãnh thổ Trung Việt kể từ ranh giới phía bắc tỉnh Quảng Ngãi trở lên.[2]

Sau khi Chính thể Việt Nam Cộng hòa chính thức thành lập ngày 26 tháng 10 năm 1956, toàn bộ lãnh thổ Nam Việt Nam do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát được chia thành 6 Quân khu[3]. Vùng lãnh thổ phía Bắc (tương ứng với Trung phần) thuộc Đệ nhị Quân khu, gồm các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi và Thị xã Đà Nẵng. Tư lệnh đầu tiên của Đệ nhị Quân khu thời Việt Nam Cộng hòa là Thiếu tướng Thái Quang Hoàng.

Quân đoàn I được thành lập ngày 1 tháng 6 năm 1957 tại Đà Nẵng với nòng cốt là Sư đoàn 1Sư đoàn 2 Dã chiến, do Trung tướng Thái Quang Hoàng kiêm Tư lệnh đầu tiên. Địa bàn kiểm soát của Quân đoàn I hoàn toàn trùng lắp với địa bàn của Đệ nhị Quân khu.

Cuối năm 1961, các Quân khu được cải tổ thành các Vùng chiến thuật (trừ Quân khu Thủ đô đổi thành Biệt khu Thủ đô)[4]. Đệ nhị Quân khu được cải tổ thành Vùng 1 chiến thuật, từ đó có danh hiệu liên hợp Quân đoàn I và Vùng 1 chiến thuật. Địa bàn của Vùng 1 được tổ chức thành các Khu chiến thuật: Khu 11 chiến thuật (gồm 2 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên), Khu 12 chiến thuật (gồm 2 tỉnh Quảng Tín, Quảng Ngãi) và Đặc khu Quảng-Đà (gồm tỉnh Quảng Nam và Thị xã Đà Nẵng). Các tỉnh cũng được tổ chức về mặt Quân sự thành các Tiểu khu chiến thuật, đứng đầu là một sĩ quan cấp Đại tá hoặc Trung tá với chức danh Tỉnh trưởng (hoặc Thị trưởng) kiêm Tiểu khu trưởng, chỉ huy các Tiểu đoàn Địa phương quân và các Chi khu (trong đó có các Trung đội Nghĩa quân). Quân số của mỗi Tiểu khu tương đương với quân số của một Sư đoàn Bộ binh, nhưng về mặt trang bị không bằng các đơn vị chủ lực. Vì vậy khi cần thiết sẽ được sự hỗ trợ của các Sư đoàn Bộ binh. Do đó, khi phối hợp tác chiến Tiểu khu trưởng dưới quyền của Tư lệnh Sư đoàn.

Từ Biến cố Phật giáo 1963 đến Biến động miền Trung 1965[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 1963, nổ sự kiện Phật đản 1963 tại Huế. Chính phủ Ngô Đình Diệm sau những biện pháp xoa dịu không hiệu quả đã quyết liệt dùng những biện pháp cứng rắn, huy động lực lượng cảnh sát và quân đội để trấn áp phong trào Phật giáo. Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng 1 chiến thuật bấy giờ là Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm vì không chấp nhận dùng quân đội để đàn áp những cuộc biểu tình bất bạo động của Phật tử miền Trung ngày 16 tháng 9 năm 1963, nên bị triệu hồi về Sài Gòn đặt dưới quyền sử dụng của Bộ Tổng Tham mưu. Quan chức cao cấp nhất của chính phủ Việt Nam Cộng hòa tại Miền Trung bấy giờ là Hồ Đắc Khương, Đại biểu chính phủ ở Trung nguyên Trung phần, cũng bị triệu hồi. Thiếu tướng Đỗ Cao Trí, Tư lệnh Sư đoàn 1 bộ binh, được bổ nhiệm thay thế Thiếu tướng Nghiêm. Một tháng sau cuộc đảo chính, ngày 12 tháng 12, dưới áp lực của Phật giáo, Tướng Đỗ Cao Trí và Tướng Nguyễn Khánh hoán chuyển với nhau chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Quân đoàn II.

Mặc dù tạm thời dẹp yên được phong trào Phật giáo, nhưng mâu thuẫn chính trị, xã hội của Việt Nam Cộng hòa vẫn tiếp tục tăng cao dẫn đến cuộc đảo chính của các tướng lĩnh quân đội do tướng Dương Văn Minh cầm đầu tiến hành. Tuy nhiên, chỉ 2 tháng sau, Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng 1 chiến thuật là tướng Nguyễn Khánh đã bất ngờ đưa một số đơn vị dưới quyền vào Sài Gòn, thực hiện cuộc "Chỉnh lý", tước quyền các tướng lĩnh cầm đầu Hội đồng Quân nhân Cách mạng, trở thành lãnh đạo tối cao trên thực tế của Việt Nam Cộng hòa. Tuy vậy, tướng Khánh cũng chứng tỏ ông không đủ năng lực để ổn định tình hình, dù ông đã cố gắng tìm kiếm sự ủng hộ của người Mỹ khi tuyên bố hoan nghênh quân Mỹ tham chiến tại miền Nam. Cuối cùng, nhóm tướng trẻ đã hợp tác, truất quyền và đẩy tướng Khánh đi lưu vong.

Đến lượt các tướng trẻ lại lao vào tranh giành quyền hành, liên tiếp gây nhiều binh biến, khiến cho tình hình Việt Nam Cộng hòa không ngừng bị xáo trộn; các phong trào quần chúng nhân dân liên tiếp nổ ra, đòi hỏi dân chủ hóa đất nước, thiết lập Quốc hội Lập hiến, trở lại chính phủ dân sự. Với việc Chính phủ Trung ương cách chức tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng I chiến thuật, người công khai chỉ trích tướng Nguyễn Văn Thiệu (Chủ tịch Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia, còn gọi là Quốc trưởng) và tướng Nguyễn Cao Kỳ (Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương, còn gọi là Thủ tướng), những việc mà ông cho là bất công, tham nhũng, được xem là nguyên nhân trực tiếp làm nổ ra cuộc Biến động Miền Trung năm 1966. Mặc dù liên tiếp thay đổi vị trí Tư lệnh Quân đoàn (4 tướng chỉ trong 3 tháng). Lực lượng Quân đoàn I, với hầu hết binh sĩ theo đạo Phật, vẫn từ chối tuân lệnh Chính phủ Trung ương, đứng về phía những người biểu tình. Trước tình thế nguy cơ ly khai dâng cao, Chính phủ do tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ tướng, quyết định dùng lực lượng Nhảy dù và Cảnh sát Dã chiến trấn áp biểu tình. Dù Biến động miền Trung được chấm dứt, nhưng việc Chính phủ Việt Nam Cộng hòa phải dồn sức để ổn định xã hội ở thành phố, khiến nỗ lực chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa suy yếu. Quân nhân, nhất là quân nhân Phật tử ngoài tiền tuyến, không an tâm chiến đấu vì hậu phương xáo trộn.

Quân Cộng sản thâm nhập và trận Mậu Thân 1968[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1959, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tổ chức tuyến đường Trường Sơn nhằm tiếp vận vũ khí và bổ sung cán bộ cho những người Cộng sản miền Nam. Sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, Năm 1961, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã thông qua kế hoạch phân chia Địa bàn Quân sự tại miền Nam Việt Nam. Theo đó, trên địa bàn tương ứng với Vùng 1 chiến thuật là các chiến trường B1 (thành lập 1961), B4 (thành lập 1966), B5 (thành lập 1964) và Quân khu 5 (thành lập 1961). Về danh nghĩa, các địa bàn quân sự này thuộc quyền chỉ huy của Bộ tư lệnh Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam, trên thực tế trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam chỉ đạo tác chiến.

Về phía chính phủ Mỹ, trước thất bại của chiến lược chiến tranh đặc biệt, Tổng thống Johnson và các quan chức chủ chốt Nhà Trắng, Lầu Năm góc (Ngũ giác đài), CIA đã tranh cãi gay gắt về các giải pháp của tướng Maxwell Taylor và một số người khác đưa ra, cuối cùng đã đi đến thống nhất quan điểm là chọn phương án đổ quân Mỹ vào miền Nam để giữ Chính quyền Sài Gòn và để "chứng minh cho nhân dân Mỹ, cho đồng minh và cho kẻ thù về hình ảnh của một nước Mỹ siêu cường". Vào lúc 9 giờ sáng ngày 8 tháng 3 năm 1965, Lữ đoàn 9 Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ vào bờ biển Đà Nẵng, đánh dấu sự khởi đầu tham chiến trực tiếp của quân đội Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam. Là địa bàn địa đầu chiến tuyến, lực lượng quân Mỹ và đồng minh tại Vùng 1 chiến thuật tập trung những đơn vị lớn nhất, tinh nhuệ nhất, gồm các lực lượng của Sư đoàn 3 Thủy quân Lục chiến và Quân đoàn 24 của Hoa Kỳ, Sư đoàn Mãnh Hổ và Bạch Mã của Đại Hàn.

Tháng 6 năm 1967, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã tính toán một chiến lược có ý nghĩa quyết định, tạo bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Phương án tổng công kích, tổng khởi nghĩa do Bộ Tổng Tham mưu soạn thảo đã được thông qua sau đó, xác định chiến trường trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế, hướng phối hợp chiến lược quan trọng là Đường 9 - Khe Sanh. Cụ thể là: cùng với đòn tiến công của bộ đội chủ lực ở hướng phối hợp chiến lược đặc biệt quan trọng là Đường 9 - Khe Sanh nhằm thu hút, giam chân lực lượng chiến lược của địch, một đòn tiến công chiến lược đánh vào thành phố, thị xã quy mô trên toàn Miền Nam, kết hợp với nổi dậy của quần chúng các đô thị và nông thôn, mở đầu cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa, lấy chiến trường chính là Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng, Huế, trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế và các thành phố lớn. Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, trước Tết Mậu Thân 10 ngày, Quân giải phóng sẽ nổ súng tiến công vào tập đoàn cứ điểm Khe Sanh để buộc Mỹ phải chú ý tập trung điều lực lượng chủ lực ra phía bắc đối phó, tạo điều kiện để giữ bí mật hướng trọng điểm và tiếp tục chuẩn bị.[5]

Trên cơ sở thông tin tình báo, phía Mỹ đã đưa ra một số dự đoán về cuộc tấn công, tuy nhiên về chiến lược, cả phía Mỹ lẫn Việt Nam Cộng hòa đều bị bất ngờ cả về thời gian lẫn quy mô của cuộc tiến công. Mặc dù vậy, các lực lượng Quân đội Mỹ tại hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên vẫn duy trì trong tình trạng chiến đấu, đề phòng các đơn vị lớn của Quân đội Nhân dân và Quân giải phóng ồ ạt tập kích qua vùng giới tuyến. Về phía Việt Nam Cộng hòa, sự lơ là thể hiện rõ hơn khi chỉ có mỗi Sư đoàn 1 dưới quyền tướng Ngô Quang Trưởng kịp ban hành lệnh cấm trại và chuyển sang tình trạng chiến đấu khi Sự kiện Tết Mậu Thân nổ ra.

Ngày 1 tháng 7 năm 1970, Vùng 1 chiến thuật được đổi tên thành Quân khu 1. Tổ chức Khu chiến thuật bị bãi bỏ.

Năm 1971 Việt Nam Cộng hòa tổ chức và thực hiện cuộc hành quân Lam sơn 719 xuất phát từ Quân khu 1 với mục tiêu là những cơ sở, binh trạm tiền phương và hậu cần của Quân đội Nhân dân của Miền Bắc tại vùng Hạ Lào.

Mùa hè đỏ lửa[sửa | sửa mã nguồn]

Trận chiến cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết, lực lượng quân Mỹ và đồng minh lần lượt rút khỏi Việt Nam. Viện trợ bị cắt giảm.

Biên chế tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là biên chế tổ chức của Quân đoàn I vào đầu năm 1975.

  • -Bộ Tư lệnh:
    -Bộ Tham mưu
    -Sở An ninh Quân đội
    -Phòng 1 Tổng Quản trị
    -Phòng 2 Tình báo
    -Phòng 3 Tác chiến
    -Bộ chỉ huy Tiếp vận
    -Bộ chỉ huy Pháo binh
  • -Đơn vị tác chiến trực thuộc:
    -Sư đoàn 1 Bộ binh: Bộ Tư lệnh đặt tại căn cứ Giạ Lê, Huế, phụ trách tỉnh Thừa Thiên.
    -Sư đoàn 2 Bộ binh: Bộ Tư lệnh đặt tại căn cứ Chu Lai, Quảng Ngãi, phụ trách các tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngãi.
    -Sư đoàn 3 Bộ binh: Bộ Tư lệnh đặt tại căn cứ Ái Tử, Quảng Trị, phụ trách tỉnh Quảng Trị. Sau trận tan hàng mùa hè năm 1972 rút về đặt Bộ tư lệnh tại căn cứ Hòa Khánh, Đà Nẵng, phụ trách tỉnh Quảng Nam và Đặc khu Đà Nẵng.
  • -Đơn vị tác chiến phối thuộc:
    -Sư đoàn Nhảy dù: Bộ Tư lệnh đặt tại Sài Gòn (Bộ Tư lệnh Tiền phương tại Đà Nẵng).
    -Sư đoàn Thủy quân Lục chiến: Bộ Tư lệnh đặt tại Sài Gòn (Bộ Tư lệnh Tiền phương tại Huế).
    -Hải khu 1 (còn gọi là Hải quân Vùng 1 Duyên hải): Bộ Tư lệnh đặt tại cảng Tiên Sa, Đà Nẵng.
    -Sư đoàn 1 Không quân: Bộ Tư lệnh đặt tại Phi trường Đà Nẵng.
    -Lực lượng Biệt động quân (gồm các Liên đoàn 11, 12, 14, 15): Bộ Chỉ huy đặt cạnh Bộ Tư lệnh Quân đoàn.
    -Lữ đoàn 1 Kỵ binh: Bộ Tư lệnh đặt cạnh Bộ Tư lệnh Quân đoàn
  • -Tiểu khu, Đặc khu trực thuộc:
    -Tiểu khu Quảng Trị: Bộ chỉ huy đặt tại Thị xã Quảng Trị. Gồm các Chi khu (Quận): Cam Lộ, Đông Hà, Gio Linh, Hải Lăng, Hướng Hóa, Mai Lĩnh, Triệu Phong và Yếu khu Thị xã Quảng Trị.
    -Tiểu khu Thừa Thiên: Bộ chỉ huy đặt tại Thị xã Huế. Gồm các Chi khu (Quận): Hương Điền, Hương Thủy, Hương Trà, Nam Hòa, Phong Điền, Phú Lộc, Phú Thứ, Phú Vang, Quảng Điền và Yếu khu Thị xã Huế (Gồm các quận Thành Nội, Tả Ngạn và Hữu Ngạn).
    -Tiểu khu Quảng Nam: Bộ chỉ huy đặt tại Thị xã Hội An. Gồm các Chi khu (Quận): Duy Xuyên, Đại Lộc, Điện Bàn, Đức Dục, Hiếu Đức, Hiếu Nhơn, Hòa Vang, Quế Sơn, Thường Đức và Yếu khu Thị xã Hội An.
    -Tiểu khu Quảng Tín: Bộ chỉ huy đặt tại Thị xã Tam Kỳ. Gồm các Chi khu (Quận): Hậu Đức, Hiệp Đức, Lý Tín, Thăng Bình, Tiên Phước, và Yếu khu Thị xã Tam Kỳ.
    -Tiểu khu Quảng Ngãi: Bộ chỉ huy đặt tại Thị xã Quảng Ngãi. Gồm các Chi khu (Quận): Ba Tơ, Bình Sơn, Đức Phổ, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Sơn Hà, Sơn Tịnh, Trà Bồng, Tư Nghĩa và Yếu khu Thị xã Quảng Ngãi.
    -Đặc khu Đà Nẵng: Bộ chỉ huy đặt tại Thị xã Đà Nẵng. Phụ trách Yếu khu Thị xã Đà Nẵng (Gồm các quận 1, 2 và 3)

Bộ Tham mưu và Phòng Sở của Quân đoàn I cuối tháng 3/1975[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc Chức vụ Phòng Sở Chú thích
1
Ngô Quang Trưởng
Võ khoa Thủ Đức K4[6][7]
Trung tướng
Tư lệnh
Bộ Tư lệnh
Quân đoàn
2
Lâm Quang Thi
Võ bị Đà Lạt K3
nt
Tư lệnh phó
Tư lệnh Tiền phương
nt
3
Hoàng Văn Lạc
Võ bị Huế K2
Thiếu tướng
Tư lệnh phó
Lãnh thổ
nt
4
Hoàng Mạnh Đáng[8]
Võ bị Địa phương
Nam Việt Vũng Tàu
Đại tá
Tham mưu trưởng
nt
5
Phạm Kim Chung[9]
Võ bị Đà Lạt K6
nt
Chỉ huy trưởng
Pháo binh
6
Lê Quang Nhơn[10]
Võ khoa Thủ Đức K2
nt
Chánh Sở
An ninh Quân đội
7
Ngô Minh Châu[11]
Võ khoa Thủ Đức K4
nt
Chỉ huy trưởng
Tiếp vận
8
Tôn Thất Yến
Trung tá
Trưởng phòng
Tổng Quản trị
9
Nguyễn Văn Phô
Đại tá
Trưởng phòng
Phòng 2 Tình báo
10
Lê Bá Khiếu[12]
Võ khoa Thủ Đức K4[13]
nt
Trưởng phòng
Phòng 3 Tác chiến

Chỉ huy các đơn vị trực thuộc và phối thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và Tên Cấp bậc Chức vụ Đơn vị Chú thích
1
Nguyễn Văn Điềm
Võ khoa Thủ Đức K4
Chuẩn tướng
Tư lệnh
Sư đoàn 1 Bộ binh
2
Trần Văn Nhựt
Võ bị Đà Lạt K10
nt
nt
Sư đoàn 2 Bộ binh
3
Nguyễn Duy Hinh
Võ khoa Nam Định
Thiếu tướng
nt
Sư đoàn 3 Bộ binh
4
Đỗ Kỳ
Đại tá
Tỉnh trưởng
Tiểu khu trưởng
Quảng Trị
Quảng trị[14]
5
Nguyễn Hữu Duệ[15]
Võ bị Đà Lạt K6
nt
Tỉnh trưởng
Thị trưởng
Tiểu khu trưởng
Thừa Thiên
Huế
Thị xã Huế trực thuộc Trung ương
6
Phạm Văn Chung[16]
Võ bị Đà Lạt K4
nt
Tỉnh trưởng
Tiểu khu trưởng
Quảng Nam
Hội An
7
Đào Mộng Xuân[17]
Võ bị Đà Lạt K8
nt
nt
Quảng Tín
Tam Kỳ
8
Lê Văn Ngọc[18]
Võ khoa Thủ Đức K5
nt
nt
Quảng Ngãi
Quảng Ngãi
9
Đào Trọng Tường[19]
Võ bị Đà Lạt K6
nt
Thị trưởng
Đặc khu trưởng
Đặc khu
Đà Nẵng
Đà Nẵng
Thị xã trực thuộc Trung ương
10
Nguyễn Đức Khánh
Võ bị Không quân Pháp
Chuẩn tướng
Tư lệnh
Sư đoàn 1 KQ
Đơn vị phối thuộc
11
Hồ Văn Kỳ Thoại
Hải quân Nha Trang K4
Phó Đề đốc
Chuẩn tướng
nt
Hải khu 1
nt
12
Nguyễn Đức Khoái[20]
Võ khoa Thủ Đức K2
Đại tá
Chỉ huy trưởng
Biệt động quân
Quân khu 2
nt
13
Nguyễn Xuân Hường[21]
Võ bị Địa phương
Trung Việt, Huế
nt
Tư lệnh
Lữ đoàn 1
Kỵ binh
nt

Tư lệnh Quân đoàn qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ và tên Cấp bậc tại nhiệm Thời gian tại chức Ghi chú
1
Thái Quang Hoàng
Võ bị Tông Sơn Tây
Trung tướng
(1956)
06/1957-10/1957
Tư lệnh đầu tiên. Chức vụ cuối cùng: Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Thái Lan (1964)
2
Trần Văn Đôn
Võ bị Tông Sơn Tây
Trung tướng
(1957)
10/1957-12/1962
Chức vụ cuối cùng: Phó thủ tướng Đặc trách Thanh tra kiêm Tổng trưởng Quốc phòng (1975)
3
Lê Văn Nghiêm
Võ bị Lục quân Pháp
Thiếu tướng
(1955)
12/1962-8/1963
Chức vụ cuối cùng: Giám đốc Nha Động viên Bộ Quốc phòng (1965)
4
Đỗ Cao Trí
Sĩ quan Nước Ngọt
Vũng Tàu
Thiếu tướng
(1963)
Trung tướng
(1963)
08/1963-12/1963
Chức vụ cuối cùng: Tư lệnh Quân đoàn III kiêm Tư lệnh Biệt khu Thủ đô. Tử nạn trực thăng năm 1971, được truy thăng hàm Đại tướng
5
Nguyễn Khánh
Võ bị Liên quân
Viễn Đông Đà Lạt
Trung tướng
(1963)
12/1963-02/1964
Chức vụ cuối cùng: Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa (1964)
6
Tôn Thất Xứng
Võ bị Huế K1
Thiếu tướng
(1964)
02/1964-11/1964
Chức vụ cuối cùng: Chỉ huy trưởng Đại học Quân sự (1964-1966)
7
Nguyễn Chánh Thi
Võ bị Địa phương
Nam Việt Vũng Tàu
Thiếu tướng
(1964)
Trung tướng
(1965)
11/1964-03/1966
Chức vụ cuối cùng: Đại biểu chính phủ tại Trung phần (1965-1966)
8
Nguyễn Văn Chuân
Võ bị Huế K1
Thiếu tướng
(1965)
03/1966-04/1966
Chức vụ cuối cùng: Thượng nghị sĩ nhiệm kỳ 1967-1973.
9
Tôn Thất Đính
Võ bị Huế K1
Trung tướng
(1963)
04/1966-05/1966
Chức vụ cuối cùng: Thượng nghị sĩ nhiệm kỳ 1967-1973.
10
Huỳnh Văn Cao
Võ bị Huế K2
Thiếu tướng
(1962)
15/5/1966-30/5/1966
Chức vụ cuối cùng: Đệ Nhất Phó chủ tịch Thượng viện nhiệm kỳ 1971-1975.
11
Hoàng Xuân Lãm
Võ bị Đà Lạt K3
Thiếu tướng
(1965)
Trung tướng
(1967)
06/1966-05/1972
Chức vụ cuối cùng: Phụ tá Tổng trưởng Quốc phòng (1972-1975).
12
Ngô Quang Trưởng
Trung tướng
(1972)
05/1972-04/1975
Tư lệnh cuối cùng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sắc lệnh số 61-QP của Quốc trưởng Bảo Đại ngày 26 tháng 6 năm 1952
  2. ^ Sắc lệnh số 19-QP của Quốc trưởng Bảo Đại ngày 19 tháng 3 năm 1954
  3. ^ Gồm Đệ nhất Quân khu (Đông Nam phần), Đệ nhị Quân khu (Trung phần), Đệ tam Quân khu (Kontum, Pleiku, Bình Định, Phú Yên), Đệ tứ Quân khu (nam Cao nguyên Trung phần và phía nam Duyên hải Trung phần), Đệ Ngũ Quân khu (Tây Nam phần) và Quân khu Thủ đô (Sài Gòn, Gia Định, Long An).
  4. ^ Sắc lệnh số SL.98/QP ngày 13 tháng 4 năm 1961
  5. ^ http://vov.vn/Home/Phan-II-Cuoc-tien-cong-va-noi-day-Tet-Mau-Than-1968/20081/77799.vov
  6. ^ Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức
  7. ^ Xuất thân từ Trường Sĩ quan
  8. ^ Sinh năm 1930 tại Quảng Bình
  9. ^ Sinh năm 1929 tại Kiến An
  10. ^ Sinh năm 1924 tại Rạch Giá
  11. ^ Sinh năm 1926 tại Thừa Thiên
  12. ^ Sinh năm 1934 tại Thừa Thiên
  13. ^ Còn gọi là khóa 10B Trừ bị Đà Lạt
  14. ^ Tên Tỉnh lỵ, Trung tâm Hành chính của tỉnh
  15. ^ Sinh năm 1931 tại Hưng Yên
  16. ^ Sinh năm 1931 tại Hà Nội
  17. ^ Sinh năm 1932
  18. ^ Sinh năm 1935 tại Khánh Hòa
  19. ^ Sinh năm 1928 tại Nam Định
  20. ^ Sinh năm 1929 tại Bắc Ninh
  21. ^ Sinh năm 1929 tại Quảng Nam

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng hòa.