Quân ủy Trung ương Trung Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Quân ủy Trung ương Trung Quốc

National Emblem of the People's Republic of China.svg
Quốc huy nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Phương châm hoặc Khẩu hiệu

Vì nhân dân phục vụ[1]
Đảng chỉ huy súng[2]
Súng đẻ ra chính quyền[3]

Thành viên ủy ban
Chủ tịch Tập Cận Bình
Phó Chủ tịch (2) Hứa Kì Lượng
Trương Hựu Hiệp
Ủy viên (4) Ngụy Phượng Hòa
Lý Tác Thành
Miêu Hoa
Trương Thăng Dân
Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu Tổ chức cấp trên Đảng Cộng sản Trung Quốc
Chức năng Cơ quan lãnh đạo Quân Giải phóng Nhân dân của Đảng Cộng sản Trung Quốc
Cấp hành chính Quốc gia
Văn bản Ủy quyền Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Luật Quốc phòng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Luật chống ly khai Điều thứ 8

Tổ chức Đảng cấp trên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
Tổ chức Đảng Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
Cơ quan Kiểm tra Kỷ luật Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
Cơ quan làm việc Văn phòng Quân ủy Trung ương
Cơ quan dưới quyền
15 cơ quan trực thuộc Quân ủy Văn phòng
Bộ Tham mưu liên hợp
Bộ Công tác Chính trị
Bộ Bảo đảm Hậu cần
Bộ Phát triển Trang bị
Bộ Quản lý Huấn luyện
Bộ Động viên Quốc phòng
Ủy ban Kiểm tra và Kỷ luật
Ủy ban Chính trị và Pháp luật
Ủy ban Khoa học và Công nghệ
Văn phòng Quy hoạch Chiến lược
Văn phòng Cải cách và Biên chế
Văn phòng Hợp tác Quân sự Quốc tế
Sở Kiểm toán
Tổng cục Quản lý Sự vụ
5 Quân chủng Lục quân
Hải quân
Không quân
Tên lửa Chiến lược
Chi viện Chiến lược
5 Chiến khu Chiến khu Trung ương
Chiến khu Đông bộ
Chiến khu Tây bộ
Chiến khu Nam bộ
Chiến khu Bắc bộ
3 Học viện trực thuộc Đại học Quốc phòng
Học viện Khoa học Quân sự
Đại học Khoa học Kỹ thuật Quốc gia
Phương thức liên hệ
Trụ sở
Địa chỉ Địa chỉ thường trú
Địa chỉ thực tế Ngọc Tuyền Sơn, Hải Điến Khu, Bắc Kinh
Địa chỉ Trung tâm chỉ huy tác chiến liên hợp Quân ủy Trung ương Trung Quốc
Địa chỉ thực tế Phường Thanh Long Kiều, Hải Điến Khu, Bắc Kinh
Địa chỉ Tòa nhà Bát Nhất
Địa chỉ thực tế Số 7 Đường Phục Hưng, Hải Điến Khu, Bắc Kinh
Tọa độ 39°54′27″B 116°19′16″Đ / 39,9075°B 116,321°Đ / 39.9075; 116.321
Lịch sử
Tiền thân Tên gọi
1925–1925 Flag of the Chinese Communist Party.svg Ủy ban Vận động Quân sự Trung ương Trung Cộng
1925–1926 Flag of the Chinese Communist Party.svg Bộ Quân sự Trung ương Trung Cộng
1926–1927 Flag of the Chinese Communist Party.svg Ủy ban Quân sự Trung ương Trung Cộng
1927–1928 Flag of the Chinese Communist Party.svg Khoa Quân sự Trung ương Trung Cộng
1928–1930 Flag of the Chinese Communist Party.svg Bộ Quân sự Trung ương Trung Cộng
1930–1931 Flag of the Chinese Communist Party.svg Ủy ban Quân sự Trung ương Trung Cộng
1931–1937 National Flag of Chinese Soviet Republic.svg Ủy ban Quân sự Trung ương Cách mạng Cộng hòa Xô viết Trung Quốc
1937–1945 Flag of the Chinese Communist Party.svg Ủy ban Quân sự Cách mạng Trung ương Trung Cộng
1945–1949 Flag of the Chinese Communist Party.svg Ủy ban Quân sự Trung ương Trung Cộng
1949–1949 Flag of the Chinese Communist Party.svg Ủy ban Quân sự Trung ương Trung Cộng (Ủy ban Quân sự Cách mạng Nhân dân Trung Quốc)
1949–1954 Trung Quốc Ủy ban Quân sự Cách mạng Nhân dân của Chính phủ Nhân dân Trung ương
1954–1975 Flag of the Chinese Communist Party.svg Ủy ban Quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
1975–1983 Flag of the Chinese Communist Party.svg Ủy ban Quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
1983–nay Flag of the Chinese Communist Party.svg Quân ủy Trung ương Trung Quốc
Tư liệu hình ảnh

ChinaDOD.jpg
Tòa nhà Bát Nhất

Defence Ministry PRC 01.jpg
Bộ Quốc phòng Trung Quốc

Defence Ministry PRC 02.jpg
Bộ Quốc phòng Trung Quốc nhìn từ hướng khác


  1. ^ Hoặc viết “Toàn tâm toàn ý Vì nhân dân phục vụ”
  2. ^ Hoặc viết “Đảng đối Quân đội đích tuyệt đối lãnh đạo”
  3. ^ Súng đẻ ra chính quyền";Xem thêm Công nhân đình công-Biến cố 412-Khởi nghĩa Nam Xương-Quốc-Cộng nội chiến-Tứ Nhân Bang-Sự kiện Thiên An Môn
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
National Emblem of the People's Republic of China.svg

Chính trị và chính phủ
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Xem thêm
   Chính trị Hồng Kông
   Chính trị Ma Cao
   Chính trị Trung Hoa Dân Quốc

Các nước khác
Quân sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Quân kỳ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Cơ quan lãnh đạo cao nhất
Ủy ban Quân sự Trung ương
(Đảng: Quân ủy Trung ương)
(Nhà nước: Ủy ban Quân sự Trung ương)
Lực lượng Vũ trang Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
People's Liberation Army Flag of the People's Republic of China.svg Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Ground Force Flag of the People's Republic of China.svg Lục quân·Naval Ensign of China.svg Hải quân·Air Force Flag of the People's Republic of China.svg Không quân
Rocket Force Flag of the People's Republic of China.svg Tên lửa Chiến lược·PLASSF.svg Chi viện Chiến lược


武警07式帽徽 Cảnh sát Vũ trang Nhân dân Trung Quốc
Lực lượng Dân quân Trung Quốc
Cơ quan chức năng thuộc Quân ủy Trung ương
Văn phòng Quân ủy Trung ương
Bộ Tham mưu liên hợp
Bộ Công tác Chính trị
Bộ Bảo đảm Hậu cần
Bộ Phát triển Trang bị
Bộ Quản lý Huấn luyện
Bộ Động viên Quốc phòng
Ủy ban Kiểm tra và Kỷ luật
Ủy ban Chính trị và Pháp luật
Ủy ban Khoa học và Công nghệ
Văn phòng Quy hoạch Chiến lược
Văn phòng Cải cách và Biên chế
Văn phòng Hợp tác Quân sự Quốc tế
Sở Kiểm toán
Tổng cục Quản lý Sự vụ
Các trường Quân sự Trung ương
Đại học Quốc phòng
Học viện Khoa học Quân sự
Đại học Khoa học và Công nghệ Quốc phòng
5 Chiến khu
Chiến khu Trung ương
Chiến khu Đông bộ
Chiến khu Tây bộ
Chiến khu Nam bộ
Chiến khu Bắc bộ
Lực lượng đồn trú
Quân đồn trú Hồng Kông
Quân đồn trú Ma Cao
Các hệ thống
Dịch vụ Quân sự
Quân khu cấp Tỉnh
Sẵn sàng chiến đấu
Cấp bậc (Lục quân, Hải quân, Không quân)
Cấp bậc Cảnh sát Vũ trang
Tổ chức quân sự trong Chính phủ
Bộ Quốc phòng
Ủy ban Khoa học và Công nghệ Quốc phòng
Ủy ban Động viên Quốc phòng
Ủy ban Quốc phòng và An ninh
Tư tưởng quân sự
Chiến lược quân sự
Chiến thuật quân sự
Chiến lược phát triển
Chiến tranh nhân dân
Chiến tranh du kích
Các thông tin khác
Lịch sử Quân sự Trung Quốc
Tổ chức Quân sự Trung Quốc

Quân ủy Trung ương Trung Quốc (tiếng Trung: 中央军委, Trung ương Quân ủy), thường gọi tắt là Quân ủy Trung Quốc (tiếng Trung: 军委, Quân ủy), tên đầy đủ là Ủy ban Quân sự Trung ương Trung Quốc (tiếng Trung: 中央军事委员会, Trung ương Quân sự Ủy viên Hội), là cơ quan lãnh đạo tối cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với các lực lượng vũ trang Trung Quốc nhưː Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc; lực lượng Cảnh sát Vũ trang Nhân dân Trung Quốc và lực lượng dân binh Trung Quốc. (Phân biệt khác với cơ quan Ủy ban Quân sự Trung ương của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) được thành lập dựa trên mô hình tổ chức của Ủy ban Quân sự cách mạng do Đảng Cộng sản Bônsêvich (Nga) lãnh đạo trong thời kỳ Cách mạng Tháng Mười năm 1917, xuất phát từ vai trò trực tiếp lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với các lực lượng vũ trang (LLVT) - công cụ bạo lực cách mạng cực kỳ quan trọng của Đảng. Thời kỳ trước năm 1983, cơ quan này có tên gọi Ủy ban quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ sau năm 1983 được gọi là Quân ủy Trung ương Trung Quốc.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Ủy ban quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 10 năm 1925, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (CPC) họp mở rộng và ra nghị quyết thành lập Ủy ban chiến dịch quân sự trung ương.
  • Tháng 12 năm 1925, Ủy ban Chiến dịch quân sự trung ương đổi tên thành Ban Quân sự trung ương do Chu Ân Lai lãnh đạo.
  • Cuối năm 1926, Ban Quân sự trung ương đổi tên thành Ủy hội quân sự Trung ương do Chu Ân Lai làm Tổng thư ký.
  • Tháng 11 năm 1927, Bộ chính trị lâm thời CPC quyết định cải tổ cơ quan này thành "Ban khoa học quân sự".
  • Tháng 7 năm 1928, Đại hội lần thứ 6 CPC quyết định phục hồi Ủy hội Quân sự trung ương. Chu Ân Lai trở lại làm Tổng thư ký cơ quan này.
  • Tháng 3 năm 1930, Trung ương CPC quyết định đổi tên Ủy hội quân sự Trung ương thành "Ủy ban quân sự Trung ương", là cơ quan lãnh đạo cao nhát về quân sự của Đảng, do Chu Ân Lai làm Bí thư.
  • Tháng 11 năm 1931, Trung Quốc học theo cách làm của Liên Xô, cải tổ Ủy ban quân sự Trung ương thành "Ủy ban Quân sự Cách mạng Trung ương". Chu Đức được Bộ Chính trị chỉ định làm Chủ tịch lâm thời.
  • Tháng 2 năm 1936, tư lệnh các Phương diện quân 1, 2, 4 và 8 bầu Mao Trạch Đông làm chủ tịch "Ủy ban Quân sự Cách mạng Trung ương".
  • Tháng 5 năm 1945, Tại Đại hội CPC lần thứ 7, Mao Trạch Đông được bầu làm Chủ tịch Đảng. Theo Điều lệ mới của CPC, Mao Trạch Đông đương nhiên là Chủ tịch "Ủy ban Quân sự Cách mạng Trung ương".
  • Đầu năm 1946, "Ủy ban Quân sự Cách mạng Trung ương" đổi tên thành "Ủy ban Quân sự Cách mạng nhân dân Trung Quốc".
  • Tháng 10 năm 1949, theo Luật Tổ chức chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, "Ủy ban Quân sự Cách mạng nhân dân Trung Quốc" đổi thành "Ủy ban Quân sự Cách mạng của Chính phủ CHND Trung Hoa".
  • Ngày 28 tháng 9 năm 1954, "Ủy ban Quân sự Cách mạng của Chính phủ CHND Trung Hoa" cải tổ thành Ủy ban quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mao Trạch Đông chỉ định Chu Đức làm Chủ tịch. Các thành viên gồm có: Chu Đức, Bành Đức Hoài, Lâm Bưu, Lưu Thiếu Kỳ, Hạ Long, Trần Nghị, Đặng Tiểu Bình, La Vinh Hoàn, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh TrănDiệp Kiếm Anh.
  • Tại Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng lần thứ 11, khóa VIII (tháng 8 năm 1966), chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc được trao cho Lâm Bưu, Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc.[1]
  • Năm 1971, Chu Ân Lai tạm quyền Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc.[1]
  • Năm 1976, Mao Trạch Đông qua đời, Hoa Quốc Phong được bầu làm Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn Diệp Kiếm Anh làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc.[1]
  • Năm 1978, Đặng Tiểu Bình được phục hồi chính trị và giữ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc.[1]
  • Từ năm 1979 đến năm 1989, Đặng Tiểu Bình liên tục giữ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, trong khi lần lượt Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc.[1]
  • Năm 1989, sau sự kiện Thiên An Môn, chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc được trao cho Giang Trạch Dân.[1]
  • Năm 2002, Giang Trạch Dân thôi các chức vụ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhưng vẫn giữ chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc đến năm 2004 thì trao lại cho Hồ Cẩm Đào.[1]
  • Từ năm 2004 tới năm 2012, Hồ Cẩm Đào là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Với chức vụ mới này, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đảm nhiệm trách nhiệm của thế hệ lãnh đạo thứ tư của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sau Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân.[1]

Tên gọi qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1925-1925, Ủy ban Vận động Quân sự Trung ương Trung Cộng.
  • 1925-1926, Bộ Quân sự Trung ương Trung Cộng
  • 1926-1927, Ủy ban Quân sự Trung ương Trung Cộng
  • 1927-1928, Khoa Quân sự Trung ương Trung Cộng
  • 1928-1930, Bộ Quân sự Trung ương Trung Cộng
  • 1930-1931, Ủy ban Quân sự Trung ương Trung Cộng
  • 1931-1937, Ủy ban Quân sự Trung ương Cách mạng Cộng hòa Xô viết Trung Quốc
  • 1937-1945, Ủy ban Quân sự Trung ương Cách mạng Trung Cộng
  • 1945-1949, Ủy ban Quân sự Trung ương Trung Cộng
  • 1949-1949, Ủy ban Quân sự Cách mạng Nhân dân Trung Quốc
  • 1949-1954, Ủy ban Quân sự Cách mạng Nhân dân của Chính phủ Nhân dân Trung ương
  • 1954-1975, Quân ủy Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Ủy ban Quốc phòng của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
  • 1975-1983, Ủy ban Quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
  • 1983-nay, Quân ủy Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc

Chức năng nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Chức năng chính của Quân ủy Trung ương Trung Quốc là lãnh đạo và thực thi sự chỉ huy thống nhất đối với các lực lượng vũ trang Trung Quốc, bao gồm: Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc; lực lượng Cảnh sát vũ trang nhân dân Trung Quốc và lực lượng dân binh Trung Quốc. Quân Giải phóng Nhân dân là lực lượng thường trực của Nhà nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Lực lượng Cảnh sát Vũ trang chịu trách nhiệm bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Dân binh là quần chúng, không thoát ly khỏi sản xuất.[1]

Đảng uỷ các cấp trong lực lượng vũ trang Trung Quốc là hạt nhân lãnh đạo thống nhất đối với các tổ chức, cơ quan, các lĩnh vực hoạt động của các lực lượng vũ trang thuộc cấp mình quản lý. Đảng Cộng sản Trung Quốc nghiêm cấm các đảng phái, các tổ chức chính trị thành lập cơ sở của họ trong quân đội, ngoại trừ Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc.[1] 

Cơ chế hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 2016[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên của cơ quan này không do bầu cử mà do chỉ định. Hiến pháp Trung Quốc quy định chỉ có Đảng Cộng sản Trung Quốc (mà trực tiếp là Bộ Chính trị) mới có quyền chỉ định thành viên của Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Cơ chế hoạt động của Quân ủy Trung ương Trung Quốc có một số điểm gần giống với Hội đồng Quốc phòng của Việt Nam hiện nay nhưng điểm khác biệt rõ nhất là: Hội đồng Quốc phòng của Việt Nam là cơ quan có tính chất lâm thời, cố vấn cho Chủ tịch nước trong những vấn đề quốc phòng và việc thống lĩnh quân đội và chỉ được triệu tập khi có tình huống quốc phòng trong khi Quân ủy Trung ương Trung Quốc là cơ quan thường trực, hoạt động định kỳ, thường xuyên. Trên danh nghĩa Quân ủy Trung ương Trung Quốc là thống lĩnh tối cao các lực lượng vũ trang Trung Quốc nhưng trên thực tế, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc mới là người thống lĩnh thật sự.

Quân ủy Trung ương Trung Quốc hiện nay gồm 11 thành viên thường trực, 9 thành viên không thường trực, trong đó có 18 thành viên là quân nhân và 2 thành viên dân sự được bố trí vào các chức vụ như sau:

  • Chủ tịch Quân ủy Trung ương: Là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm Chủ tịch nước
  • Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương: thường có số lượng là 2 người, là 1 chức vụ tương đương với Phó Thủ tướng
  • Ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương: thường là kiêm nhiệm giữ các chức vụ nhưː Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng Bộ tham mưu liên hợp, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Chủ nhiệm tổng Cục Phát triển trang bị, Tư lệnh Quân chủng Lục quân, Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Tư lệnh Quân chủng Không quân, Tư lệnh Quân chủng Tên lửa chiến lược, Tư lệnh Quân chủng Chi viện Chiến lược, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra và Kỷ luật
  • Ủy viên Quân ủy Trung ươngː thường là kiêm nghiệm giữ các chức vụ chủ chốt trong Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc như làː Chủ nhiệm các Ủy ban, Chánh Văn phòng Quân ủy Trung ương, Các Tư lệnh hoặc Chính ủy của 5 Chiến khu, Phó Tổng Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu liên hợp

Tất cả các thành viên Quân ủy Trung ương đều do Thường vụ Bộ Chính trị chỉ định. Các thành viên dự thính gồm 7 tư lệnh của 7 Đại quân khu, Tư lệnh Cảnh sát vũ trang, Hiệu trưởng Đại học Quốc phòng và Viện trưởng Viện Khoa học quân sự. Việc bổ nhiệm thành viên Quân ủy Trung ương dược thực hiện theo nguyên tắc "7 lên, 8 xuống". Nghĩa là tuổi bổ nhiệm tối đa là 67 tuổi, tuổi mãn nhiệm là 68 tuổi.

Quân ủy Trung ương Trung Quốc bàn bạc và quyết định tất cả các vấn đề về quân sự và quốc phòng của đất nước mà không cần phải tham vấn ý kiến của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Quốc hội hoặc Chính hiệp. Trong nghị sự, chỉ có các thành viên thường trực mới có quyền biểu quyết. Quân ủy Trung ương Trung Quốc có một văn phòng thường trực riêng giúp cho việc hoạt động thường xuyên, định kỳ, là cơ quan đầu mối ngang bộ.

Sau năm 2016[sửa | sửa mã nguồn]

Quân ủy Trung ương Trung Quốc được cải tổ toàn diện thực hiện theo cơ cấu chỉ huy tác chiến liên hợp quân ủy hình thành cục diện Quân ủy quản Tổng, Chiến khu chủ chiến, Quân chủng chủ kiến (xây dựng).[2]

  • Quân ủy quản Tổng tức là 4 cơ quan trực thuộc trước đây, gồm: Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Trang bị được cơ cấu lại thành 15 đơn vị trực thuộc Quân ủy trung ương gồm 1 văn phòng, 6 bộ, 3 ủy ban và 5 cục trực thuộc.[2]
  •  Quân chủng chủ kiến ngoài thiết lập Quân chủng Lục quân ra, cộng thêm các Quân chủng vốn có là Không quân, Hải quân,  Pháo II, chỉ làm chức năng hàng ngày xây dựng quân đội, không còn đảm nhiệm chỉ huy tác chiến, có thể sẽ xóa bỏ Bộ tác chiến của các quân chủng.[2]
  • Chiến khu chủ chiến là 5 Chiến khu chiến lược Trung, Đông, Tây, Bắc, Nam, (7 Đại quân khu Bắc Kinh, Thẩm Dương, Tế Nam, Nam Kinh, Quảng Châu, Thành Đô và Lan Châu hiện nay sẽ điều chỉnh lại và thiết lập thành 5 Chiến khu chiến lược), sau khi chỉnh hợp sẽ chịu trách nhiệm chỉ huy tác chiến liên hợp trong khu phụ trách, không còn quản lý công tác hàng ngày bộ đội, chỉ có đủ công năng tư lệnh, qui mô cơ quan sẽ thu gọn nhiều.[2]

Đảng Cộng sản Trung Quốc xác định mục tiêu của việc cải cách quân đội từ năm 2016 là xây dựng một đội quân lớn mạnh của Đảng trong tình hình mới; động viên toàn quân và lực lượng ở các lĩnh vực kiên định lòng tin, quy tụ ý chí, thống nhất tư tưởng và hành động, thực thi toàn diện chiến lược cải cách quân đội lớn mạnh, kiên định đi theo con đường xây dựng quân đội hùng mạnh mang đặc sắc Trung Quốc. Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội. Từ bỏ hoàn toàn mô hình quân đội hiện nay (vốn theo mô hình của Liên Xô). Nâng cao năng lực tác chiến, xây dựng một quân đội tinh nhuệ, có thể giành chiến thắng trong chiến tranh hiện đại, tương xứng với vị thế quốc tế, những lợi ích an ninh và phát triển của Trung Quốc.[3]

  • Xây dựng hệ thống lãnh đạo và chỉ huy tác chiến liên hợp gồm 3 lớp “Quân ủy Trung ươngChiến khuQuân đoàn và người lính[3]
  • Xây dựng hệ thống quản lý và xây dựng gồm 3 lớp “Quân ủy Trung ươngQuân chủngQuân đoàn và người lính[3]

Lãnh đạo hiện nay (khóa 19, 2017—2022)[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ tịch
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình
Phó Chủ tịch
Ủy viên

Quan hệ giữa chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung ương với các chức vụ cao cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Mao Trạch Đông từng tuyên bố: "Súng đẻ ra chính quyền" nên ở Trung Quốc, tướng lĩnh có tiếng nói mang sức nặng hơn các bộ trưởng và đại biểu quốc hội[cần dẫn nguồn]. Vì vậy, chức vụ cao cấp quan trọng nhất của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không phải là Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng (hoặc Tổng bí thư Đảng), Thủ tướng Quốc vụ viện mà là Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Trong thời kỳ trước năm 1949, khi chức vụ Chủ tịch quân ủy Trung ương được lập ra năm 1925, Trần Độc Tú giữ cả hai chức Tổng bí thư Đảng và Chủ tịch quân ủy Trung ương. Sau Hội nghị Tuân Nghĩa tháng 7 năm 1927, Trần Độc Tú bị hạ bệ, Chu Ân Lai là Bí thư trưởng, Cù Thu Bạch phụ trách trung ương (trong địch hậu), Mao Trạch Đông được cử làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Từ năm 1930 đến 1943, lần lượt Cù Thu Bạch, Vương Minh, Tần Bang Hiến (tức Bác Cổ), Trương Văn Thiên (tức Lạc Phủ) giữ chức vụ Tổng bí thư nhưng chức vụ Chủ tịch Quân ủy trung ương vẫn do Mao Trạch Đông liên tục nắm giữ. Đến năm 1943, tại Hội nghị Bộ Chính trị ngày 20 tháng 3 năm 1943 ở Diên An, các chức vụ Chủ tịch ủy ban Trung ương, Chủ tịch Bộ Chính trị, Chủ tịch Ban Bí thư được đặt ra và Mao Trạch Đông giữ tất cả các chức vụ này cùng với chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung ương cho đến năm 1965, bất chấp những sai lầm của ông trong thời kỳ "Đại nhảy vọt.

Tại Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng lần thứ 11 khóa 8 (tháng 8 năm 1966), chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung ương được trao cho Lâm Bưu, phó Chủ tịch Đảng. Năm 1971, Lâm Bưu làm phản và chạy trốn, bị rơi máy bay, chết ở Mông Cổ, Chu Ân Lai tạm quyền Chủ tịch quân ủy trung ương. Năm 1976, Mao Trạch Đông chết, bè lũ 4 tên bị đem ra xét xử. Hoa Quốc Phong được bầu là Chủ tịch Đảng nhưng Diệp Kiếm Anh được chỉ định là Chủ tịch quân ủy Trung ương. Năm 1978, Đặng Tiểu Bình được phục hồi và giữ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Từ năm 1979 đến năm 1989, lần lượt Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương làm Tổng bí thư nhưng Đặng Tiểu Bình vẫn giữ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Ông chỉ trao chức vụ này cho Giang Trạch Dân năm 1989, sau sự kiện Thiên An Môn. Năm 2002, Giang Trạch Dân thôi các chức vụ Tổng bí thư, Chủ tịch nước nhưng vẫn giữ chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung ương đến năm 2004 mới trao lại cho Hồ Cẩm Đào.

Mối quan hệ giữa Quân ủy Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc với Ủy ban Quân sự Trung ương của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1979, Đảng Cộng sản Trung Quốc đề ra chủ trương phân rõ chức năng của Nhà nước và của Đảng. Thực hiện chủ trương đó, Hiến pháp Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1982 quy định thành lập Ủy ban Quân sự Trung ương của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đây không phải là cơ quan trong cơ cấu tổ chức của Đảng Cộng sản Trung Quốc mà là cơ quan Nhà nước lãnh đạo tập thể về quân sự, do Hiến pháp Trung Quốc quy định về tổ chức, cơ chế hoạt động, thành viên..., mang tính chất của một cơ quan đại nghị quân sự.[1]

Ủy ban Quân sự Trung ương của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một trong những cơ quan lãnh đạo cao nhất của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, ngang cấp với Hội đồng nhà nước, Toà án nhân dân Tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao. Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc bầu ra, theo đề cử của Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.[1] 

Vì Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm vai trò lãnh đạo tuyệt đối đối với các Lực lượng vũ trang Trung Quốc, nên tất cả các thành viên của Quân ủy Trung ương Trung Quốc cũng đồng thời là thành viên của Ủy ban Quân sự Trung ương của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Do đó, trên thực tế, hai cơ quan này là một.[1] Tuy vậy, để phân biệt, các tài liệu vẫn ghi vắn tắt Trung ương Quân ủy (tài liệu tiếng Việt là "Quân ủy Trung Quốc" hoặc "Quân ủy Trung Cộng") để chỉ cơ quan lãnh đạo quân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc, và Quốc gia Quân ủy (tài liệu tiếng Việt là "Ủy ban Quân sự Trung ương Trung Quốc") để chỉ cơ quan lãnh đạo quân sự của Nhà nước Trung Quốc.

Trong tình hình hiện nay, khi Trung Quốc đang xây dựng Chủ nghĩa xã hội mang những đặc điểm riêng trong điều kiện kinh tế thị trường, cải cách, mở cửa, chịu tác động của nhiều yếu tố phức tạp trong cũng như ngoài nước, Đảng Cộng sản Trung Quốc đặc biệt coi trọng việc kiên trì nguyên tắc cơ bản Đảng lãnh đạo tuyệt đối đối với quân đội. Do đó, Trung ương Quân ủy có vai trò và vị trí quan trọng hơn so với Quốc gia Quân ủy.[1]

Tổ chức Đảng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo ngành dọc[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh đạo trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đảng Cộng sản Trung Quốc là cao nhất
  • Đảng bộ Quân ủy Trung ương thuộc Đảng Cộng sản Trung Quốc là tổ chức Đảng bộ cao nhất trong lực lượng vũ trang bao gồm Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Lực lượng Cảnh sát Vũ trang Nhân dân Trung QuốcLực lượng Dân quân Trung Quốc.
  • Đảng bộ Chiến khu/Quân chủng và tương đương thuộc Đảng bộ Quân ủy Trung ương Trung Quốc.
  • Đảng bộ Bộ Tư lệnh Ngành (Lục quân, Hải quân, Không quân) và tương đương thuộc Đảng bộ Chiến khu/Quân chủng.
  • Đảng bộ Quân đoàn và tương đương thuộc Đảng bộ Bộ Tư lệnh Ngành.
  • Đảng bộ Lữ đoàn và tương đương thuộc Đảng bộ Quân đoàn.
  • Đảng bộ Tiểu đoàn và tương đương thuộc Đảng bộ Lữ đoàn.
  • Đảng bộ Đại đội và tương đương thuộc Đảng bộ Tiểu đoàn.
  • Chi bộ Trung đội và tương đương thuộc Đảng bộ Đại đội.

Tổ chức chính quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 11 tháng 1 năm 2016, tổ chức lãnh đạo của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc được cải tổ lại. Đối với Quân ủy Trung ương, vẫn giữ cơ cấu như hiện nay (gồm: Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch và 8 ủy viên). Chủ tịch Quân ủy Trung ương có quyền chỉ huy tối cao và tuyệt đối, thông qua Bộ Tham mưu Liên hợp - cơ quan chỉ huy tác chiến của 5 chiến khu, 5 quân chủng thực hiện nhiệm vụ tác chiến liên hợp và xây dựng lực lượng. Tuy nhiên, thay đổi lớn nhất trong Quân ủy Trung ương là 4 cơ quan trực thuộc trước đây, gồm: Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Trang bị được cơ cấu lại thành 15 đơn vị trực thuộc Quân ủy trung ương, bao gồm 1 văn phòng, 6 bộ, 3 ủy ban và 5 cục trực thuộcː[3][4][5][6]

Điều hành[sửa | sửa mã nguồn]

Khối Cơ quan chức năng[sửa | sửa mã nguồn]

Khối Quân chủng[sửa | sửa mã nguồn]

Khối Chiến khu[sửa | sửa mã nguồn]

Địa bàn 5 Chiến khu của Quân đội Trung Quốc sau năm 2016.[7]

Khối Nhà trường và Viện Hàn lâm[sửa | sửa mã nguồn]

Quân ủy Trung ương qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ đồ tổ chức từ năm 2016[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ đồ tổ chức Quân ủy Trung ương Trung Quốc từ năm 2016

Sơ đồ tổ chức Quân ủy Trung ương Trung Quốc từ năm 2016

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]