Quân hàm Quân đội Trung Hoa Dân Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hệ thống quân hàm Quân đội Trung Hoa Dân Quốc là hệ thống cấp bậc quân sự của Quốc quân Trung Hoa Dân Quốc hiện nay.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Trung Hoa Dân quốc chính thức thành lập và Viên Thế Khải nhậm chức Tổng thống, tháng 8 năm 1912, chính phủ Bắc Dương của Viên tuyên bố cải tổ và thống nhất hệ thống quân hàm trên toàn quốc, cơ bản dựa trên hệ thống quân hàm của Bắc Dương quân nhưng có loại trừ những tàn tích của chế độ Bát kỳ Lục doanh. Theo đó, hệ thống quân hàm của Trung Hoa Dân quốc được phân thành 3 bậc 9 cấp, với 3 bậc Tướng, Hiệu, Úy; và 3 cấp Thượng, Trung, Thiếu. Bên cạnh đó, cấp bậc Chuẩn úy cũng được đặt ra. Thiết kế cấp hiệu cũng tương tự như cấp hiệu của quân Bắc Dương, vốn chịu nhiều ảnh hưởng của cấp hiệu Đức và Nhật Bản. Trong lực lượng Hải quân cũng đặt ra cấp bậc Thứ tướng (代將, Đại tướng (Chữ Đại ở đây có nghĩa là "đại diện", không cùng nghĩa với chữ Đại là "lớn"), tương đương cấp bậc Commodore trong Hải quân Anh quốc.

Trên thực tế, quân đội của Trung Hoa Dân quốc không thống nhất. Các quân phiệt địa phương tự hình thành các đội quân riêng, phát triển từ Tân quân nhà Thanh hoặc từ các đội vũ trang cách mạng, không chịu sự điều động của trung ương. Chính phủ của Viên chỉ dựa vào sức mạnh quân sự của Bắc Dương quân để kiểm soát một phần đất nước và sau khi Viên chết, chính các tướng lĩnh của Viên cũng trở thành những quân phiêt cát cứ.

Năm 1925, Trung Hoa Quốc dân Đảng hợp nhất các lực lượng vũ trang dưới quyền để thành lập lực lượng quân đội chính quy của Đảng, với tên gọi Quốc dân Cách mạng quân, gọi tắt là Cách mạng quân hoặc Quốc quân, để tiến hành cuộc chiến tranh Bắc phạt thống nhất Trung Quốc. Bắc phạt kết thúc với ưu thế thuộc về Quốc dân Đảng và lãnh tụ Tưởng Giới Thạch. Bất chấp sự ly khai của cánh tả trong Quốc dân Đảng và Cộng sản Đảng, Tưởng thành lập chính phủ riêng tại Nam Kinh và từng bước cải tổ chính quy hóa để đưa Quốc dân Cách mạng quân trở thành quân đội quốc gia.

Năm 1931, chính phủ của Tưởng xây dựng hệ thống quân hàm chính quy trong Quốc quân. Ban đầu, hệ thống quân hàm này kế thừa hệ thống quân hàm cũ của chính phủ Bắc Dương. Đến năm 1935, cấp hiệu được thay từ ngôi sao năm cánh thành ngôi sao 3 cánh thể hiện cho Tam dân Chủ nghĩa. Cấp bậc Thượng tướng được phân làm 2 gồm Nhị cấp Thượng tướng và Nhất cấp Thượng tướng. Riêng Tưởng được phong cấp bậc Đặc cấp Thượng tướng để khẳng định vai trò thống soái tối cao của ông. Tuy vậy cả 3 cấp bậc Thượng tướng đều sử dụng một cấp hiệu, trừ một vài khác biệt nhỏ trong lễ phục.

Năm 1947, Hiến pháp Trung Hoa Dân quốc được ban bố. Quốc dân Cách mạng quân cũng được cải danh thành Trung Hoa Dân quốc Quốc dân, chính thức trở thành quân đội quốc gia của Trung Hoa Dân quốc. Hệ thống quân hàm mới của Trung Hoa Dân quốc Quốc dân dù vẫn giữ nguyên các danh xưng (trừ cấp bậc Thứ tướng Hải quân đổi thành Chuẩn tướng Hải quân), nhưng hệ thống cấp hiệu được cải tiến theo hệ thống cấp hiệu của Hoa Kỳ. Hệ thống quân hàm này hầu như vẫn được giữ ổn định cho đến ngày nay.

Năm 1956, cấp bậc Chuẩn tướng Hải quân bị bãi bỏ. Năm 1980, cấp bậc Chuẩn úy bị bãi bỏ. Năm 2000, cấp bậc Đặc cấp Thượng tướng cũng bị bãi bỏ để tôn vinh Tưởng Giới Thạch là Thống soái duy nhất của Trung Hoa Dân Quốc.

Cơ cấu cấp bậc[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống cấp bậc của Quốc quân Trung Hoa Dân Quốc được dựa theo Wehrmacht trong thời kỳ hợp tác Trung-Đức trong những năm 1930.

Nhưng hiện nay cơ cấu cấp bậc lại gần tương tự Quân đội Hoa Kỳ.

Tiếng Trung Tiếng Việt Phù hiệu
Tướng 特級上將 Tổng thống lĩnh hoặc
Đặc cấp thượng tướng[1]
General Special Class rank insignia (ROC).jpg
一級上將 Đại tướng cao cấp hoặc
Nhất cấp thượng tướng[2]
General First Class rank insignia (ROC).jpg
二級上將 Đại tướng hoặc
Nhị cấp thượng tướng
General Second Class rank insignia (ROC).jpg
中將 Trung tướng Major General rank insignia (ROC).jpg
少將 Thiếu tướng Brigadier General rank insignia (ROC).jpg
Cấp Tá 上校 Thượng tá Colonel rank insignia (ROC).jpg
中校 Trung tá Lieutenant Colonel rank insignia (ROC).jpg
少校 Thiếu tá Major rank insignia (ROC).jpg
Cấp Úy 上尉 Thượng úy Captain rank insignia (ROC).jpg
中尉 Trung úy First Lieutenant rank insignia (ROC).jpg
少尉 Thiếu úy Second Lieutenant rank insignia (ROC).jpg
Cấp sĩ quan 一等士官長 Nhất đẳng sĩ quan trưởng Warrant Officer First Class rank insignia (ROC).jpg
二等士官長 Nhị đẳng sĩ quan trưởng Warrant Officer Second Class rank insignia (ROC).jpg
三等士官長 Tam đẳng sĩ quan trưởng Warrant Officer Third Class rank insignia (ROC).jpg
Cấp Hạ sĩ quan 上士 Thượng sĩ Sergeant Major rank insignia (ROC).jpg
中士 Trung sĩ Sergeant rank insignia (ROC).jpg
下士 Hạ sĩ Junior Sergeant rank insignia (ROC).jpg
Cấp Binh 上等兵 Thượng đẳng binh Senior Private rank insignia (ROC).jpg
一等兵 Nhất đẳng binh Private First Class rank insignia (ROC).jpg
二等兵 Nhị đẳng binh Private Second Class rank insignia (ROC).jpg

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The rank was bestowed only once - upon Chiang Kai-shek and currently is abolished.
  2. ^ Since 2013, the rank shall be granted only in wartime