Quân hàm và Cấp bậc Lục quân Đức Quốc Xã

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Quân hàm Lục quân

HeerLục quân Đức và là một phần của Wehrmacht kế thừa cấu trúc quân phục và cấp bậc từ Reichsheer của Cộng hoa Weimar (1921–1935). Có một vài thay đổi và điều chỉnh được thực hiện khi quân đội phát triển từ lực lượng phòng thủ thời bình có giới hạn 100,000 quân thành lực lượng chiến đấu gồm vài triệu quân.

Các cấp bậc và phù hiệu này dành riêng cho Heer và trong trường hợp đặc biệt cũng được cấp cho các sĩ quan cao cấp của Wehrmacht trong các hệ thống độc lập; hệ thống quân hàm và đồng phục của các nhánh khác thuộc Wehrmacht, Luftwaffe (Không quân) và Kriegsmarine (Hải quân) là khác nhau, cũng như SS là tổ chức Đảng bên ngoài Wehrmacht. Đảng Quốc xã cũng có loạt đồng phục và cấp bậc bán quân sự riêng.

Phù hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc huy (đại bàng trước ngực): Hoheitszeichen hoặc Wehrmachtsadler[sửa | sửa mã nguồn]

Wehrmachtsadler
1935
1939
1940
1944
Nhiệt đới

Reichswehr công nhận biểu tượng mới Quốc gia Xã hội chủ nghĩa ngày 17 tháng 2 năm 1934, khi Tổng Tư lệnh, Werner von Blomberg, ra lệnh gắn đại bàng và thập ngoặc Đảng Quốc Xã lên áo choàng và mũ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5 năm 1934.[1] Kế hoạch được chấp thuận, bằng bạc cho Reichsheer (lục quân) và vàng cho Reichsmarine (hải quân), với đại bàng cách điệu duỗi cánh, nắm chặt vòng hoa Hakenkreuz, sau được gọi là Wehrmachtsadler ("lực lượng vũ trang đại bàng"). Luftwaffe, mặc dù là quân chủng thuộc Wehrmacht, nhưng vẫn dùng thiết kế đại bàng riêng. Được thiết kế là miếng vá dài 9 cm (3⅝") may ở bên trên túi áo bên phải. Với binh lính được may bằng vải dệt ("BeVo") hoặc thêu bằng máy có màu sợi bạc-lục, cho sĩ quan được thêu bằng máy hoặc tay với tơ trắng hoặc dây nhôm sáng, và cho tướng may bằng tay dây vàng (thường là hợp kim đồng). Được gọi là "huy hiệu-vải" (Abzeichentuch), một loại vải nhung dệt; ban đầu là Reichsheer xám, sau năm 1935 đổi thành Wehrmacht Heer, Abzeichentuch đổi thành màu xanh-lục tối được gọi là flaschengrün.

Chiến tranh đã mang lại một số biến thể cho đại bàng trước ngực, mặc dù phù hiệu không được thay thế hoặc được ủy quyền, và tất cả đều được mặc cạnh nhau khi giai đoạn chiến tranh kết thúc. Khi sự chiến tranh chuẩn bị vào năm 1939, áo choàng chiến trường (Feldbluse) được thiết kế với đại bàng đã được thay đổi từ màu trắng bạc sang màu xám mờ để giảm tầm nhìn; và vào năm 1940, bắt đầu được sản xuất với màu xám đồng (feldgrau). Một phiên bản khác xuất hiện với sự ra đời của mẫu áo năm 1944, sử dụng lớp nền hình tam giác cho nhanh và đơn giản trong sản xuất. Giai đoạn gần kết thúc chiến tranh, một số Hoheitszeichen được in đơn giản trên vải mỏng.

Ngoài ra còn có các phiên bản cho quân phục khác: cả hai biến thể màu trắng và xám trên màu đen cho đồng phục Panzer, và màu xám xanh trên nền nâu cho đồng phục nhiệt đới (Afrikakorps). Một con đại bàng trước ngực làm bằng kim loại gim với quân phục mùa hè màu trắng của sĩ quan.

Phù hiệu cổ áo (Kragenpatte, Kragenspiegel)[sửa | sửa mã nguồn]

Doppellitze, năm 1900
bậc sĩ quan
(thêu)
lễ phục
chiến trường & quân chủng
Waffenfarbe (Quân đoàn kỵ binh)
bậc hạ sĩ quan
(dệt bằng máy)
lễ phục
chiến trường
Waffenfarbe (Quân đoàn bọc thép)
phiên bản tân tuyển
Mannschaft Litzen 1935
chiến trường 1934
Waffenfarbe (Pháo binh)

Trong thế kỷ XIX quân đội Đức, Cận vệ và trung đoàn tinh nhuệ khác mặc dải viền dài gấp đôi (Doppellitze) bao quanh tất cả hoặc hầu hết cổ áo như một dấu hiệu riêng biệt. Vào giữa Thế chiến I, những dải viền này đã được thu nhỏ lại thành một hình thêu có độ dài ngắn, được khâu thành các miếng vá đeo ở phía trước cổ áo. Khi Reichsheer được thành lập vào năm 1921 với tư cách là quân đội quốc gia đầu tiên của Đức (Quân đội Đế chế Đức trước đây bao gồm các đội quân của Vương quốc Phổ, Saxony, Bavaria và Württemberg thuộc Bộ Tổng tham mưu Phổ (Generalstab)) Litzen được quy định là phù hiệu trên cổ áo phổ thông cho tất cả binh lính trừ cấp tướng, và tiếp tục sử dụng cho Đế chế đệ tam.

Tuy nhiên để phân biệt giữa “vá cổ áo” (tiếng Đức: Kragenpatte hoặc Kragenspiegel), và viền NCO (Unteroffizierslitze hoặc Kragenlitze) – hạng binh sĩ Đức (NCO) – bao quanh cổ áo quân phục. Một NCO đeo cả hai, vá cổ áo, và viền quanh cổ áo. Sĩ quan (CO) chỉ đeo duy nhất vá cổ áo.

Thiết kế và phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

Trên cả hai đầu cổ áo bất kỳ áo quân phục nào cũng đều có vá cổ áo. Mỗi miếng vá bao gồm phần đệm và hai mặt song song (tiếng Đức: Patten), còn được gọi là Litzenspiegel, tượng trưng cho dải gấp đôi trong thế kỷ XIX.

Miếng đệm vá cổ áo lễ phục thể hiện lính thuộc Waffenfarbe (màu quân đoàn). Phiên bản áo được thêu chỉ nhôm nguyên chất trên miếng vá của vải huy hiệu (tiếng Đức: Abzeichentuch). Trong khoảng trống giữa hai mặt song song của miếng vá cổ áo tạo thành một dải màu ở giữa.

Quân phục quân chủng và trên chiến trường, giai đoạn cuối năm 1935, vá cổ áo là màu xanh tối để phù hợp với cổ áo; the Waffenfarbe "thể hiện qua" (thực tế dây màu may vào) mảnh giữa mỗi dải, Litzenspiegel.

Mỗi người gia nhập, vá cổ áo may bằng máy có màu xám-bạc; Sĩ quan thêu một cách tỉ mỉ bằng tơ trâng hoặc sợi nhôm, và phần lớn làm phù hợp với cổ cao hơn.

Binh sĩ (tiếng Đức: Unteroffiziere) mặc các miếng vá cổ áo nhập ngũ tiêu chuẩn nhưng được phân biệt bằng một dải 9mm sợi dải xám bạc dệt kiểu kim cương (Unteroffoziers-Tressen, NCO-Tressen), được may trên cổ áo ngoại trừ lễ phục, được may bằng nhôm sáng. Tuy nhiên, nhôm thêu trên lễ phục của NCO-Tressen (tiếng Đức: Ausgangsuniform, Paradeuniform) bao quanh cạnh trên của cổ áo, với NCO-Tressen đơn giản trong quân chủng – hoặc đồng phục chiến trường bao quanh cổ viền dưới.

Thiết kế phổ thông năm 1938[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản tân tuyển
Lễ phục
Chiến trường, 1938
Chiến trường, 1940
Miếng vá cổ áo, NCO-Tressen và vòng cổ, năm 1940.

Trước năm 1938 Heer phát triển nhanh đồng thời phát hiện ra một số điểm không thực tế, đối với đồng phục nhập ngũ, đã sản xuất và lưu trữ vô số miếng vá cổ áo nhiều quân chủng Waffenfarben đồng thời còn phải được may vá và thường xuyên thay đổi thợ may. Vì vậy, miếng vá cổ áo phổ thông mới được giới thiệu với LitzenspiegelMittelstreifen thêu chỉ xanh đen để hợp miếng vá đệm, và mà có thể được sản xuất tại nhà máy; nên đã được sử dụng trên dây vai, chỉ cần cài khuy trên và dễ dàng thay đổi.

Với thời chiến biến để hạ thấp khả năng nhìn thấy huy hiệu miếng vá cổ áo đã được may làm mờ bằng màu đen xám với sọc xám, lúc đầu may vá vào miếng vá cổ áo xanh như trước đây nhưng sau may trực tiếp lên cổ áo, bắt đầu vào năm 1940 thành màu feldgrau (xám xanh) như quân phục; miếng vá cổ áo xám không bao giờ được tạo ra. Binh lính ưa thích miếng vá xanh (và cổ áo) nếu họ có hoặc có thể mua chúng, đặc biệt là trên đồng phục "sạch" khi đi ra ngoài; và các cựu chiến binh phục vụ lâu dài đã tự hào đặc biệt với phiên bản trước năm 38.

Ngược lại, miếng vá cổ áo quân phục của sĩ quan không hề thay đổi. Trong khi hầu hết các sĩ quan ở tiền tuyến đều mặc đồng phục nhập ngũ theo quy định của thời chiến, nhiều người đã chọn để có các miếng vá cổ áo màu xanh lá cây và bạc thay vì các phiên bản nhà máy.

phiên bản tuyển quân, nhiệt đới
chiến trường & quân chủng

Trên đồng phục nhiệt đới màu ô liu, các miếng vá cổ áo được nhuộm bằng màu xanh xám Litzenspiegel cho tất cả nhân viên; sĩ quan đôi khi thêm các bản vá cổ áo màu xanh lá cây. Cổ áo binh sĩ nhiệt đới Tressen có màu nâu đồng, hoặc đôi khi màu ô liu.

Quân phục Thiết giáp cơ giới[sửa | sửa mã nguồn]

Phù hiệu cổ áo binh lính thiết giáp cơ giới (AFV)
Waffenfarbe (pháo binh tập kích)
phù hiệu lực lượng thiết giáp
vá cổ áo
dây vai (quân hàm)
Đầu lâu Tử thần
Waffenfarbe (quân đoàn thiết giáp)

Một ngoại lệ chính đối với việc đeo Litzen là "áo khoác panzer" (tiếng Đức: Panzerjacke), áo khoác được sử dụng bởi các lực lượng xe tăng và xe thiết giáp. Khi Panzertruppe được thành lập vào năm 1935, họ đã được cấp quân phục màu đen đặc biệt và một huy hiệu Totenkopf hoặc Đầu lâu Tử thần, phù hiệu trước đây đã được sử dụng bởi quân đoàn xe tăng Đế chế và lực lượng kỵ binh khác. Đầu lâu được thiết kế trắng hợp kim được cài gắn vào Kragenpatten màu đen có viền Waffenfarbe (màu quân đoàn).

Giữa những năm 1940 các đội pháo tấn công (Sturmgeschützen) đã nhận được một bộ quân phục riêng, giống hệt với Panzerjacke nhưng màu xám chiến trường tiêu chuẩn, thì lực lượng này có màu đỏ. Trong suốt cuộc chiến, một loạt các quy định khó hiểu và thay đổi đã chi phối quân phục và phù hiệu cho pháo tấn công, tăng hủy diệt, xe bọc thép và súng tự hành (SPG). Tùy thuộc vào đơn vị và ngày có thể cấp phép áo khoác có màu đen hoặc xám hoặc Feldbluse tiêu chuẩn, và trên áo khoác "pháo tấn công" màu xám, các miếng vá cổ áo quy định có thể có hộp sọ màu đen hoặc màu xám, Litzen hoặc không có biểu tượng nào cả. Kết quả trong thực tế là hỗn loạn; hình ảnh thời chiến cho thấy sự pha trộn giữa đồng phục và phù hiệu không chỉ mặc trong cùng một tiểu đoàn, mà ngay cả trong cùng một chiếc xe.

Chính thức cả hai màu của áo khoác panzer làm việc và chiến trường được sử dụng duy nhất trong hoặc quanh phương tiện; sự điều chỉnh bỏ qua sự phổ thông. Panzertruppen đã được cấp đồng phục tiêu chuẩn cho lễ phục và ở bên ngoài nhưng hiếm khi mặc chúng, họ thích áo khoác độc đáo của họ.

Tại Bắc Phi, binh lính thiết giáp cơ giới sử dụng quân phục nhiệt đới như là nhánh khác, bao gồm vá cổ áo; một vài lính tăng còn ghim huy hiệu Totenkopf lên ve áo.

Trung đoàn Bộ binh "Großdeutschland"[sửa | sửa mã nguồn]

Vá cổ áo binh lính Tressen của T.B. "Großdeutschland"

Trong tháng 6/1939, Wehrmacht Heer muốn tái gắn bó với truyền thống Quân đội cũ bằng việc giới thiệu quân phục mới cho đơn vị ưu tú: Wachregiment "Berlin" đổi tên thành Trung đoàn Bộ binh "Großdeutschland". Quân phục mới của T.B. "Großdeutschland" có một miếng vá cổ áoLitzenspiegel duy nhất cho binh lính và hai cho tân tuyển. duy nhất cho NCOs và hai cho nhập ngũ. Mặc dù được trình bày trước báo giới, bộ quân phục mới này không được cung cấp cho đơn vị do sự bùng nổ của Thế chiến II và được đặt trong kho lưu trữ.

Quân đoàn Sĩ quan Tổng tham mưu[sửa | sửa mã nguồn]

Rudolf Christoph Freiherr von Gersdorff là Oberst im Generalstab.
Vá cổ áo Sĩ quan Tổng tham mưu
Offizer im Generalstab Litzen
chiến trường và quân chủng
lễ phục
lễ phục OKW/OKH
Waffenfarbe (bộ tham mưu)

Generalstaboffiziere là các sĩ quan được lựa chọn và huấn luyện đặc biệt đại diện cho Bộ Tổng tham mưu Đức trong cả hai chức năng chỉ huy và tham mưu. Cấp bậc từ Hauptmann im Generalstab (đại úy) cho đến Oberst i.G. (đại tá). Trước năm 1939, tất cả tốt nghiệp Học viện Quân sự Kriegsakademie. Được chia thành Ia (tham mưu trưởng chiếm trường) hoặc Ib (chủ huy hậu phương). Trong cấp bậc cao hơn, bộ phận tình báo và huấn luyện tham mưu hầu hết là các sĩ quan Bộ Tổng tham mưu. Các sĩ quan Bộ Tổng tham mưu có Litzen đặc biệt riêng được gọi là alt-Preußische (Phổ cũ), hoặc Kolbenstickerei ("thêu rãnh"). Họ có thể lựa chọn miếng vá đỏ Kragenpatten hoặc bản vá cổ áo màu xanh lá cây; màu Litzenspiegel không quan trọng. Các sĩ quan Bộ Tổng tham mưu được bổ nhiệm bởi tổng hành dinh tối cao (Reichskriegs Managederium, sau này là OKHOKW), Kriegsakademie và các tùy viên quân sự được phân biệt rõ hơn bằng màu vàng chứ không phải là màu bạc. Những Generalstaboffiziere này được gọi là "des Generalstabs", Oberst d.G., v.v... Litzen vàng đặc biệt đã bị bãi bỏ vào tháng 11 năm 1942. Chỉ có các tùy viên quân sự đang ở chức vụ hiện tại mới được giữ Litzen. Führer muốn có sự kết hợp chặt chẽ hơn giữa chiến trường và OKW và OKH.

Ngoài các vá cổ áo, các Sĩ quan Bộ Tổng tham mưu mặc quần sọc, có thiết kế giống như tướng quân nhưng là đỏ tươi.

Tướng[sửa | sửa mã nguồn]

WMacht arabesques OF10toOF6-hor 1945.jpg
As Generalmajor OF-6
Nguyên soái OF-10
Đường lượn ngày nay.

Từ năm 1900 cấp tướng Phổ được cấp miếng vá cổ áo đặc biệt được gọi là alt-Larisch, lần đầu được sử dụng trong thế kỷ 18 bởi Trung đoàn Bộ binh số 26 (älterer von Larisch); ReichsheerWehrmacht tiếp tục kế thừa. Những thừ này thi thoảng được gọi là Arabesken (đường lượn), được thêu bằng vàng hoặc vàng tổng hợp Celleon trên nền Hochrot (đỏ tươi). Nguyên soái đeo Arabesken như cấp tướng cho đến tháng 4 năm 1941, khi một biến thể dài hơn với ba thay vì hai lần lặp lại của mẫu lặp lại, với tổng số sáu "nhánh".[2]. Trong một số trường hợp, Tướng soái không thay thế các vạt cấp tướng, hoặc chỉ làm như vậy trên lễ phục. Sĩ quan cấp tướng của Lực lượng Phục dịch Đặc biệt (Truppensonderdienst — TDS) và của nghề nghiệp đặc biệt (y, thú y, quân nhu, và bố trí cơ động) sử dunng phù hiệu đến tháng 4/1944, sau đó đổi Kragenpatten với alt-Larisch với màu tương ứng của Waffenfarbe:

  • xanh trắng – TDS dân sự;
  • xanh ngô – y dược;
  • cam – quân nhu; (Trước 6/1944 Waffenfarbe màu đỏ tươi.)
  • hồng – bố trí cơ động;
  • đỏ son – thú y;
  • đỏ vang – TDS quân pháp.

Trong tháng 10/1944, thời kỳ thay đổi màu đỏ tươi cho cấp Tướng đã được kéo dài với thời gian không xác định.

Những vá cổ áo đường lượn vẫn được sử dụng trong sĩ quan cấp tướng của Bundeswehr.

Chỉ huy[sửa | sửa mã nguồn]
Kragenpatte & Epaulette của von Rundstedt

Trong Wehrmacht Heer, khi nghỉ huy, sĩ quan cấp tướng được trao danh hiệu Chef (Chỉ huy) của trung đoàn, tương tự Đại tá danh dự của Lục quân Anh. Đây là truyền thống Quân đội Đức có từ thế kỷ 18. Cấp tướng mặc áo vét và phù hiệu của sĩ quan trung đoàn, bao gồm cả Litzen. Nguyên soái Gerd von Rundstedt, Chef của Trung đoàn Bộ binh số 18 (de), với số 18 lớn trên huy hiệu cầu vai, và quân phục của sĩ quan trung đội với vá cổ áo màu trắng thay vì của tướng quân.

Hitler bổ nhiệm Generaloberst thứ nhất Hans von Seeckt, cổ "Chef der Heeresleitung", làm Chef của Trung đoàn Bộ binh số 67 khi sinh nhật 70 tuổi tháng 4/1936, vài tháng trước khi mất. Có bảy vị tướng được phong Chefs: gồm Seeckt và Rundstedt; General der Infanterie Ritter von Epp (Chef của Infanterie Regiment số 61 tại Munich); Generalfeldmarschall von Mackensen (Chef của Kavallerie Regiment số 5 tại Stolp); Generaloberst von Fritsch (Chef của Artillerie Regiment số 12 tại Schwerin); và Generalfeldmarschall von Böhm-Ermolli (Chef Infanterie Regiment số 28 tại Troppau). Generalfeldmarschall von Blomberg bổ nhiệm Chef của Infanterie Regiment 73 và số 73 lớn đặt trên cầu vai, nhưng ngày 4/2/1938 ông bị cắt chức và xóa hỏi danh sách này.

Quai vai (Schulterklappen) và quân hàm (Schulterstücke)[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyển quân[sửa | sửa mã nguồn]

1935
1938
1940
Panzer
Nhiệt đới

Quai vai Reichsheer rất đơn giản trong Thế chiến I, làm bằng màu feldgrau có đầu nhọn hoặc "tam giác". Trong tháng 12/1934 vật liệu được thay đổi thành màu xám (Abzeichentuch) và tháng 9/1935 thay đổi thành màu xanh tối (flaschengrün). Phiên bản đầu tiên không được uốn cong như các phiên bản Waffenfarbe sau này.

Năn 1938, loại bỏ đồng thời vá cổ áo quân phục chiến trường Waffenfarbe, quân hàm được ban hành. Phiên bản thứ hai được thiết kế đầu tròn, và có viền len bao quanh ba mặt quân hàm Waffenfarbe (sau là vải tơ). Phiên bản này sử dụng đến cuối giai đoạn chiến tranh, mặc dù đến năm 1940 được sản xuất với màu xám, và các phiẻn bản thông thường cũng được thay thế như quân phục Panzer (đen), quân phục nhiệt đới (vải màu ô liu) và quân phục mùa hè Heer (lục dệt chéo). Schulterklappen không được sử dụng trên quân phục dã chiến, nên quân hàm được đeo trên áo choàng ngụy trang và áo parkas. Đối với thủy thủ (Mannschaften), phù hiệu cấp bậc được đeo trên tay áo trái. Tuy nhiên, cầu vai thường để nhận dạng đơn vị người đeo (thường là trung đoàn hoặc tiểu đoàn độc lập) cùng với nhánh phụ nếu có, thêu máy với màu quân chủng. Ví dụ, một Schulterklappe với đường viền màu hồng và có số "4" thì đây là trung đoàn Panzer số 4; nhưng nếu nó mang màu hồng và số "4" và chữ "A" thì đây là tiểu đoàn trinh sát bọc thép 4 (Aufklärungs). Quân đội Đức đã sử dụng rất nhiều chữ viết tắt Latinh, chữ cái Gothic, chữ số ả Rập, chữ số La Mã và các biểu tượng để chỉ định tất cả các chi nhánh dịch vụ khác nhau và thành lập. Trước khi chiến tranh, các nút vai được dập nổi với số lượng người mặc rất lớn, sau đó đã bị ngừng lại "một thời gian."

Kỵ binh Oberwachtmeister, nhiệt đới

Bắt đầu vào tháng 1 năm 1940, quân hàm loại bỏ phù hiệu đơn vị như một biện pháp bảo mật và thay vào đó vòng vải có thể tháo rời. Vào tháng 5 năm 1944, waffenfarbe đổi sang màu xám nhạt.

Quân hàm phù hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

Binh sĩ (Mannschaften)[sửa | sửa mã nguồn]

Vá cổ áo Litzen
Mannschaft Litzen 1935
1935
1938
1940
Lễ phục
Nhiệt đới
Waffenfarbe đỏ: pháo binh
Schulterklappen tân tuyển
1935
1938
1940
Quân phục Panzer
Nhiệt đới
Waffenfarbe trắng: bộ binh, hồng: thiết giáp
Cấp bậc Dịch Quân hàm Ghi chú
Soldat Binh lính WMacht H Inf OR4-1 Mannschaften01 h 1935-1945.svg Tương đương với binh nhì. Có thể được thăng lên Gefreiter OR-2.
Soldat
(Unteroffizieranwärter (UA))
Binh lính
(Hạ sĩ quan Chuẩn úy)
Heer-Unteroffizieranwärter h.svg Binh lính được lựa chọn cho hoặc thực hiện làm Unteroffizierschule (Hạ sĩ quan học viên); có thể là của bất kỳ cấp bậc từ Soldat (OR-1) đến Stabsgefreiter (OR-3)
Soldat
(Offizieranwärter (OA))
Binh lính
(Sĩ quan chuẩn úy)
Heer-Offizieranwärter h.svg
Obersoldat
(từ 1936)
Binh lính cấp cao WMacht H Inf OR4-1 Mannschaften01 h 1935-1945.svg
WMacht OR1a Ober…(Soldat) 1935-1945.svg
Xem xét thăng Oberschütze thường trong thời gian từ 6-12 tháng
Gefreiter Hạ sĩ thương WMacht H Inf OR4-1 Mannschaften01 h 1935-1945.svg
WMacht H OR2 Gefr 1935-1945.svg
Gefreiter
(Offizieranwärter (OA))
Hạ sĩ thương
(Sĩ quan chuẩn úy)
Heer-Offizieranwärter h.svg
WMacht H OR2 Gefr 1935-1945.svg
Obergefreiter Trưởng Hạ sĩ thương WMacht H Inf OR4-1 Mannschaften01 h 1935-1945.svg
WMacht H OR3b OGefr.svg
WMacht H OR3a OGefr.svg
Sau 6 năm quân dịch thêm vá cổ tay thứ hai
Stabsgefreiter
(từ 1942)
Hạ sĩ quan thương Tham mưu WMacht H Inf OR4-1 Mannschaften01 h 1935-1945.svg
WMacht H OR4 StGefr 1935-1945.svg
Phù hiệu Obersoldat.

Hạ sĩ quan (Unteroffiziere)[sửa | sửa mã nguồn]

LitzenTresse hạ sĩ quan
Unteroffizier Litzen und Tresse
1935
1938
1940
Lễ phục
Nhiệt đới
Waffenfarbe Hồng: lực lượng thiết giáp
Schulterklappen hạ sĩ quan
1935
1938
1940
Quân phục Panzer
Nhiệt đới
Cấp bậc Dịch Quân hàm Ghi chú
Unteroffiziere ohne Portepee (Hạ sĩ quan bậc dưới)
Unteroffizier
Oberjäger (Bộ binh hạng nhẹ và đồi núi)
Sĩ quan thuộc cấp
Trưởng bảo vệ
WMacht H OR5b Uffz Inf h.svg
Tương đương Hạ sĩ
Fahnenjunker-Unteroffizier (Offiziersanwärter OA) Hộ vệ kỳ Sĩ quan thuộc cấp
Heer-Fahnenjunker-Unteroffizier h.svg
Unterfeldwebel
Unterwachtmeister (Kỵ binh, pháo binh và vận tải)
Thám báo mặt trận thiếu
WMacht H OR5a UFw Inf h.svg
Tương đương với Trung sĩ
Fahnenjunker-Unterfeldwebel (Offiziersanwärter OA) Hiệu
Heer-Fahnenjunker-Unterfeldwebel h.svg
Unteroffiziere mit Portepee (Hạ sĩ quan bậc trên)
Feldwebel
Wachtmeister (Kỵ binh, pháo binh và vận tải)
Thám báo mặt trận
WMacht H OR6 Fw Inf h.svg
Fahnenjunker-Feldwebel (Offiziersanwärter OA)
Heer-Fahnenjunker-Feldwebel h.svg
Oberfeldwebel
Oberwachtmeister (Kỵ binh, pháo binh và vận tải)
Thám báo mặt trận trên
WMacht H OR7 OFw Inf h.svg
Tương đương Thượng sĩ
Fahnenjunker-Oberfeldwebel (Offiziersanwärter OA)
Heer-Fahnenjunker-Oberfeldwebel h.svg
Stabsfeldwebel
Stabswachtmeister (Kỵ binh, pháo binh và vận tải)
Thám báo mặt trận Tham mưu
WMacht H OR8 StFw Inf h.svg
Fahnenjunker-Stabsfeldwebel (Offiziersanwärter OA)
Heer-Fahnenjunker-Stabsfeldwebel h.svg

Sĩ quan dự khuyết (Fähnriche)[sửa | sửa mã nguồn]

Vá cổ áo Sĩ quan dự khuyết
Offizier-Bewerber
Offizier-Anwärter
Oberfähnrich
Từ 1940 1940–1941 1942–1945 Dịch Ghi chú
Fahnenjunker Schütze (Offizier-Bewerber) Schütze (Offizier-Bewerber) Hộ vệ kỳ
Trường binh (Ứng viên sĩ quan)
Fahnenjunker-Gefreiter Gefreiter (Offizier-Bewerber) Gefreiter (Offizier-Bewerber) Hộ vệ kỳ
Hạ sĩ thương (Ứng viên sĩ quan)
Fahnenjunker-Unteroffizier

Fahnenjunker-Oberjäger

Unteroffizier (Offizier-Anwärter)

Oberjäger (Offizier-Anwärter)

Fahnenjunker-Unteroffizier

Fahnenjunker-Oberjäger

Fähnrich Feldwebel (Offizier-Anwärter)

Wachtmeister (Offizier-Anwärter)

Fahnenjunker-Feldwebel

Fahnenjunker-Wachtmeister

Thám báo mặt trận (Ứng viên sĩ quan)
Oberfähnrich

Unterarzt (bác sĩ)
Unterapotheker (dược sĩ)
Unterveterinär (thú y)
Oberfähnrich im Ing. Korps (kỹ thuật)
Feuerwerker m. b. Offiziersprüfung (Hậu cần)

Oberfähnrich

Unterarzt
Unterveterinär
Unterapotheker
Feldingenieur
Oberfähnrich (Waffen)

Oberfähnrich

Unterarzt
Unterapotheker
Unterveterinär
Feldingenieur
Oberfähnrich (Waffen)

Trưởng hiệu

Sĩ quan (Offiziere)[sửa | sửa mã nguồn]

Officers' collar insignia
Offizier Litzen
Mặt trận và quân chủng
Quân phục
Nhiệt đới[a]
Màu vàng Waffenfarbe: Kỵ binh
Cấp bậc Dịch anh Tương đương Quân hàm
Leutnante
Leutnant
Assistenzarzt (Quân y)
Veterinär (Thú y)
Lieutenant
Assistant Surgeon
Veterinarian
Thiếu úy WMacht H OF1b Lt02 Prop h.png
Oberleutnant
Oberarzt (Quân y)
Oberveterinär (Thú y)
Senior Lieutenant
Senior Surgeon
Senior Veterinarian
Trung úy Oberleutnant Epaulette.jpg
Hauptleute
Hauptmann
Rittmeister (nhánh sơn cước)
Stabsarzt (Quân y)
Stabsveterinär (Thú y)
Stabsrichter (tòa án)
Heereshilfspfarrer (tuyên úy)[b]
Captain (n.đ Head man/lead man)
Riding Master
Staff Surgeon
Staff Veterinarian
Staff Lawyer
Army Assistant Chaplain
Đại úy Hauptmann Epaulette.jpg
Stabsoffiziere
Major
Oberstabsarzt (Quân y)
Oberstabsveterinär (Thú y)
Oberstabsrichter (tòa án)
Heerespfarrer (tuyên úy)[b]
Major
Senior Staff Surgeon
Senior Staff Veterinarian
Senior Staff Lawyer
Army Chaplain
Thiếu tá WMacht H OF3 Maj Inf h.svg
Oberstleutnant
Oberfeldarzt (Quân y)
Oberfeldveterinär (Thú y)
Oberrichter (Tòa án)
Heeresoberpfarrer (Tuyên úy)[b]
Lieutenant Colonel (n.đ Seniormost lieutenant)
Senior Field Surgeon
Senior Field Veterinarian
Senior Lawyer
Army Senior Chaplain
Trung tá WMacht H OF4 OTL Inf h.svg
Oberst
Oberstarzt (Quân y)
Oberstveterinär (Thú y)
Oberstrichter (Tòa án)
Wehrmachtsdekan (Tuyên úy)[b]
Colonel (n.đ Seniormost)
Seniormost Surgeon
Seniormost Veterinarian
Seniormost Lawyer
Defence Force Dean
Đại tá WMacht H OF5 Oberst Inf h.svg

Tướng và thống chế (Generäle)[sửa | sửa mã nguồn]

Cấp bậc Dịch anh Tương đương Quân hàm
Generalmajor
Generalarzt (Quân y)
Generalveterinär (Thú y)
Generalrichter (Tòa án)
Feldbischof (Tuyên úy)[b][c]
Generalquartiermeister (Quartermaster)
Major General
General Surgeon
General Veterinarian
General Lawyer
Field Bishop
Chuẩn tướng
WMacht H OF6 GenMaj h 1935-1945.svg

Veterinary:
WMacht H OF6 GenVet h 1945.jpg
Generalleutnant
Generalstabsarzt (Medical)
Generalstabsveterinär (Veterinary)
Generalstabsrichter (Judicial)
Lieutenant General
General Staff Surgeon
General Staff Veterinarian
General Staff Lawyer
Thiếu tướng
WMacht H OF7 GenLt h 1935-1945.svg
General...
— der Infanterie
— der Artillerie
— der Kavallerie
— der Panzertruppe (from 1935)
— der Pioniere (from 1938)
— der Gebirgstruppe (from 1940)
— der Nachrichtentruppe (from 1940)
Generaloberstabsarzt (Medical)
Generaloberstabsveterinär (Veterinary)
Generaloberstabsrichter (Judicial)
General
— of Infantry
— of Artillery
— of Cavalry
— of Armoured Troops
— of Engineers
— of Mountain Troops
— of Signals Troops
General Senior Staff Surgeon
General Senior Staff Veterinarian
General Senior Staff Lawyer
Trung tướng
WMacht H OF8 GenWaGtg h 1935-1945.svg

Medical:
WMacht H OF8 GenOStArzt h 1945.jpg
Generaloberst
— im Range eines Generalfeldmarschalls
Colonel General
— in the capacity of Field Marshal[d]
Đại tướng Colonel General:
WMacht H OF9 GenOberst h 1935-1945.svg

Colonel General GFM:
KHeer OF9 GenOberst iRd GenFM 1919-01.svg
Generalfeldmarschall General Field Marshal Thống chế before April 1941:
WMacht H OF10 GenFeldmarschall01 h 1942.svg

from April 1941:
WMacht H OF10 GenFeldmarschall h 1945.jpg

Áo khoác ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Quân hàm Oberleutnant
Hạ sĩ quan
Unteroffizier
Unterfeldwebel
Feldwebel
Oberfeldwebel
Stabsfeldwebel
Hauptfeldwebel
Sĩ quan
Leutnant
Oberleutnant
Hauptmann
Major
Oberstleutnant
Oberst
Cấp tướng
Generalmajor
Generalleutnant
General
Generaloberst
Generalfeldmarschall

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Wheeler-Bennett, John (1967). The Nemesis of Power: The German Army in Politics 1918–1945. London, UK: Macmillan. tr. 295–96. 
  1. ^ Wheeler-Bennett 1967, tr. 312.
  2. ^ Rosignoli 1975, tr. 209.
  3. ^ Verlag Moritz Ruhl 1936, Table 3.


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “lower-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="lower-alpha"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu