Quân hiệu Quân đội Nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Quân hiệu Quân đội Nhân dân Việt Nam là là biểu tượng của Quân đội nhân dân Việt Nam, hệ thống quân hiệu, phù hiệu, cấp hiệu cho binh sĩ và sĩ quan các cấp trong các quân chủng, binh chủng thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quân hiệu Quân đội Nhân dân Việt Nam gắn trên mũ cứng ,mũ mềm dã chiến và mũ lông biên phòng; đôi khi quân hiệu còn được gắn trên mũ kê-pi kiểu cũ của sĩ quan nam - nữ và mũ có dải của hạ sĩ quan - chiến sĩ Hải quân với cành tùng kép tháo rời.

Năm 1954[sửa | sửa mã nguồn]

Quân hiệu hình tròn, đường kính 3 cm, nền đỏ, ở giữa là ngôi sao vàng nổi, không có hình bánh răng và hai bông lúa. Vành ngoài quân hiệu màu vàng

Năm 1958[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu có quân hiệu, phù hiệu của Lục quân, Không quân, Hải quân.

  • Lục quân: Quân hiệu hình tròn, nền màu đỏ, ở giữa là ngôi sao vàng nổi. Phía dưới có hình nửa bánh răng, và hai bông lúa vươn lên bao quanh ngôi sao. Vành ngoài quân hiệu màu vàng.
  • Không quân: Quân hiệu hình tròn, nền màu xanh da trời, ở giữa là ngôi sao vàng nổi đè lên hình đôi cánh chim màu bạc. Phía dưới có hình nửa bánh răng, và hai bông lúa vươn lên bao quanh ngôi sao. Vành ngoài quân hiệu màu vàng.
  • Hải quân: Quân hiệu hình tròn, nền màu tím than, ở giữa là ngôi sao vàng nổi đè lên hình mỏ neo màu đỏ. Phía dưới có hình nửa bánh răng, và hai bông lúa vươn lên bao quanh ngôi sao. Vành ngoài quân hiệu màu vàng.
  • Giải phóng quân: Quân hiệu hình tròn, nền nửa trên màu đỏ nửa dưới màu xanh da trời, ở giữa là ngôi sao vàng nổi. Phía dưới có hình nửa bánh xe, và hai bông lúa vươn lên bao quanh ngôi sao. Vành ngoài quân hiệu màu vàng.

Năm 1982[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1982, cùng với trang phục K82, đã quy định về quân hiệu, phù hiệu, cấp hiệu thống nhất như sau:

Quân hiệu của Quân đội Nhân dân Việt Nam hình tròn, nền đỏ ở giữa là ngôi sao vàng tượng trưng cho cờ Tổ quốc. Phía dưới có hình nửa bánh răng và hai bông lúa vươn lên bao quanh ngôi sao, tượng trưng cho công nông. Vành ngoài màu vàng. Quân hiệu nhỏ gắn trên mũ cứng, mũ mềm và mũ lông biên phòng. Quân hiệu lớn gắn trên mũ kê-pi của sĩ quan cả nam và nữ, mũ có dải của hạ sĩ quan - chiến sĩ Hải quân với cành tùng kép tháo rời.

Hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Quân hiệu Quân đội Nhân dân Việt Nam loại quân hiệu 36mm gắn trên mũ kê-pi kiểu mới của sĩ quan nam và mũ có dải của hạ sĩ quan và chiến sĩ Hải quân. Với loại quân hiệu 28mm gắn trên mũ mềm của sĩ quan nữ và mũ nồi

Căn cứ Nghị định 82/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ về Quy định Quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và trang phục của Quân đội nhân dân Việt Nam.[1]

Quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và trang phục của Quân đội nhân dân Việt Nam được sử dụng cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, học viên, hạ sĩ quan - binh sĩ. Công nhân và viên chức quốc phòng chỉ sử dụng trang phục, biển tên và biểu tượng quân chủng, binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam.[1]

Quân hiệu của Quân đội nhân dân Việt Nam hình tròn, ở giữa có ngôi sao năm cánh nổi mầu vàng, xung quanh có hai bông lúa mầu vàng đặt trên nền đỏ tươi (với cảnh sát biển nền đỏ viền xanh lục thẫm), phía dưới hai bông lúa có hình nửa bánh răng mầu vàng, vành ngoài quân hiệu mầu vàng. [1]

Quân hiệu có 03 loại: Đường kính 36 mm, đường kính 33 mm, đường kính 28 mm. Quân hiệu 36 mm và 28 mm dập liền với cành tùng kép mầu vàng (với cảnh sát biển có dòng chữ "CSB" mầu đỏ trên cành tùng kép phía dưới quân hiệu). Quân hiệu 36 mm gắn trên mũ kê-pi của sĩ quan nam và mũ có dải của hạ sĩ quan - chiến sĩ hải quân, quân hiệu 28 mm gắn trên mũ mềm của sĩ quan nữ và mũ nồi, quân hiệu 33 mm gắn trên mũ cứng, mũ chống đạn và mũ mềm dã chiến của sĩ quan, hạ sĩ quan và chiến sĩ trên thao trường. [1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]