Quân hiệu Quân đội Nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Quân hiệu Quân đội Nhân dân Việt Nam là là biểu tượng của Quân đội nhân dân Việt Nam, hệ thống quân hiệu, phù hiệu, cấp hiệu cho binh sĩ và sĩ quan các cấp trong các quân chủng, binh chủng thuộc Quân đội Nhân dân Việt Nam.[1]

Quân hiệu Quân đội Nhân dân Việt Nam

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1982[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1982, cùng với trang phục K82, đã quy định về quân hiệu, phù hiệu, cấp hiệu thống nhất như sau:

Quân hiệu của Quân đội Nhân dân Việt Nam hình tròn, nền đỏ ở giữa là ngôi sao vàng (biểu tượng lá cờ Tổ quốc). Phía dưới có hình nửa bánh xe, và hai bông lúa vươn lên bao quanh ngôi sao, tượng trưng cho công nông. Vành ngoài màu vàng. Quân hiệu nhỏ gắn trên mũ mềm, mũ bông, mũ nồi. Quân hiệu lớn gắn trên mũ cứng, mũ kê-pi của sĩ quan, mũ có dải của hạ sĩ quan, binh sĩ Hải quân.

Hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Căn cứ Nghị định 82/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ về Quy định Quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và trang phục của Quân đội nhân dân Việt Nam.[1]

Quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và trang phục của Quân đội nhân dân Việt Nam được sử dụng cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, học viên, hạ sĩ quan - binh sĩ. Công nhân và viên chức quốc phòng chỉ sử dụng trang phục, biển tên và biểu tượng quân chủng, binh chủng của Quân đội nhân dân Việt Nam.[1]

Quân hiệu của Quân đội nhân dân Việt Nam hình tròn, ở giữa có ngôi sao năm cánh nổi mầu vàng, xung quanh có hai bông lúa mầu vàng đặt trên nền đỏ tươi, phía dưới hai bông lúa có hình nửa bánh xe răng lịch sử mầu vàng, vành ngoài quân hiệu mầu vàng. [1]

Quân hiệu có 03 loại: Đường kính 36 mm, đường kính 33 mm, đường kính 28 mm. Quân hiệu có đường kính 36 mm và 28 mm dập liền với cành tùng kép mầu vàng[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]