Quê hương

Quê hương hay Tổ quốc (Homeland) là một vùng không gian địa lý trong tâm thức, nơi mà một bản sắc dân tộc hoặc căn tính tộc người được nhào nặn, định hình và bồi đắp nên, cũng như mạch nguồn nuôi dưỡng tình yêu quê hương đất nước. Khái niệm này xét dưới góc độ dân sự cũng có khả năng mang một ngữ nghĩa đơn giản hiển ngôn để chỉ về chính quốc gia nơi cá nhân sinh ra và lớn lên với cuộc sống thường ngày nơi họ thuộc về.[1] Khi được lạm bàn dưới hình thái của một danh từ riêng thì từ "Tổ quốc", cũng như toàn bộ hệ thống các khái niệm tương đương bên trong cấu trúc ngữ pháp của các ngôn ngữ khác trên thế giới, thường xuyên mang những sắc thái biểu trưng đan xen chặt chẽ với chủ nghĩa quốc gia sắc tộc (ethnic nationalism). Một vùng quê hương hay nơi chôn nhau cắt rốn được ngôn ngữ văn chương vinh danh gọi tên dưới các thuật ngữ như Đất mẹ (motherland), Quê cha (fatherland), hoặc Chính quốc/Mẫu quốc (Mother country), phụ thuộc hoàn toàn vào nền văn hóa và Ngôn ngữ đặc thù của chính dân tộc.
Khái luận
[sửa | sửa mã nguồn]Cụm từ quê hương được sử dụng bằng nhiều ngôn từ mang sắc thái khác nhau:
Đất mẹ
[sửa | sửa mã nguồn]Thuật ngữ "Đất mẹ" (Motherland) hướng trực diện tới việc phản ánh một khái niệm khác là Mẫu quốc (mother country), tức là vùng không gian địa lý nơi một cá nhân trực tiếp trải qua các giai đoạn trưởng thành hoặc lặn lội lưu trú sinh hoạt hằng ngày trong một khung thời gian đủ dài để tự đầu tư kiến tạo nên bản sắc văn hóa độc bản của riêng mình; hoặc là một không gian nơi các bậc tổ tiên tiền bối của họ đã bám rễ chốt giữ lưu trú liên tục suốt nhiều thế hệ; hoặc là nơi chốn mà một con người luôn kiên định nhìn nhận hướng về như mái ấm gia đình của mình; hoặc dùng để chỉ định cho một vùng Chính quốc (Metropole) để đặt trong thế đối sòng phẳng trực diện với cấu trúc hệ thống các phân khu vùng đất thuộc địa trực thuộc. Quần chúng nhân dân thường xuyên sử dụng hình tượng biểu trưng mang tên Mẹ Nga (Mother Russia) như một giải pháp hình tượng hóa mô phỏng cho toàn vẹn bản sắc căn tính của quốc gia Nga. Lãnh thổ nước Philippines từ góc độ văn hóa cũng được toàn xã hội đóng dấu thừa nhận là một vùng đất mẹ linh thiêng, một căn tính ngôn ngữ được chuyển hóa từ cụm từ gốc bản địa Inang Bayan (hiển ngôn là "Đất mẹ"). Cộng đồng người Pháp thường xuyên lạm dụng ngôn từ thường nhật hằng hằng ngày để trang trọng gọi tên tổ quốc Pháp của mình dưới cụm từ "La mère patrie";[2] và ép buộc các nước Đông Dương thuộc Pháp trong đó có Việt Nam phải gọi nước Pháp bằng mẫu quốc Pháp (nước mẹ Đại Pháp) và phải nằm lòng câu "Tổ tiên chúng ta là người Gô-loa" ("Nos ancêtres étaient des Gaulois").[3]
Quê cha
[sửa | sửa mã nguồn]Khái niệm "Quê cha" (Fatherland) dùng để chỉ định cho một quốc gia dân tộc gắn liền với cội nguồn giống nòi của các bậc "cha ông", "bậc tiền nhân, tiền bối", hoặc hệ thống các thế hệ tổ tiên có mối liên hệ huyết thống trực tiếp. Cụm từ này xét dưới góc độ ngôn ngữ học đồng thời cũng có thừa khả năng chỉ định vạn năng cho chính quốc gia nơi cá nhân mang quốc tịch, vùng đất thành bình nơi con người trực tiếp lớn lên sinh hoạt, quốc gia nơi những bậc tổ tiên họ đã khai phá cư trú sinh tồn liên tục suốt hàng dải thế kỷ, thường kỳ hằng năm, hoặc là đất nước mà một tâm lý nhân sinh luôn kiên định hướng về như mái ấm gia đình của mình.[4] Khái niệm này hoàn toàn sở hữu tư cách được giới xã hội học rà soát nhìn nhận như một hình thái lý luận thuộc phạm trù chủ nghĩa dân tộc dùng để chủ động kích bẩy, khơi gợi nên những luồng xúc cảm thiêng liêng thiết lập mối liên hệ mật thiết với sợi dây tình cảm gia đình ruột thịt, kết nối liên thông chúng một cách khoa học với bản sắc căn tính dân tộc và tinh thần yêu nước nồng nàn. Công cụ ngôn từ đặc thù này hoàn toàn có thể được đặt lên bàn cân đối sánh trực diện với hai khái niệm Đất mẹ (motherland) và Quê hương (homeland), và thực tiễn ngôn ngữ học bóc trần một thực thái rằng một số quốc gia bộc lộ xu hướng lạm dụng song hành đan xen nhiều hơn một thuật ngữ chuyên ngành này bên trong cấu trúc từ vựng của mình.[5]
Tổ quốc
[sửa | sửa mã nguồn]Thuật ngữ trong nền văn minh Tiếng Hy Lạp cổ đại thì cụm từ patris (quê cha, tổ quốc) đã chèo lái chèo lái dẫn dắt sự hoài thai của cụm từ từ patrios (mang ngữ nghĩa văn chương hiển ngôn là thuộc về cha ông chúng ta) và từ đó tiến tới kích bẩy sự xuất hiện của danh từ tiếng Latinh có tên patriota, đan xen với danh từ tiếng Pháp cổ là patriote (biểu thị cho khái niệm đồng bào); và đây chính là mốc khởi thủy từ gốc rễ đặt nền móng cho sự ra đời của từ tiếng Anh lòng yêu nước nồng nàn. Toàn thể cộng đồng cư dân La Mã luôn nhất quán nhìn nhận vùng đất Ý chính là quê cha đất tổ tối cao (patria hoặc terrarum parens) cai quản toàn bộ kết cấu của Đế quốc La Mã, bộc lộ bản sắc căn tính phân hóa biệt lập hoàn toàn so với phân khối không gian địa lý thuộc hệ thống các tỉnh trưởng thuộc địa hải ngoại.[6][7] Bên trong cấu trúc ngôn ngữ tiếng Đức, thuật ngữ Vaterland xuất hiện sinh động với mật độ dày đặc đan xen bên trong cấu trúc của hàng loạt các bài ca yêu nước nồng nàn và hệ thống các tác phẩm thơ ca học thuật, tiêu biểu như công trình ca từ xuất chúng của nhạc sĩ Hoffmann mang tựa đề Lied der Deutschen (Bài ca của người Đức).[8][9] Nhưng đã bị lạm dụng chôn vùi bên trong cuốn sách luận thuyết bạo lực Mein Kampf (Cuộc đấu tranh của tôi),[10] và bị khắc lên tấm biển nội quy chốt giữ ngay tại chỉ giới cổng vào của một trại tập trung phát xít Đức, đi kèm phần chữ ký phê duyệt hành chính của trùm phát xít Adolf Hitler.[11] Trong tiếng Nga thì từ Otechestvo (отечество) hoặc danh từ Otchizna (отчизна) — cả hai đơn từ này xét dưới góc độ từ nguyên học đều bộc lộ bản sắc căn tính trích xuất từ gốc rễ chữ отец (có ý nghĩa văn chương hiển ngôn là người cha), còn trong tiếng Ba Lan thì danh từ ojczyzna dùng trong ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày hằng ngày bộc lộ lớp nghĩa văn chương thô chính là "quê cha đất tổ", đan xen với cụm từ ziema ojców với nghĩa dịch văn chương thô là "vùng đất thanh sạch của cha ông chúng ta"[12] đôi khi biến thể cấu thành nên biểu thức ca từ ziemia ojców naszych[13]
Nội địa
[sửa | sửa mã nguồn]Ở Mỹ, cụm từ Nội địa xét dưới góc độ ngôn ngữ học thực chất hoàn toàn vắng bóng, không phải là một đơn từ mang bản sắc căn tính Mỹ, đây hoàn toàn không phải là thứ ngôn từ mà toàn thể từng lạm dụng trong quá khứ hay mở miệng nói ra trong đời sống giao tiếp thường nhật hằng ngày ngày nay.[14] Tình trạng kể từ sau cột mốc cuộc bầu cử tổng thống năm 2020 song hành cùng chiến dịch dấn thân bước vào nhiệm kỳ thứ hai của ông Donald Trump, dòng chảy chính trị nước Mỹ đang chứng kiến một sự bùng nổ gia tăng mật độ lạm dụng phi mã của thuật ngữ "Homeland" trên các diễn đàn nghị sự quốc gia, khi mà chính bản thân Bộ An ninh Nội địa kết hợp đồng bộ với Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) đã liên tục tung ra mạng lưới các chiến dịch truyền thông cài cắm dải khẩu hiệu đanh thép "Bảo vệ Nội địa" (Defend the Homeland), chủ ý lôi cuốn kích bẩy một phản ứng phòng thủ mang tính chất lòng yêu nước nồng nàn che chở cho nước Mỹ bằng việc ra sức chiêu mộ đội ngũ "những công dân Mỹ dũng cảm, yêu nước" đứng vào hàng ngũ dấn thân tham gia các lực lượng vũ trang thực thi pháp luật của ICE, nhằm mục đích tối cao là triển khai các chiến dịch lùng sục truy quét, trục xuất cưỡng chế tống khứ ra khỏi ranh giới bờ cõi nước Mỹ toàn bộ nhóm đối tượng bị dán nhãn là "những kẻ giết người, hiếp dâm, khủng bố, và ấu dâm trẻ em" — những phần tử vốn chịu sự lập hồ sơ quản lý dưới danh mục phân loại hành chính là "những kẻ ngoại quốc nhập cư lậu phạm tội hình sự nghiêm trọng".[15]
Tại bối cảnh đất nước Úc, thuật ngữ này hướng trực diện tới việc phản ánh hệ thống các phân khu định cư có quy mô diện tích nhỏ gọn của cộng đồng Thổ dân bản địa Úc (được ngôn ngữ địa phương chỉ định gọi bằng danh xưng các "trạm tiền tiêu hải ngoại" - outstations), tọa độ nơi hệ thống các cá nhân thiết lập quan hệ mạng lưới họ hàng thân thích chặt chẽ cùng nhau chia sẻ chung quyền sử dụng mảnh đất sở hữu các tầm quan trọng chiến lược gắn liền với dòng chảy bản sắc văn hóa thiêng liêng của bộ tộc. Cần lưu ý một khía cạnh thực địa rằng không phải 100% mọi vùng quê hương đặc thù này đều ở trạng thái được người dân chiếm lĩnh cư trú sinh hoạt mang tính chất lâu dài vĩnh viễn quanh năm, xuất phát từ các rào cản thách thức đến từ các biến động thời tiết thời vụ tự nhiên hoặc liên quan đến các nghĩa vụ thực hành nghi lễ văn hóa bản địa của bộ tộc.[16] Tuy nhiên, kéo dài kể từ cột mốc niên đại các năm thập niên 2000 trở lại đây, phần lớn các nguồn ngân sách phân bổ tài chính tài trợ vĩ mô đan xen với các chính sách phụng sự cứu trợ hành chính nâng đỡ cho các phân khu này đều đã bị chính phủ liên bang đóng thông số cắt giảm và quyết liệt rút vốn từ bỏ vẹn toàn.[17]
Cố hương
[sửa | sửa mã nguồn]
Ngôn ngữ tiếng Nhật sùng bái cụm từ cố hương (故郷) hay cố quốc, đọc là kokyō hoặc biến thể phát âm thuần Nhật mang đậm phong vị ca từ truyền thống là furusato, kết hợp đan xen với danh từ hương thổ (郷土) - đọc là kyōdo. Hệ thống các ngôn ngữ tiếng Trung nhất quán dụng danh từ cố hương ( 故鄉/故乡/gùxiāng) hoặc dùng đơn từ gia hương (家鄉/家乡/jiāxiāng, ví dụ như Minh Hương. Trong ngôn ngữ tiếng Hàn sùng bái lạm dụng danh từ cố hương (고향) - đọc theo phiên âm Latinh là gohyang, mã hóa cấu trúc ký tự Hanja di sản tương thích nhất quán (故鄕). Khối cư dân Người Trung Quốc (bao hàm cả hai phân khu lãnh thổ Trung Quốc đại lục và các đặc khu hải ngoại) từ góc độ văn hóa từ lâu đã thể chế hóa lạm dụng danh từ tổ quốc (祖國/祖国) cùng dải biểu thức biểu biểu tượng mang tính chất tôn kính là tổ quốc mẫu thân (祖國母親/祖国母亲). Quần chúng người Nhật Bản vinh danh sử dụng danh từ tổ quốc (祖国) - đọc là sokoku nghĩa dịch văn chương chính là vùng đất của các bậc tổ tiên.Cộng đồng người dân Triều Tiên và Hàn Quốc nhất quán sử dụng danh từ tổ quốc (조국) - đọc là joguk, cấu thành từ hệ chữ Hanja là 祖國 mang ý nghĩa văn chương chỉ vùng của tổ tiên giống nòi.
Ngôn ngữ tiếng Việt từ góc độ văn hóa và thực hành văn chương học thuật từ lâu đã thể chế hóa, vinh danh sử dụng trang trọng danh từ Hán-Việt cổ kính mang đậm phong vị hoài niệm sâu sắc là từ Cố hương (mã hóa cấu trúc chữ Nôm di sản là: 故鄕 — mang ý nghĩa văn chương thiêng liêng bộc lộ nỗi nhớ da diết hướng về mảnh đất quê quán, mái nhà xưa cũ nơi chôn nhau cắt rốn của đấng bậc sinh thành). Quê hương và Tổ quốc tại Việt Nam (Quê cha đất tổ, quê Mẹ, quê mình) là sợi dây gắn kết thiêng liêng, hòa quyện nhuần nhuyễn giữa tình yêu mảnh đất chôn nhau cắt rốn, lòng biết ơn các thế hệ tổ tiên dòng dõi tiền nhân đan xen với ý thức trách nhiệm trong công cuộc xây dựng và bảo tệ tổ quốc bảo vệ vẹn toàn bờ cõi, độc lập chủ quyền của đất nước, trở thành cội nguồn sức mạnh nội sinh đưa quốc gia vượt qua bão táp lịch sử. Ngày 9 tháng 11 năm 1946, Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức thông qua Hiến pháp năm 1946 lần đầu tiên dành riêng những trang trang trọng nhất để khẳng định chủ quyền tối cao của quốc gia, tuyên chuẩn rõ rệt nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân Việt Nam là "phải bảo vệ Tổ quốc", đồng thời bảo đảm các quyền tự do dân sự hợp pháp để nhân dân làm chủ vận mệnh mảnh đất quê hương mình. Ngày nay, tiếng gọi quê hương đóng vai trò động lực kinh tế vĩ mô quan trọng kết nối liên thông khối đại đoàn kết dân tộc toàn diện, đặc biệt là thông qua các chính sách hành chính che chở dành cho bộ phận kiều bào người Việt Nam định cư ở nước ngoài (cộng đồng kiều bào Việt kiều).
Thơ ca
[sửa | sửa mã nguồn]Trong thơ ca Việt Nam có nhiều bài thơ về đề tài quê hương đất nước với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau và gắn liền với tình cảm, tình yêu quê hương đất nước da diết, sâu rắng:
- "Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường/Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:Ai bảo chăn trâu là khổ?" (Quê hương — Giang Nam)
- "Quê hương là chùm khế ngọt, cho con trèo hái mỗi ngày" (Quê hương - Đỗ Trung Quân
- "Từ độ mang gươm đi mở cõi/Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long"
- "Anh đi anh nhớ quê nhà/Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương/Nhớ ai dãi nắng dầm sương/Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao"
- Bản giao hưởng mang tên Quê hương là bản giao hưởng đầu tiên của Việt Nam, do nhạc sĩ Hoàng Việt sáng tác tại Bungaria.
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "Definition of Homeland". merriam-webster.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2018.
- ↑ Pitroipa, Abdel (ngày 14 tháng 7 năm 2010). "Ces tirailleurs sénégalais qui ont combattu pour la France". L'Express (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2019.
- ↑ Quyển sách tuy xưa nhưng mới hoài trong tôi (Báo Sài Gòn Giải phóng)
- ↑ "Definition of FATHERLAND". merriam-webster.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2019.
- ↑ James, Caroline (tháng 5 năm 2015). "Identity Crisis: Motherland or Fatherland?". Oxford Dictionaries. Oxford University Press. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2019.
- ↑ Bloomsbury Publishing (ngày 20 tháng 11 năm 2013). Historiae Mundi: Studies in Universal History. A&C Black. tr. 97. ISBN 9781472519801.
- ↑ Anthon, Charles (1867). Eneid of Virgil.
- ↑ Wierzbicka, Anna (ngày 21 tháng 7 năm 1997). Understanding Cultures Through Their Key Words : English, Russian, Polish, German, and Japanese. Oxford University Press. tr. 173–175. ISBN 978-0-19-535849-0.
- ↑ Stargardt, Nicholas (ngày 18 tháng 12 năm 2007). Witnesses of War: Children's Lives Under the Nazis. Knopf Doubleday Publishing Group. tr. 328. ISBN 9780307430304.
- ↑ Wilensky, Gabriel (2010). Six Million Crucifixions. QWERTY Publishers. ISBN 9780984334643.
What we have to fight for is the freedom and independence of the fatherland, so that our people may be enabled to fulfill the mission assigned to it by the creator
- ↑ "Nazi Germany reveals official pictures of its concentration camps". Life. Quyển 7 số 8. Time Inc. ngày 21 tháng 8 năm 1939. tr. 22. ISSN 0024-3019.
There is a road to freedom. Its milestones are Obedience, Endeavor, Honesty, Order, Cleanliness, Sobriety, Truthfulness, Sacrifice, and love of the Fatherland.
- ↑ "Ziemia Ojców". ngày 16 tháng 4 năm 2012.
- ↑ "Ziemia Ojców Naszych". Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2019.
- ↑ Noonan, Peggy (ngày 14 tháng 6 năm 2002). "Rudy's Duty. Plus: Homeland ain't no American word". The Wall Street Journal. Lưu trữ bản gốc 5 tháng 9 2012. Truy cập 27 tháng 1 2026.
- ↑ "DHS Launches 'Defend the Homeland' Nationwide to Recruit Patriots to Join ICE Law Enforcement And Remove Worst of the Worst from U.S. | Homeland Security". www.dhs.gov (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Horton, David, biên tập (1994). The Encyclopaedia of Aboriginal Australia. Aboriginal Studies Press.
- ↑ Peterson, Nicolas; Myers, Fred, biên tập (tháng 1 năm 2016). Experiments in self-determination: Histories of the outstation movement in Australia [blurb]. Monographs in Anthropology. ANU Press. doi:10.22459/ESD.01.2016. ISBN 9781925022902. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- Landscape and Memory by Simon Schama (Random House, 1995)
- Nationalism and Ethnicity – A Theoretical Overview