Quýt Dekopon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
{{{name}}}
Dekopon

Dekopon (デコポン?) là một loại quýt không hạt và ngọt.

Nó là giống được lai giữa Kiyomi và ponkan (Nakano no.3), được phát triển ở Nhật Bản vào năm 1972.[1][2]

Ban đầu là một tên thương hiệu, 'Dekopon' đã trở thành một nhãn hiệu chung và nó được sử dụng để chỉ tất cả các nhãn hiệu của trái cây; tên chung là shiranuhi or shiranui (不知火 shiranuhi or shiranui?).[1][2] Dekopon đặc biệt do hương vị ngọt ngào, kích thước lớn và vết sưng nhô lớn trên đỉnh của quả.

Tên[sửa | sửa mã nguồn]

Tên rất có thể là một từ ghép giữa DEKO từ (凸,デコ; nghĩa lồi) như là một tài liệu tham khảo để vết sưng của nó, và pon trong ponkan (ポンカン; một trong những loại trái cây mà nó có nguồn gốc từ) để tạo 'dekopon' (デ コ ポ).[3]

Có rất nhiều tên thị trường cho 'dekopon' trong thời gian 'dekopon' là nhãn hiệu của sản phẩm từ Kumamoto. Ví dụ, himepon là tên thị trường của các loại trái cây có nguồn gốc từ tỉnh Ehime. Những cây được trồng ở quận Hiroshima được bán dưới dạng hiropon. Tuy nhiên, sau một thỏa thuận, theo đó bất kỳ ai cũng có thể sử dụng tên 'dekopon' nếu họ trả phí và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng nhất định, tên "dekopon" được sử dụng cho các sản phẩm từ bất kỳ đâu tại Nhật Bản.[3]

'Dekopon' không có số đăng ký giống nông nghiệp (Nōrin Bangō) [4] vì vết sưng của nó, tại thời điểm phát triển của nó được coi là khó coi và không làm giảm độ chua trong quả.[5]

Canh tác[sửa | sửa mã nguồn]

Trái cây thường được trồng trong các nhà kính lớn để giữ chúng ở nhiệt độ ổn định, và được thu hoạch từ tháng 12 đến tháng 2 (mùa đông ở Nhật Bản), trong khi trong trường hợp nếu được trồng trong vườn, chúng được thu hoạch từ tháng 3 đến tháng 4.[6] Sau khi thu hoạch, dekopon thường được để trong khoảng thời gian 20 phút 40 để nồng độ axit citric trong trái cây giảm đi trong khi lượng đường tăng lên, tạo nên hương vị hấp dẫn hơn cho thị trường. Chỉ những sản phẩm có mức đường trên 13 ° Bx và axit citric dưới 1,0% mới có thể được bán với tên dekopon.[7]

2006 Khu vực trồng cây có múi ở Nhật Bản. (ha) [8][9]
Không. Đa dạng Diện tích canh tác
1 Mikan 46.001 (64,3%)
2 IIDIA 4.677 (6,5%)
3 Dekopon 3.068 (4,3%)
4 Natsumik 2.800 (3,9%)
5 Ponkan 2.260 (3,2%)
Toàn bộ 71,515 (100%)

Ngoài Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Brazil, 'dekopon' được bán trên thị trường dưới tên thương hiệu Kinsei bắt nguồn từ tiếng Nhật có nghĩa là Sao Kim.[10] Nông dân Brazil đã thành công trong việc thích ứng với sự đa dạng của khí hậu nhiệt đới đến ôn đới ở vùng cao nguyên của bang São Paulo. Công việc được thực hiện bởi Unkichi Taniwaki, một nông dân gốc Nhật Bản.[10] Kinsei dễ dàng được thu hoạch từ tháng Năm đến tháng Chín. Vào mùa cao điểm cho kinsei, mỗi quả có giá khoảng 0,5 USD tại chợ đường phố và siêu thị Brazil.

Ở Hàn Quốc và Azerbaijan [11] 'dekopon' được gọi là hallabong () được đặt theo tên của Hallasan, ngọn núi nằm ở Jeju-do, nơi nó được trồng chủ yếu.

Cây quýt chồi đã được nhập khẩu vào Hoa Kỳ vào năm 1998 bởi một người trồng cây có múi ở California, Brad Stark Jr.[12] Dekopon được phát hành dưới dạng sản phẩm thương mại tại Mỹ dưới tên "Sumo Citrus (R)" vào đầu năm 2011 [13]

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

'Dekopon' đã trở nên phổ biến ở Nhật Bản đến nỗi thương hiệu kẹo nhai khổng lồ Hi-Chew (イ チ ュ) đã phát hành hương vị 'dekopon' phiên bản giới hạn.[14]

Để kỷ niệm 15 năm chuyến hàng đầu tiên của 'dekopon', Hiệp hội Hợp tác xã trồng cây ăn quả Nhật Bản đã chỉ định ngày 1 tháng 3 là ngày "Ngày Dekopon" vào năm 2006.[15]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải phẫu trái cây

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Shiranuhi (不知火)” (bằng tiếng Japanese). National Institute of Fruit Tree Science. 
  2. ^ a ă Matsumoto, Ryoji (2001). 'Shiranuhi', A late-maturing Citrus Cultivar” (PDF). Bulletin of National Institute of Fruit Tree Science (bằng tiếng Japanese) (National Institute of Fruit Tree Science) 35: 115–120. 
  3. ^ a ă “Dekopon”. The Japan Times. 22 tháng 1 năm 2009. 
  4. ^ “Plant Variety Protection and Seed Act: Article 18 (Variety Registration)”. Ministry of Justice. 
  5. ^ “NIFTS NEWS No.18” (PDF) (bằng tiếng Japanese). National Institute of Fruit Tree Science. 2007. tr. 2. 
  6. ^ “Dekopon” (bằng tiếng Japanese). Maruka-ishikawa. 
  7. ^ “Dekopon” (bằng tiếng Japanese). Zen-Noh (National Federation of Agricultural Cooperative Associations). Tháng 1 năm 2009. tr. 2–5. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2009. 
  8. ^ “2006 The area under cultivation of Mikan” (bằng tiếng Japanese). National Institute of Fruit Tree Science. 
  9. ^ “2006 The area under cultivation of Citrus (except for Mikan)” (bằng tiếng Japanese). National Institute of Fruit Tree Science. 
  10. ^ a ă “Launching Ceremony Of Tangor Kinsei” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Instituto de Pesquisas Técnica e Difusões Agropecuárias da JATAK. 24 tháng 10 năm 2007. 
  11. ^ İlham liyev Lənkəranda trong thời gian Gilan
  12. ^ “The History of Griffith Farms”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2015. 
  13. ^ Karp, David (17 tháng 2 năm 2011). “The Dekopon arrives in California”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2015. I first heard about the Dekopon in December 1998 from Brad Stark Jr. 
  14. ^ 『ハイチュウ<デコポン>』 新発売! [Hi-Chew<Dekopon> Now on sale!] (bằng tiếng Japanese). Morinaga & Company. Tháng 10 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2007. 
  15. ^ “Dekopon day” (bằng tiếng Japanese). Japan Fruit Growers Cooperative Association. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]