Quả tầm xuân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Tầm xuân từ Rosa rugosa (hoa hồng bãi biển)
Tầm xuân khoe hông đỏ rực.

Quả tầm xuân, còn được gọi là hoa hồng gaihoa hồng gan, là trái cây giả của cây hoa hồng. Nó thường có màu đỏ đến cam, nhưng có màu từ tím đậm đến đen ở một số loài. Hoa hồng hông bắt đầu hình thành sau khi thụ phấn thành công hoa vào mùa xuân hoặc đầu mùa hè, và chín vào cuối mùa hè đến mùa thu.

Nhân giống[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa hồng được nhân giống từ hông bằng cách loại bỏ những quả bể có chứa hạt từ hypanthium (lớp phủ bên ngoài) và gieo ngay bên dưới bề mặt đất. Các hạt giống có thể mất nhiều tháng để nảy mầm. Hầu hết các loài đòi hỏi phải làm lạnh (phân tầng), với một số loài như Rosa canina chỉ nảy mầm sau hai giai đoạn lạnh mùa đông đã xảy ra.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Mứt tầm xuân trên một cuộn bánh mì

Quả tầm xuân được sử dụng cho các loại trà thảo dược, mứt, thạch, xi-rô, súp tầm xuân, đồ uống, bánh nướng, bánh mì, rượu vangmứt cam. Chúng cũng có thể được ăn sống, giống như một quả mọng, nếu được chăm sóc để tránh những sợi lông bên trong quả.

Một vài loài hoa hồng đôi khi được trồng để làm giá trị trang trí từ hông của chúng, chẳng hạn như Rosa moyesii, có những quả lớn hình chai màu đỏ nổi bật.

Quả tầm xuân thường được sử dụng như một loại trà thảo dược, thường được pha trộn với cây dâm bụt và một loại dầu cũng được chiết xuất từ hạt. Chúng cũng có thể được sử dụng để làm mứt, thạch, mứt, và rượu vang tầm xuân. Súp tầm xuâm, "nyponsoppa", đặc biệt phổ biến ở Thụy Điển. Rhodomel, một loại mật ong, được thực hiện với hông hồng.

Quả tầm xuân có thể được sử dụng để làm pálinka, loại rượu trái cây truyền thống của Hungary phổ biến ở Hungary, Romania và các quốc gia khác có chung lịch sử Áo-Hung. Quả tầm xuân cũng là thành phần chính của cockta, nước giải khát quốc gia có hương vị trái cây của Slovenia.

Những sợi lông mịn được tìm thấy bên trong hông hoa hồng được sử dụng làm bột ngứa [1] Quả tầm xuân khô cũng được bán cho hàng thủ công nguyên thủy và mục đích để làm nước thơm trong gia đình. Hỗn hợp Inupiat tầm xuân với Ribes triste và cranberries highbush và đun sôi chúng để nấu thành món xi-rô.[2]

Chất dinh dưỡng và hóa chất thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Quả tầm xuân hoang dã đặc biệt giàu vitamin C, chứa 426   mg trên 100 g [3] hoặc 0,4% trọng lượng (w/w). Tuy nhiên, xét nghiệm RP-HPLC của quả tầm xuân tươi và một số sản phẩm thương mại đã tiết lộ một loạt hàm lượng axit L-ascorbic (vitamin C), dao động từ 0,03 đến 1,3%.[4]

Quả tầm xuân chứa các carotenoids beta-carotene, lutein, zeaxanthin và lycopene, đang được nghiên cứu cơ bản cho một loạt các vai trò sinh học tiềm năng.[5][6] Một phân tích tổng hợp các nghiên cứu ở người kiểm tra tiềm năng của chiết xuất quả tầm xuân để giảm đau viêm khớp kết luận có một tác động nhỏ đòi hỏi phải phân tích thêm về an toàn và hiệu quả trong các thử nghiệm lâm sàng.[7] Sử dụng hông hoa hồng không được coi là phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh thoái hóa khớp gối.[8]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Albert MR (1998). “Novelty shop "itching powder”. Australasian Journal of Dermatology 39 (3): 188–9. doi:10.1111/j.1440-0960.1998.tb01281.x. 
  2. ^ Jones, Anore, 1983, Nauriat Niginaqtuat = Plants That We Eat, Kotzebue, Alaska. Maniilaq Association Traditional Nutrition Program, page 105
  3. ^ “Rose Hips, wild (Northern Plains Indians) per 100 g”. US Department of Agriculture, National Nutrient Database, Standard Reference Release 28. 2016. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2018. 
  4. ^ Ziegler SJ (1986). “Fast and Selective Assay of l-Ascorbic Acid in Rose Hips by RP-HPLC Coupled with Electrochemical and/or Spectrophotometric Detection”. Planta Medica 52 (5): 383–7. PMID 17345347. doi:10.1055/s-2007-969192. 
  5. ^ Jacoby FC; Wokes F (1944). “Carotene and lycopene in rose hips and other fruit”. Biochem J 38 (3): 279–82. PMC 1258081. PMID 16747793. doi:10.1042/bj0380279. 
  6. ^ Horváth, G; Molnár, P; Radó-Turcsi, E; Deli, J; Kawase, M; Satoh, K; Tanaka, T; Tani, S; Sakagami, H (2012). “Carotenoid composition and in vitro pharmacological activity of rose hips” (PDF). Acta Biochimica Polonica 59 (1): 129–32. PMID 22428123. doi:10.18388/abp.2012_2187. 
  7. ^ Christensen, R; Bartels, E. M.; Altman, R. D.; Astrup, A; Bliddal, H (2008). “Does the hip powder of Rosa canina (rosehip) reduce pain in osteoarthritis patients?--a meta-analysis of randomized controlled trials”. Osteoarthritis and Cartilage 16 (9): 965–72. PMID 18407528. doi:10.1016/j.joca.2008.03.001. 
  8. ^ McAlindon, T. E.; Bannuru, R. R.; Sullivan, M. C.; Arden, N. K.; Berenbaum, F; Bierma-Zeinstra, S. M.; Hawker, G. A.; Henrotin, Y; Hunter, D. J. (2014). “OARSI guidelines for the non-surgical management of knee osteoarthritis”. Osteoarthritis and Cartilage 22 (3): 363–88. PMID 24462672. doi:10.1016/j.joca.2014.01.003. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phương tiện liên quan tới Rose hip tại Wikimedia Commons