Quản lý tài nguyên thiên nhiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Quản lý tài nguyên thiên nhiên là việc quản lý các nguồn lực tự nhiên như đất,nước, thực vật, động vật và tập trung chủ yếu về các tác động đến chất lượng cuộc sống cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.

Quản lý tài nguyên thiên nhiên đưa ra các kế hoạch, các phương hướng chiến lược cụ thể, các biện pháp quy hoạch và cùng với đó là các chế tài phù hợp, nghiêm khắc nhằm giúp cho công việc khai thác và sử dụng và tái tạo tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, đúng đắn để mang lại lợi ích tối ưu nhất cho đất nước và toàn cầu, song song đó phải hạn chế tối đa mức độ ô nhiễm tới môi trường trong việc sử dụng tài nguyên.

Quản lý tài nguyên thiên nhiên còn tập trung đặc biệt vào sự hiểu biết các tài nguyên mang tính khoa học và kỹ thuật, sinh thái học và khả năng hỗ trợ sự sống của các tài nguyên đó.[1].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nhấn mạnh về mặt bền vững có thể lần theo các nỗ lực trước đó để hiểu thêm về sinh thái tự nhiên Bắc Mỹ vào cuối thế kỷ thứ 19 và các phong trào vận động bảo tồn cùng thời gian này.[2][3]

Vào năm 2005, chính phủ New South Wales thiết lập một Tiêu chuẩn của việc Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên chất lượng,[4] nhằm nâng cấp tính bền vững trong thực tế dựa trên mục tiêu quản lý thích ứng.

Ở Hoa Kỳ, các khu vực quản lý tài nguyên thiên nhiên là quản lý cuộc sống hoang dã thường có liên quan đến du lịch sinh thái và quản lý đồng cỏ. Ở Úc, chia sẻ nước như các lưu vực cũng là các lĩnh vực quản lý chính. Ở Việt Nam, việc quản lý tài nguyên khoáng sản, tài nguyên biển được chú trọng phát triển với mục tiêu năm 2050 Việt Nam là quốc gia khai thác, sử dụng tài nguyên hợp lý, hiệu quả và bền vững.[5]

Hiện trạng tài nguyên thiên nhiên.[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện trạng tài nguyên thiên nhiên trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang diễn ra theo chiều hướng tiêu cực.[6] Nguồn tài nguyên thiên nhiên của chúng ta hiện nay đang bị thu hẹp cả về số lượng và chất lượng. Nguyên nhân chính dẫn tới thực trạng hiện này đó chính là do hoạt động khai thác một các bừa bãi, cùng với việc sử dụng tài nguyên lãng phí, và do công tác quản lý yếu kém của các cấp chính quyền địa phương.

Cụ thể như là tài nguyên rừng đang bị thu hẹp theo từng ngày, diện tích rừng tự nhiên che phủ giảm dần do khai thác trái phép, đất rừng bị chuyển qua đất nông công nghiệp, các loài sinh vật quý hiếm thì đứng trước nguy cơ tuyệt chủng rất cao (Theo thống kê thì ở Việt Nam có khoảng 100 loài thực vật và gần 100 loài động vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng). Tình trạng ô nhiễm nguồn nước là vấn đề nghiêm trọng nhất đối với tài nguyên nước của chúng ta và t—heo dự báo đến năm 2025, 2/3 người trên thế giới có thể sẽ phải sống trong những vùng thiếu nước trầm trọng. Tài nguyên khoáng sản đang dần cạn kiệt sau việc khai thác quá mức và sử dụng lãng phí. Tài nguyên đất thì cũng đang gặp rất nhiều khó khăn như đất nông nghiệp đang bị chuyển dần qua đất phục vụ cho công nghiệp và dịch vụ, đất bị nhiễm mặn, bị sa mạc hóa ngày một tăng.[7]

Công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên trên thế giới và Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

- Công tác quản lý tài nguyên nước[8]: Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người. Vai trò của nước với sự sống trên trái đất là vô cùng quan trọng. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải làm thế nào để bảo vệ, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên nước.Hiện nay công tác quản lý tài nguyên quý giá này còn rất nhiều bất cập từ khai thác cho đến sử dụng. Cụ thể việc cấp phép khai thác một cách bừa bãi cùng với việc khai thác quá mức đã làm hạ thấm mực nước ngầm đáng kể. Kéo theo nước ngầm bị ô nhiễm. Trên thế giới thì nhiều quốc gia đang phải đối mặt với việc thiếu nước sạch để sử dụng do việc quản lý không tốt[9]. Ở Việt Nam tình trạng thiếu nước sạch cũng đang được báo động rất mạnh mẽ

-Công tác quản lý tài nguyên rừng: Những năm gần đây, tình trạng phá rừng xảy ra ngày một nhiều với các hành vi, thủ đoạn tinh vi làm nghèo tài nguyên rừng. Việc bảo vệ rừng khó khăn, cơ chế chính sách trong quản lý, khai thác còn nhiều bất cập. Nâng cao chất lượng rừng, ngăn chặn nạn phá rừng là việc làm cấp bách hiện nay.[10]. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải tăng cường công tác quản lý tốt hơn để bảo vệ nguồn tài nguyên này. Phải ngăn chặn các hoạt động phá rừng và khắc phục các sự cố đã xảy ra. Phải nâng mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm làm ảnh hưởng xấu tới tài nguyên rừng.

- Công tác bảo vệ nguồn tài nguyên đất: Hiện nay tài nguyên đất đang bị chuyển đổi cơ cấu rất mạnh mẽ, đất nông nghiệp đang ngày một bị chuyển qua phục vụ cho công nghiệp và xây dựng. Đất bị nhiễm phèn, bị nhiễm mặn, bị sa mạc hóa ngày càng tăng thêm. Quản lý nhà nước về đất đai là nhu cầu khách quan là công cụ bảo vệ và điều tiết các lợi ích gắn liền với đất đai, và quan trọng nhất là bảo vệ chế độ sở hữu về đất đai. Nhiệm vụ này cần được đổi mới một cách cụ thể và phù hợp để đáp ứng các yêu cầu quản lý và tương xứng với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước trong từng giai đoạn[11].

Các hình thức sở hữu tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Các tiếp cận quản lý tài nguyên thiên nhiên có thể phân loại theo dạng và quyền sở hữu của các bên tham gia vào việc quản lý tài nguyên:

  • Tài sản nhà nước là các tài sản, tài nguyên thiên nhiên thuộc về nhà nước, quốc gia hoặc nhóm đại diện dược nhà nước cho phép khai thác quản lý như rừng quốc gia, cơ sở quân đội.
  • Tài sản cá nhân thuộc về các cá nhân
  • Tài sản chung là các tài nguyên thiên nhiên thuộc về công cộng như tài nguyên nguồn nước.
  • Tài sản không có tính bất động sản
  • Tài sản lai [12]

Tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên thiên nhiên là một dạng của cải đặc biệt, bao gồm các dạng năng lượng vật chất,thông tin mà con người có thể sử dụng để phục vụ cho sự tồn tại và phát triển cuộc sống loài người. Có 3 loại tài nguyên thiên nhiên: tài nguyên tái tạo, tài nguyên không tái tạo và tài nguyên vĩnh cửu.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Massey University: Bachelor of Applied Science (Natural Resource Management)
  2. ^ Berkeley University of California: Geography: Geog 175: Topics in the History of Natural Resource Management: Spring 2006: Rangelands
  3. ^ San Francisco State University: Department of Geography: GEOG 657/ENVS 657: Natural Resource Management: Biotic Resources: Natural Resource Management and Environmental History
  4. ^ NSW Government 2005, Standard for Quality Natural Resource Management, NSW Natural Resources Commission, Sydney
  5. ^ Quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên hợp lý, bền vững, VietnamPlus.vn
  6. ^ “Đồ án Tài nguyên thiên nhiên”. Truy cập 13 tháng 2 năm 2015. 
  7. ^ “Tiểu luận “Tài nguyên thiên nhiên- hiện trạng và giải pháp””. Truy cập 13 tháng 2 năm 2015. 
  8. ^ “Viện Kinh tế và Quản lý Thủy lợi”. Truy cập 13 tháng 2 năm 2015. 
  9. ^ “Báo động về nguồn nước toàn cầu”. Truy cập 13 tháng 2 năm 2015. 
  10. ^ “Error 404”. Truy cập 13 tháng 2 năm 2015. 
  11. ^ “Công tác quản lý đất đai”. Truy cập 13 tháng 2 năm 2015. 
  12. ^ Native Vegetation Act 2003

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]