Quảng Ninh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quảng Ninh
Tỉnh
Ha Long bay The Kissing Rocks.jpg
Hòn Gà Chọi tại vịnh Hạ Long
Biệt danh Đất Mỏ
Địa lý
Tọa độ: 21°15′04″B 107°11′37″Đ / 21,250982°B 107,193604°Đ / 21.250982; 107.193604Tọa độ: 21°15′04″B 107°11′37″Đ / 21,250982°B 107,193604°Đ / 21.250982; 107.193604
Diện tích 6.102,3 km²
Dân số (2015)  
 Tổng cộng 1.224.600 người
 Mật độ 199 người/km²
Dân tộc Việt, Tày, Dao, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa
Vị trí tỉnh Quảng Ninh trên Bản đồ Việt Nam
Quang Ninh in Vietnam.svg
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Vùng Đông bắc
Tỉnh lỵ Thành phố Hạ Long
Thành lập 1963
Chính quyền  
 Chủ tịch UBND Nguyễn Đức Long
 Chủ tịch HĐND Nguyễn Văn Đọc
 Chủ tịch UBMTTQ Nguyễn Chí Thăng
 Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Đọc
 Trụ sở UBND 219 Nguyễn Văn Cừ, phường Hồng Hà, Tp.Hạ Long[1][2].
Phân chia hành chính 4 thành phố, 2 thị xã, 8 huyện
Mã hành chính VN-13
Mã bưu chính 20xxxx
Mã điện thoại 023
Biển số xe 14
Website www.quangninh.gov.vn

Quảng Ninh là tỉnh ven biển, biên giới thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Quảng Ninh được ví như một Việt Nam thu nhỏ, vì có cả biển, đảo, đồng bằng, trung du, đồi núi, biên giới. Trong quy hoạch phát triển kinh tế, Quảng Ninh vừa thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía bắc vừa thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ. Đây là tỉnh khai thác than đá chính của Việt Nam và có vịnh Hạ Long là di sản, kỳ quan thiên nhiên thế giới.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh nằm ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có dáng một con cá sấu nằm chếch theo hướng đông bắc - tây nam. Phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu Vịnh Bắc bộ, phía tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp. Toạ độ địa lý khoảng 106o26' đến 108o31' kinh độ đông và từ 20o40' đến 21o40' vĩ độ bắc. Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 102 km. Bề dọc từ bắc xuống nam khoảng 195 km[3]. Phía đông bắc của tỉnh giáp với Trung Quốc, phía nam giáp vịnh Bắc Bộ, phía tây nam giáp tỉnh Hải Dươngthành phố Hải Phòng, đồng thời phía tây bắc giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc GiangHải Dương[4].

Quảng Ninh là một trong 25 tỉnh, thành phố có biên giới, tuy nhiên lại là tỉnh duy nhất có đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc, với đường biên giới trên bộ dài 118,825 km và đường phân định Vịnh Bắc Bộ trên biển dài trên 191 km. Mặc khác, Quảng Ninh là một trong 28 tỉnh, thành có biển, với đường bờ biển dài 250 km, trong đó có 40.000 hecta bãi triều và trên 20.000 hecta eo vịnh, có 2/12 huyện đảo của cả nước[5].

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Vịnh Hạ Long - với gần 2000 hòn đảo

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh là tỉnh miền núi, trung du nằm ở vùng duyên hải, với hơn 80% đất đai là đồi núi. Trong đó, có hơn hai nghìn hòn đảo núi đá vôi nổi trên mặt biển, phần lớn chưa được đặt tên. Địa hình của tỉnh đa dạng có thể chia thành 3 vùng[6] gồm có Vùng núi, Vùng trung du và đồng bằng ven biển, và Vùng biển và hải đảo[7].

Vùng núi chia làm hai miền: Vùng núi miền Đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái. Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, hướng chủ đạo là đông bắc - tây nam. Có hai dãy núi chính: dãy Quảng Nam Châu (1.507 m) và Cao Xiêm (1.330 m) chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, dãy Ngàn Chi (1.166 m) ở phía bắc huyện Tiên Yên. Vùng núi miền tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía bắc thành phố Uông Bí và thấp dần xuống ở phía bắc thị xã Đông Triều. Vùng núi này là những dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất Hoành Bồ.[8] Cánh cung Đông Triều chạy theo hướng tây - đông ở phía nam và hướng đông bắc - tây nam ở phía bắc, được coi là xương sống của lãnh thổ Quảng Ninh, có vai trò quan trọng trong việc hình thành các yếu tố tự nhiên ở hai sườn bắc - nam.

Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoáxâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển. Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Quảng Yên, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái. ở các cửa sông, các vùng bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp. Đó là vùng nam Uông Bí, nam Quảng Yên (đảo Hà Nam), đông Quảng Yên, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái. Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp và giao thông nên đang là những vùng dân cư trù phú của Quảng Ninh.[8]

Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo. Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp và diện tích các đảo chiếm 11,5% diện tích đất tự nhiên[9]. Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ. Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô. Trên vịnh Hạ LongBái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú. Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn những bãi cát trắng táp lên từ sóng biển. Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu cho công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng...).[8]

Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m. Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rặng san hô rất đa dạng[7]. Các dòng chảy hiện nay nối với các lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờ biển khúc khuỷu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng cảng biển và giao thông đường thuỷ rất lớn.[8]

Tài nguyên đất[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh có quỹ đất dồi dào (611.081,3 ha). Trong đó: 10% là đất nông nghiệp, đất có rừng chiếm 38%, 43,8% là diện tích chưa sử dụng tập trung ở vùng miền núi và ven biển, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở.[10] Với ưu thế của tỉnh miền núi, ven biển, khí hậu ẩm rất thuận lợi cho quá trình sinh trưởng phát triển các loài cây lấy gỗ, lấy nhựa như thông nhựa, thông mã vĩ, keo, bạch đàn... Đặc biệt, với đặc thù điều kiện lập địa trên diện tích đất đồi núi của tỉnh rất thích hợp với các loài cây gỗ quý, đặc sản, cây dược liệu, các loài cây mang tính bản địa.  [11] Quảng Ninh có nhiều loại đất. Chiếm diện tích lớn nhất là đất feralit vàng đỏ và đất feralit đồng cỏ thứ sinh phát triển ở địa hình đồi núi thấp.

  • Đất feralit vàng đỏ có mùn trên núi: loại đất này thường phân bố ở vùng núi có độ cao trên 700m thuộc cánh cung Đông Triều, chiếm 7,8% diện tích tự nhiên. Trên các vùng núi cao độ ẩm khá lớn, nhiệt độ thấp, đá mẹ nghèo bazơ, quá trình phân giải hữu cơ yếu nên lớp lá rụng mục dày, tạo thành tầng mùn cao. Loại đất này khá tốt, đất có màu vàng đỏ.
  • Đất feralit vàng đỏ trên vùng đồi núi thấp (dưới 700m): loại đất này chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên của Quảng Ninh, phân bố ở hai sườn cánh cung Đông Triều với diện tích 0,44 triệu ha (chiếm 60,3% diện tích đất tự nhiên). Đất có khả năng giữ nước tốt do vậy đất có màu vàng khá điển hình. Tuy nghèo bazơ, chua nhưng không bị đá ong hoá, ở những nơi thực vật bị tàn phá chỉ còn là đồng cỏ, hình thành đất feralit đồng cỏ thứ sinh. Loại này phổ biến ở vùng đồi Hoành Bồ, phía tây Tiên Yên, huyện Bình Liêu, Hải Hà. Đất bị xói mòn, cần hạn chế khai thác bừa bãi, tăng cường chất hữu cơ và vôi cho đất.
  • Đất phù sa: bao gồm cả vùng phù sa cổ và phù sa mới, phân bố theo dọc quốc lộ 18 từ Đông Triều đến Móng Cái, là đoạn tiếp nối giữa vùng đất mặn ven biển với vùng đất đồi núi thấp, diện tích khoảng 40.105 ha (chiếm 6,6% diện tích đất tự nhiên) phân bố ở Tiên Yên, Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà. Đặc tính của loại đất này là thường chua, độ phì thấp. Vùng đất phù sa để trồng lúa tập trung ở Đông Triều, Quảng Yên, Hải Hà, Đầm Hà và lưu vực các sông suối, thung lũng thuộc Tiên Yên, Ba Chẽ. Tuy nhiên, với các loại đất này muốn sản xuất lương thực cần phải giải quyết vấn đề thuỷ lợi. Một số vùng đất thấp thường bị ngập úng, đất chua.
  • Đất mặn ven biển: phân bố dọc bờ biển và ven sông Đá Bạc, Bạch Đằng,... có diện tích khoảng 50.900 ha (chiếm 8,4% diện tích đất tự nhiên), đất thường mặn, chua, ngập úng do thuỷ triều. Một số vùng được khai thác để trồng cói, làm ruộng muối, nuôi thuỷ sản và trồng sú vẹt.
  • Đất cát và cồn cát ven biển: có diện tích 6.087 ha (chiếm 0,9% diện tích đất tự nhiên), phân bố ở ven biển, ven các đảo. Vùng quần đảo Vân Hải (Vân Đồn), đảo Vĩnh Thực (Móng Cái) có những bãi cát trắng dài hàng km hoặc dồn lại thành những cồn nhấp nhô liên tiếp. Giá trị chủ yếu là nguyên liệu cho ngành thuỷ tinh cao cấp. Loại đất này chỉ trồng phi lao chắn gió.
  • Đất vùng đồi núi đá vôi ở các đảo, quần đảo: có diện tích 46.627 ha (chiếm 7% diện tích đất tự nhiên). Trong lịch sử phát triển hình thành vịnh đảo, cấu tạo nham thạch của các đảo không đồng nhất, có nơi là các đảo đá vôi, có nơi là đảo đất nên ở đây cũng hình thành các loại đất khác nhau. Nhìn chung, đất có đặc điểm giống đất feralit vàng đỏ trên vùng đồi núi thấp. Trên các đảo đá vôi có độ dốc lớn, xói mòn mạnh, tầng đất mỏng, nhiều nơi chỉ có chỗ trũng hoặc khe nứt. Trên các đảo đất: Tuần Châu, đảo Rều, Ngọc Vừng,... được cấu tạo bởi các đá phiến thạch, sa thạch silic có đất feralit màu vàng đỏ.

Tài nguyên rừng[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng diện tích rừng và đất rừng là 243.833,2 ha, chiếm 38% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, trong đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 80%, còn lại là rừng trồng, rừng đặc sản khoảng 100.000 ha, đất thành rừng khoảng 230.000 ha, là điều kiện để phát triển thành các vùng nông nghiệp, vùng cây đặc sản, cây ăn quả có quy mô lớn.[10]

Tài nguyên biển[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh có thế mạnh và tiềm năng to lớn để phát triển các ngành kinh tế biển, có chiều dài đường ven biển lớn nhất 250 km với 2.077 hòn đảo, chiếm 2/3 số đảo của cả nước, trong đó trên 1.000 đảo đã có tên; có ngư trường rộng lớn trên 6.100 km2, là nơi sinh sống của vô vàn các loài sinh vật biển quý hiếm. Hầu hết các bãi cá chính có sản lượng cao, ổn định, đều phân bố gần bờ và quanh các đảo, rất thuận tiện cho việc khai thác. Ven biển Quảng Ninh có nhiều khu vực nước sâu, kín gió là lợi thế đặc biệt quan trọng thuận lợi cho việc xây dựng, phát triển hệ thống cảng biển đặc biệt là cảng nước sâu tiếp nhận được tàu có trọng tải lớn và cảng thuỷ nội địa, nhất là ở thành phố Hạ Long, TP Cẩm Phả, huyện Tiên Yên, TP Móng Cái và huyện Hải Hà đáp ứng cho việc giao lưu hàng hóa với các tỉnh trong vùng.[10]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh nằm vùng Khí hậu cận nhiệt đới ẩm đặc trưng cho các tỉnh miền bắc vừa có nét riêng của một tỉnh vùng núi ven biển có một mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, một mùa đông lạnh khô, ít mưa và tính nhiệt đới nóng ẩm là bao trùm nhất. Do ảnh hưởng của vị trí địa lí và địa hình nên Quảng Ninh chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc và ảnh hưởng yếu của gió mùa Tây Nam so với các tỉnh phía bắc. Vì nằm trong vành đai nhiệt đới nên hàng năm Quảng Ninh có hai lần mặt trời qua thiên đỉnh, tiềm năng về bức xạ và nhiệt độ rất phong phú.[12] Các quần đảo ở Cô Tô, Vân Đồn... có đặc trưng của khí hậu đại dương. Do ảnh hưởng bởi hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á nên khí hậu bị phân hoá thành hai mùa gồm có mùa hạ thì nóng ẩm với mùa mưa, còn mùa đông thì lạnh với mùa khô. Độ ẩm trung bình 82 – 85%[6]. Mùa lạnh thường bắt đầu từ hạ tuần tháng 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, trong khi đó mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng. Mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10. Giữa hai mùa lạnh và mùa nóng, hai mùa khô và mùa mưa  là hai thời kỳ chuyển tiếp khí hậu, mỗi thời kỳ khoảng một tháng (tháng 4 và tháng 10). Ngoài ra, do tác động của biển, nên khí hậu của Quảng Ninh nhìn chung mát mẻ, ấm áp, thuận lợi đối với phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và nhiều hoạt động kinh tế khác[13].

- Về nhiệt độ: là tỉnh có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình trong năm từ 21 – 23oC, có sự chênh lệch giữa các mùa, giữa vùng đồi núi với vùng ven biển. Sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa đông (tháng 1) thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa hạ (tháng 7) là 12oC và thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng 1 theo tiêu chuẩn nhiệt độ cùng vĩ tuyến là 5,1oC[12] . Vào tháng 12 và tháng 1, một số nơi như Bình Liêu, Ba Chẽ và miền núi huyện Hoành Bồ thường có sương muối.

- Mưa: là tỉnh có lượng mưa nhiều, tập trung chủ yếu vào mùa hạ (chiếm tới 85% lượng mưa cả năm), lượng mưa trung bình hàng năm 1.995mm. Lượng mưa ở các vùng cũng khác nhau. Nơi mưa nhiều nhất là sườn nam và đông nam cánh cung Đông Triều và vùng đồng bằng duyên hải của Móng Cái, Tiên Yên, Hải Hà, lượng mưa trung bình năm lên tới 2.400mm. Vùng ít mưa nhất là sườn bắc của cánh cung Đông Triều, Ba Chẽ, lượng mưa trung bình năm chỉ đạt 1.400mm. Các vùng hải đảo có lượng mưa 1.700-1.800mm.

- Gió: Quảng Ninh chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ gió mùa. Gió mùa hạ thổi từ tháng 5 đến tháng 10, hướng đông nam, gây mưa lớn cho nhiều khu vực của tỉnh. Mùa hạ thường có áp thấp nhiệt đới và bão (tháng 7, 8, 9), những cơn bão từ Tây Thái Bình Dương có xu hướng đổ bộ vào đất liền, trong một năm thường có 5-6 cơn bão gây ảnh hưởng trực tiếp đến Quảng Ninh. Gió mùa mùa đông thổi từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, hướng đông bắc, gây thời tiết lạnh khô.

Sông ngòi, chế độ thuỷ văn và tài nguyên nước[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh có tất cả khoảng 30 sông, suối với chiều dài trên 10 km. Diện tích lưu vực thông thường không quá 300 km2, trong đó có bốn con sông lớn là hạ lưu sông Thái Bình, sông Ka Long, sông Tiên Yênsông Ba Chẽ. Mỗi sông hoặc đoạn sông thường có nhiều nhánh, các nhánh đa số đều vuông góc với đoạn sông chính. Tuy nhiên, hầu hết các sông suối đều ngắn, nhỏ và độ dốc lớn, khả năng điều tiết nước yếu và chịu ảnh hưởng mạnh của thuỷ triều. Đại bộ phận sông có dạng xoè hình cánh quạt, trừ sông Cầm, sông Ba Chẽ, sông Tiên Yên, sông Phố Cũ có dạng lông chim.[14]

Phù hợp với chế độ mùa mưa, chế độ dòng chảy của sông ngòi cũng có hai mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn. Mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung từ tháng 6 đến tháng 8; mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, cạn nhất vào tháng 3. Lưu lượng nước các sông ở đây có sự dao động rất lớn. Lưu lượng và lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa. Vào mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ trơ ghềnh đá nhưng mùa hạ lại ào ào thác lũ, nước dâng cao rất nhanh. Lưu lượng mùa khô 1,45 m3/s, mùa mưa lên tới 1500 m3/s, chênh nhau 1.000 lần[15]. Sông Tiên Yên ở Bình Liêu lưu lượng nhỏ nhất là 1,45m3/s, lớn nhất lên tới 1500m3/s. Hầu hết các sông chảy qua khu vực địa hình miền núi có cấu tạo bằng các nham cứng nên lưu lượng phù sa không đáng kể.

Nước ngập mặn xâm nhập vào vùng cửa sông khá xa. Lớp thực vật che phủ chiếm tỷ lệ thấp ở các lưu vực nên thường hay bị xói lở, bào mòn và rửa trôi làm tăng lượng phù sa và đất đá trôi xuống khi có lũ lớn do vậy nhiều nơi sông suối bị bồi lấp rất nhanh, nhất là ở những vùng có các hoạt động khai khoáng như ở các đoạn suối Vàng Danh, sông Mông Dương.[14]

Về phía biển Quảng Ninh giáp vịnh Bắc Bộ, một vịnh lớn nhưng kín lại có nhiều lớp đảo che chắn nên sóng gió không lớn như vùng biển Trung Bộ. Chế độ thuỷ triều ở đây là nhật triều điển hình, biên độ tới 3–4 m. Nét riêng biệt ở đây là hiện tượng sinh "con nước" và thuỷ triều lên cao nhất vào các buổi chiều các tháng mùa hạ, buổi sáng các tháng mùa đông những ngày có con nước cường. Trong vịnh Bắc Bộ có dòng hải lưu chảy theo phương bắc nam kéo theo nước lạnh lại có gió mùa đông bắc nên đây là vùng biển lạnh nhất nước ta. Nhiệt độ có khi xuống tới 13oC.[14]

Lượng nước các sông khá phong phú, ước tính 8.777 tỷ m3 phát sinh trên toàn lưu vực. Dòng chảy lên tới 118 l/s/km2 ở những nơi có mưa lớn. Vào mùa mưa (tháng 5 - tháng 9), chiếm 75-80% tổng lượng nước trong năm; mùa khô (tháng 10 - tháng 4), chiếm 20-25% tổng lượng nước trong năm.[10]

Theo kết quả thăm dò, trữ lượng nước ngầm tại vùng Cẩm Phả là 6.107 m3/ngày , vùng Hạ Long là 21.290 m3/ngày. Lượng nước ngầm tại hồ Yên Lập là 118 triệu m3, hồ Chúc Bài Sơn 11,5 triệu m3 và hồ Quất Đông 10 triệu m3. Quảng Ninh có từ 2.500 đến 3.000 ha mặt nước ao, hồ, đầm có điều kiện nuôi trồng thủy sản.[10]

Khoáng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Than đá: Có trữ lượng khoảng 3,6 tỷ tấn (43,8%), hầu hết thuộc dòng an-tra-xít, tỷ lệ các-bon ổn định 80 – 90%; phần lớn tập trung tại 3 khu vực: Hạ Long, Cẩm Phả và Uông Bí – Đông Triều; mỗi năm cho phép khai thác khoảng 30 – 40 triệu tấn.[10]

Các mỏ đá vôi, đất sét, cao lanh…: Trữ lượng tương đối lớn, phân bố rộng khắp các địa phương trong tỉnh như: Mỏ đá vôi ở Hoành Bồ, Cẩm Phả; Các mỏ cao lanh ở các huyện miền núi Hải Hà, Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, thành phố Móng Cái; Các mỏ đất sét phân bố tập trung ở Đông Triều, Hoành Bồ và TP. Hạ Long là nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất vật liệu xây dựng cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu.[16]

Các mỏ nước khoáng: Có nhiều điểm nước khoáng uống được ở Quang Hanh (Cẩm Phả), Khe Lạc (Tiên Yên), Đồng Long (Bình Liêu). Ngoài ra, còn có nguồn nước khoáng không uống được tập trung ở Cẩm Phả có nồng độ khoáng khá cao, nhiệt độ trên 35oC, có thể dùng chữa bệnh.[16]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mũi Bạch Long (Paklung) trên bản đồ 1888

Thời Tiền sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh là vùng đất lịch sử lâu đời. Tiền sử Quảng Ninh được biết sớm nhất là ở các địa điểm thuộc Văn hóa Soi Nhụ. Vào thời kỳ của các văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn, khoảng 18.000 năm về trước, lúc băng hà lần cuối cùng phát triển, mực nước biển Đông hạ thấp tới độ sâu 110 -120 mét dưới mực nước biển hiện tại. Lúc đó vịnh Bắc Bộ, trong đó có vịnh Hạ Long là một đồng bằng tam giác châu rộng lớn. Trên vùng đất khoảng vài nghìn km² của Quảng Ninh và khu vực Vịnh Hạ Long bây giờ là một đồng bằng cổ. Ở đây đã tồn tại một cộng đồng cư dân tiền sử lớn. Họ sống trong các hang động đá vôi, trên một địa bàn độc lập so với các cư dân Hòa Bình - Bắc Sơn cùng thời đã sáng tạo ra một nền văn hóa song song tồn tại với các văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn, đó là nền Văn hóa Soi Nhụ, làm cơ sở để sau đó hình thành các loại hình văn hóa tiến bộ mới tại Cái Bèo, tiếp theo nền Văn hóa Hạ Long nổi tiếng.[17] Ở khu vực Vịnh Hạ Long đã khảo cổ được di chỉ của người tiền sử từ 3000 - 1500 năm TCN. Đặc trưng trong giai đoạn này là Văn hóa Hạ Long. Với nhiều di chỉ khảo cổ vỏ sò dùng làm trang sức và tiền trao đổi, xương thú và xương người Cổ đại.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, ngay từ thời Hùng Vương, đất nước ta đã được chia thành 15 bộ, trong đó có các bộ Ninh Hải, Lục Hải. Tất nhiên địa bàn của bộ Ninh Hải, Lục Hải thời đó không hoàn toàn trùng với địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện nay, ngoài Quảng Ninh thì tối thiểu hai bộ đó còn bao gồm một phần Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương, Hải Phòng và một phần Lưỡng Quảng (bao gồm một phần của 2 tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, Trung Quốc) ngày nay, nhưng trung tâm của Ninh Hải, Lục Hải chính là khu vực tỉnh Quảng Ninh bây giờ. Mặc dù các nhà khoa học gặp nhiều khó khăn trong quá trình nghiên cứu, song với khối tư liệu thu được sau cuộc khai quật di chỉ Đầu Rằm, có thể nói rằng từ tiền sử tới sơ sử Quảng Ninh là một quá trình phát triển liên tục, không hề có bất cứ một đứt đoạn nào. Việc phát hiện các di tích sơ sử tại Quảng Ninh cũng đã góp phần khẳng định rằng vào thời Hùng Vương, Quảng Ninh đã thực sự là một bộ phận của quốc gia Văn Lang.[17]

Thời Phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực tỉnh Quảng Ninh hiện nay thời phong kiến có tên là:

  • Thời Tự chủ và nhà Ngô là Lục Châu.
  • Thời nhà Lý là Lộ Đông Hải.
  • Thời nhà Trần là Lộ Hải Đông.
  • Thời nhà Lê là Trấn An Bang.
  • Thời nhà Nguyễn là Tỉnh Quảng Yên.

Trong thời phong kiến độc lập, tự chủ, có lẽ rất hiếm có một vùng đất nào mà hai nhiệm vụ, cũng là hai sự nghiệp ấy lại thể hiện rõ ràng như trên mảnh đất địa đầu Tổ quốc này. Trong suốt mười thế kỷ ấy, đất Quảng Ninh đã ghi dấu những chiến công lừng lẫy nhất trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, với ba lần chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Không những thế, miền đất này cũng đã từng chứng kiến những công cuộc phát triển kinh tế phồn vinh nhất dưới thời phong kiến, đặc biệt với thương cảng Vân Đồn lịch sử. Quảng Ninh không chỉ là một chiến trường hào hùng, cũng không chỉ là một khu vực phát triển kinh tế đầy sôi động mà còn là một trong những cái nôi văn hóa thời phong kiến độc lập, tự chủ ở nước ta. Với Yên Tử non thiêng, Quảng Ninh đã trở thành một trong những trung tâm văn hóa quan trọng nhất, thâm trầm nhất trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc. Có thể nói, gói trọn một thiên niên kỷ dưới các triều đại phong kiến độc lập, lịch sử của mảnh đất Quảng Ninh cũng chính là lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước hào hùng của cha ông ta. Những thử thách gay go nhất, khốc liệt nhất đối với bản lĩnh của dân tộc đều diễn ra trên mảnh đất này. Những chiến công vang dội nhất cũng đã từng được mảnh đất và con người Quảng Ninh chia sẻ. Không những thế, mảnh đất này còn đóng vai trò là một động lực, một trung tâm phát triển mọi mặt của đất nước khi thanh bình.[17]

Thời Lý - Trần[sửa | sửa mã nguồn]

Sử liệu về thời kì này còn lại quá ít ỏi nên không thể hiểu đầy đủ về quá trình biến đổi của Quảng Ninh. Tuy nhiên, về đại thể có thể biết được là năm 1023, sau khi dẹp yên cuộc nổi dậy của người Đại Nguyên Lịch (tên một dân tộc thiểu số ở vùng biển Việt Trung), nhà Lý đổi trấn Triều Dương thành châu Vĩnh An, xác định biên giới đông bắc của Đại Việt sau này. Ít lâu sau, cả vùng Ninh Hải - Lục Châu cũ được đặt thành một phủ: phủ Hải Đông.

Khoảng năm 1242, nhà Trần nâng Hải Đông lên thành lộ và đến cuối thế kỷ XIV thì đổi gọi là An Bang. Đông Triều bấy giờ còn là một châu của lộ Hải Dương.

Cùng với sự phát triển của đất nước, cư dân An Bang cũng ngày càng tăng, ruộng đất làng xóm được mở rộng, các đơn vị hành chính như huyện Hoa Phong, Hoành Bồ, Yên Hưng, Đông Triều, các châu Tiên Yên, Vĩnh An, Vân Đồn, Vạn Ninh đã được hình thành. Tổ tiên nhà Trần, vào cuối đời Lý đã đến ở vùng An Sinh (thuộc Đông Triều) làm nghề đánh cá. Sau này khu vực An Phụ, An Dưỡng, An Sinh và An Bang được đặt thành thái ấp của An Sinh Vương Trần Liễu, anh của Trần Thái Tông. Nhà Trần tuy phát tích ở đất Thiên Trường (Nam Định) song vẫn nhớ về quê gốc Đông Triều nên lăng mộ các vua Trần đều được di dời về đây. Vùng thái ấp này biến thành khu mộ các vua nhà Trần.[17]

Thời Hậu Lê[sửa | sửa mã nguồn]

Vào đời Lê Anh Tông (1556 - 1573) vì kỵ húy nhà vua đổi gọi An Bang thành An Quảng.[17]

Thời Tây Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Đến thời nhà Tây Sơn, các trấn từ Sơn Nam Hạ và Bắc được đổi gọi là Bắc Thành. Phủ Kinh Môn với 7 huyện, trong đó có cả Đông Triều đã được sáp nhập vào An Quảng. Lúc này An Quảng trở thành một trấn lớn.[17]

Thời Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 24 năm chinh chiến với nhà Tây Sơn, đến ngày 3 tháng 5 năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh đã thu phục được Kinh đô Phú Xuân và năm 1802 chính thức lên ngôi Hoàng đế. An Quảng được giữ nguyên là một ngoại trấn, với một phủ Hải Đông, ba huyện Hoành Bồ, Yên Quảng, Hoa Phong và ba châu Vạn Ninh, Tiên Yên và Vân Đồn.

Năm Minh Mạng thứ ba, trấn An Quảng được đổi tên thành trấn Quảng Yên. Đến năm 1831, trấn Quảng Yên được đổi thành tỉnh do Tổng đốc Hải An (Hải Dương - An Quảng) kiêm quản.

Năm 1836, phủ Hải Đông được đổi tên gọi là phủ Hải Ninh, châu Vân Đồn được gộp vào huyện Hoa Phong và được gọi là tổng Vân Hải. Sau đó, nhà Nguyễn tách huyện Hoành Bồ, huyện Hoa Phong và huyện Yên Hưng ra khỏi phủ Hải Đông lập thành phủ Sơn Định, cho tri huyện Hoành Bồ kiêm quản.

Vào đầu thế kỷ XIX, do ít nhiều tiếp xúc với tư bản phương Tây và nền kinh tế của họ nên nghề khai mỏ đã được nhà nước chú ý hơn. Theo sách Đại Nam thực lục chính biên thì dưới thời Minh Mạng (1820 - 1840), người ta đã bắt đầu khai thác than đá tại Đông Triều.

Tháng 12 năm 1839, năm Minh Mạng thứ 20, Tổng đốc Hải An là Tôn Thất Bật thấy nhân dân ở đây bị mất mùa đói kém, cuộc sống khó khăn đã dâng sớ xin thuê dân phu khai thác than đá tại núi An Lãng (phường Yên Thọ, thị xã Đông Triều) và được Minh Mạng đồng ý. Như vậy là mãi cho đến năm 1839 thì nhà nước mới đứng ra khai thác than đá theo quy mô lớn, nhưng từ trưóc dó, nhân dân cùng đã biết lấy than đá.[17]

Tỉnh Quảng Ninh có những di tích như:

  1. Bãi cọc Bạch Đằng. Nay thuộc thị xã Quảng Yên, khu vực tiếp giáp với thành phố Hải Phòng.
  2. Thương cảng Vân Đồn. Với trận hải chiến chống quân Nguyên Mông của tướng Trần Khánh Dư. Nay thuộc khu vực đảo Quan Lạn và Minh Châu, huyện Vân Đồn.
  3. Khu quần thể lăng các vua Trần. Vốn đây là nơi ở của tổ tiên Vương triều Trần trước khi di cư xuống vùng Thái Bình, Thiên Trường. Nay thuộc xã An Sinh, thị xã Đông Triều.
  4. Núi Yên Tử. Nơi phát tích Thiền phái Trúc Lâm. Nay có Quần thể di tích danh thắng Yên Tử thuộc 2 tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh.

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ địa giới Bắc Kì năm 1879 bao gồm Đông Hưng và mũi Bạch Long, đến năm 1887 bị Pháp cắt cho nhà Thanh

Vào ngày 12-3-1883, sau khi đánh chiếm xong Hà Nội, 500 lính Pháp do đích thân Henri Rivière - tên tổng chỉ huy cuộc xâm lược Bắc Kỳ lần thứ hai cầm đầu - đã tiến hành đánh chiếm khu mỏ Quảng Ninh. Kể từ đó, Quảng Ninh đã cùng toàn thể dân tộc ta chịu chung ách thống trị dã man của thực dân Pháp.[17]

Biên giới giáp với Trung Quốc trước năm 1887 là sông Dương Hà (còn gọi là An Nam Giang) bao gồm cả mũi Bạch Long nhưng Công ước Pháp-Thanh 1887 nhận kinh tuyến đông 105 độ 43 phút Paris làm đường phân định thì phần đất này Pháp nhường cho nhà Thanh. Phần đất bị cắt gồm hơn bảy xã thuộc tổng Bát Tràng và hai xã của tổng Kiến Duyên.[18]

Hiện nay có một số ý kiến cho rằng vùng đất của huyện Phòng Thành Cảng, tỉnh Quảng Tây, bao gồm khu vực Đông Hưng, Phòng Thành, Cảng Khẩu, Bạch Long, Trung Quốc là thuộc Việt Nam, nhất là sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập và tuyên bố hủy bỏ mọi hiệp ước về Việt Nam của thực dân Pháp với các nước khác. Như vậy vùng Bạch Long - Trường Bình đúng ra phải được trả lại về Quảng Ninh nhưng việc này đã không được thực hiện. Rất nhiều người Kinh sống ở khu vực này tuyệt nhiên trở thành người mất quê hương và trở thành một trong 56 dân tộc của Trung Quốc, gọi là dân tộc Việt.

Trong giai đoạn từ 1885 đến những năm đầu thế kỷ XX, các cuộc khởi nghĩa hưởng ứng phong trào Cần Vương yêu nước chống Pháp đã liên tiếp và rầm rộ nổi lên tại Quảng Ninh. Một số địa bàn như đảo Cái Bầu, đảo Cái Bàn, vùng rừng núi thị xã Đông Triều có tới hai, ba cuộc nổi dậy một lúc, có cuộc kéo dài gần chục năm. Nhìn chung, phong trào chống Pháp tại Quảng Ninh trong thời kỳ này là một phong trào dân tộc, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, mọi thành phần dân tộc dưới ngọn cờ yêu nước.[17]

Năm 1899 thực dân Pháp lại tách một phần bắc tỉnh Quảng Yên mà lập tỉnh Hải Ninh. Thấy được tài nguyên khoáng sản than đá, thực dân Pháp tăng cường khai thác tại các khu Hồng Quảng, Mạo Khê, Vàng Danh, Cẩm Phả, Hà Tu. Họ thành lập Công ty than Bắc Kỳ thuộc Pháp (S.F.C.T) độc quyền khai thác và tiêu thụ than đá, ra sức vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân công thuộc địa. Như vậy, Quảng Ninh trở thành một vùng điển hình của tội ác khai thác thuộc địa.[17]

Cùng với công nghiệp than, Quảng Ninh là một trong những nơi giai cấp công nhân Việt Nam hình thành sớm nhất, đồng thời đây cũng là nơi trở thành trường rèn luyện cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giác ngộ ý thức giai cấp cho giai cấp công nhân Việt Nam. Vốn xuất thân từ những người nông dân có truyền thống dân tộc lâu đời, mang trong lòng ngọn lửa căm thù sôi sục đối với quân xâm lược Pháp, cũng chính là bọn thực dân đang áp bức, đọa đày họ trong nhà máy, hầm mỏ, thợ mỏ Quảng Ninh ngay trong giai đoạn đầu đã rất nhạy bén với vấn đề dân tộc, sẵn sàng và tự nguyện tham gia vào các cuộc khởi nghĩa chung của dân tộc. Dần dần cùng với sự phát triển về số lượng, thông qua cuộc đấu tranh quyết liệt với kẻ thù, người thợ mỏ Quảng Ninh cũng ngày càng trưởng thành về chất lượng, sớm đi đến chủ nghĩa Mác-Lênin và tìm thấy ở đó “cẩm nang thần kỳ" trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giai cấp.

Quá trình đẩy mạnh khai thác của tư bản Pháp tại Quảng Ninh đã dẫn tới sự phân hóa sâu sắc xã hội, làm cho khu mỏ trở thành nơi phân chia rõ ràng giữa hai tầng lớp thống trị - bọn chủ mỏ thực dân và bè lũ tay sai của chúng với tầng lớp bị trị - đó là đội ngũ công nhân mỏ và đồng bào các dân tộc trên đất Quảng Ninh. Song song với quá trình phân hóa ấy là sự phát triển không ngừng của giai cấp công nhân mỏ Quảng Ninh. Đó chính là một quá trình chuyển hóa của giai cấp công nhân mỏ từ tự phát lên tự giác, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác-Lênin, từ chưa có Đảng đến có một chính đảng của mình.[17]

Cuộc Tổng bãi công của hơn 30,000 thợ mỏ ngày 12 tháng 11 năm 1936 đòi tăng lương giảm giờ làm giành thắng lợi vẻ vang đã trở thành một trong những sự kiện lịch sử tiêu biểu nhất của phong trào cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ và độc lập dân tộc. Sau này ngày này trở thành ngày truyền thống của Công nhân vùng mỏ, gọi là Ngày vùng mỏ bất khuất.

Trong thời kì Cách mạng tháng Tám năm 1945, khởi nghĩa giành chính quyền ở Quảng Ninh hoàn toàn không dễ dàng, giặc Nhật còn ngoan cố chưa đầu hàng thì quân Tưởng tràn đến kéo theo bọn Việt gian phản động đã được nuôi dưỡng từ trước, bọn phản động người Hoa cũng nổi lên nắm quyền hành, hàng ngàn tên thổ phỉ hoành hành và sau đó quân Pháp đã quay lại chiếm ngay Cô Tô, Vạn Hoa... Do vị trí đặc biệt là vùng biên giới, vùng rừng núi, lại là vùng “vàng đen" – những yếu tố tạo nên những thuận lợi ở nhiều thời kỳ thì lúc này lại là tiền đề tạo nên những khó khăn chồng chất. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trở nên hết sức gay go, quyết liệt, phức tạp, thật sự là một cuộc giành giật và tốn không ít xương máu.[17]

Sau năm 1945[sửa | sửa mã nguồn]

Cửa Ông sau giải phóng

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam giành độc lập, bước sang giai đoạn dân chủ hiện đại. Chính quyền nhân dân được thiết lập trên toàn bộ địa bàn tỉnh Quảng Yên. Gần một năm sau ngày tổng khởi nghĩa, Hải Ninh mới hoàn thành về cơ bản việc giành chính quyền trong tỉnh. Trừ hai huyện Hà Cối, Ba Chẽ và quần đảo Cô Tô lúc này còn bị tàn quân Pháp và bọn phỉ chiếm đóng, tất cả các huyện, thị xã còn lại trong tỉnh đã được giải phóng và có chính quyền cách mạng của nhân dân.

Để thống nhất chỉ đạo kháng chiến, ngày 31 tháng 3 năm 1947, liên tỉnh Quảng Hồng được thành lập bao gồm tỉnh Quảng Yên, đặc khu Hòn Gai và các huyện Thủy Nguyên, Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn, Đông Triều.

Tháng 8 năm 1947, phần lớn địa bàn hai huyện Sơn Động, Lục Ngạn được sáp nhập vào liên tỉnh Quảng Hồng.

Ngày 16 tháng 12 năm 1948, Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu I đã quyết định tách tỉnh Quảng Hồng thành tỉnh Quảng Yên và Đặc khu Hòn Gai.

Với sự phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và binh vận, quân và dân Hải Ninh, Quảng Yên, Hòn Gai đã làm tan rã một mảng lớn lực lượng vũ trang của địch trên chiến trưòng Đông Bắc, góp phần đáng kể vào thắng lợi to lớn của chiến cuộc đông - xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần đập tan ý chí xâm lược của thực dân Pháp, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Ngày 22 tháng 2 năm 1955, theo sắc lệnh của Chủ tịch nước, khu Hồng Quảng gồm đặc khu Hồng Gai và tỉnh Quảng Yên (trừ các huyện Sơn Động, Kinh Môn, Nam Sách, Chí Linh nhập về Hải Dương và Bắc Giang) đã được thành lập. Khu ủy Hồng Quảng đã phát động phong trào đấu tranh chống địch vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ, chuẩn bị tiếp quản vùng mỏ, đưa lực lượng vào thị xã Quảng Yên làm nhiệm vụ.

Ngày 22 tháng 4 năm 1955, bộ đội ta tiếp quản các thị xã Quảng Yên, Cửa Ông, Cẩm Phả trong không khí tưng bừng náo nhiệt của nhân dân.

Ngày 24 tháng 4, tên lính viễn chinh Pháp cuối cùng đã bước xuống khoang của chiếc tàu há mồm rời bến Bài Cháy. Tiếp theo đó, Đại đội 915 của khu đội Hồng Quảng đã tiến vào tiếp quản thắng lợi đảo Bạch Long Vĩ. Mảnh đất cuối cùng của khu Hồng Quảng đã được hoàn toàn giải phóng. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Quảng Ninh đã kết thúc thắng lợi.

Ngày 25 tháng 4, tại thị xã Hòn Gai, quân dân Hồng Quảng mít tinh trọng thể mừng giải phóng.

Để triển khai nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, từ năm 1961 đến năm 1965, Đảng bộ khu Hồng Quảng và Đảng bộ tỉnh Hải Ninh đã trải qua hai kỳ đại hội. Đó là Đại hội đại biểu lần thứ V (kỳ II) từ ngày 16-1 đến ngày 2-2-1961 và lần thứ VI từ ngày 10-6 đến ngày 16-6-1963 của Đảng bộ Hải Ninh; Đại hội đại biểu lần thứ I (kỳ 10) từ ngày 31-1 đến ngày 9-2-1961 và Đại hội Đại biểu lần thứ II từ ngày 11-9 đến ngày 16-9-1963 của Đảng bộ Hồng Quảng.

Ngày 30 tháng 10 năm 1963 với nền tảng là khu Hồng Quảng (trong đó có khu đặc biệt Hồng Gai và tỉnh Quảng Yên) và tỉnh Hải Ninh (trong đó có Hải Bằng và Ninh Tường), chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập tỉnh Quảng Ninh, theo cách đặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tên tỉnh là ghép tên của hai tỉnh Quảng YênHải Ninh cũ; thị xã Móng Cái chuyển thành huyện Móng Cái. Diện tích của toàn tỉnh Quảng Ninh là 8.239,243 km². Khi hợp nhất, tỉnh Quảng Ninh có 14 đơn vị hành chính gồm 3 thị xã: thị xã Hòn Gai (tỉnh lị), thị xã Cẩm Phả, thị xã Uông Bí và 11 huyện: Ba Chẽ, Bình Liêu, Cẩm Phả, Đầm Hà, Đình Lập, Đông Triều, Hà Cối, Hoành Bồ, Móng Cái, Tiên Yên, Yên Hưng.

Từ ngày 1-1-1964, tỉnh Quảng Ninh đi vào hoạt động chính thức, tạo thành một thể liên hoàn cả vể chính trị, kinh tế, quân sự, phát huy được sức mạnh tổng hợp của vùng Đông Bắc rộng lớn của Tổ quốc. Đó là những dấu mốc rất quan trọng để giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc Quảng Ninh bước vào thời kỳ cách mạng mới.

Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đang trên đà phát triển thì nhân dân ta lại phải đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Bị thua đau trong cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam, ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ đã cho máy bay và tàu chiến ném bom và bắn phá miền Bắc, trong đó có Quảng Ninh. Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, quân và dân Quảng Ninh đã chuẩn bị sẵn sàng, kịp thời đập tan cuộc chiến tranh phá hoại của kẻ thù. Với khẩu hiệu “Tay cày tay súng”, “Tay búa tay súng”, “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", nhân dân Quảng Ninh bất chấp bom đạn ác liệt, vừa sản xuất tốt, vừa chiến đấu giành thắng lợi, bảo vệ và ổn định đời sống nhân dân.[17]

Ngày 4 tháng 6 năm 1969, hợp nhất 2 huyện Đầm HàHà Cối thành huyện Quảng Hà.

Ngày 29 tháng 12 năm 1978, chuyển huyện Đình Lập về tỉnh Lạng Sơn quản lý vừa được tái lập[19].

Ngày 18 tháng 1 năm 1979, huyện Móng Cái đổi tên thành huyện Hải Ninh[20].

Ngày 27 tháng 12 năm 1993, Chính phủ bàn hành Nghị định số 102/CP, thành phố Hạ Long được chính thức thành lập trên cơ sở thị xã Hòn Gai[21].

Ngày 23 tháng 3 năm 1994, đổi tên huyện Cẩm Phả thành huyện Vân Đồn; tách quần đảo Cô Tô khỏi huyện Cẩm Phả để thành lập huyện Cô Tô.

Ngày 20 tháng 7 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 52/1998/NĐ-CP, thành lập lại thị xã Móng Cái trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Hải Ninh[22].

Ngày 29 tháng 8 năm 2001, huyện Quảng Hà được tách thành 2 huyện: Đầm HàHải Hà (đổi tên từ huyện Hà Cối).[23]

Ngày 24 tháng 09 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định 03/NĐ-CP thành lập thành phố Móng Cái trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Móng Cái[24].

Ngày 25 tháng 2 năm 2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 12/NQ-CP thành lập thành phố Uông Bí trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Uông Bí[25][26].

Ngày 25 tháng 11 năm 2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 100/NQ-CP tái lập thị xã Quảng Yên trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Yên Hưng [27].

Ngày 21 tháng 2 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 04/NQ-CP thành lập thành phố Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Cẩm Phả.[28]

Ngày 11 tháng 3 năm 2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 892/NQ-UBTVQH13 thành lập thị xã Đông Triều trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Đông Triều.[29]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh có 4 thành phố, 2 thị xã và 8 huyện trực thuộc, trong đó có 186 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 71 phường, 8 thị trấn và 107 xã. Quảng Ninh là tỉnh có nhiều thành phố trực thuộc nhất của Việt Nam[30]. Tỷ lệ đô thị hóa của tỉnh đến nay đạt trên 64% và là một trong 3 địa phương có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất cả nước (sau TP Hồ Chí Minh và Bình Dương).[31]

Ðơn vị hành chính cấp huyện Thành phố
Hạ Long
Thành phố
Cẩm Phả
Thành phố
Móng Cái
Thành phố
Uông Bí
Thị xã
Đông Triều
Thị xã
Quảng Yên
Huyện

Vân Đồn

Huyện
Hoành Bồ
Huyện
Cô Tô
Huyện
Đầm Hà
Huyện
Hải Hà
Huyện
Bình Liêu
Huyện
Tiên Yên
Huyện
Ba Chẽ
Diện tích (km²) 271,95 486,45 516,6 256,3 397,11 314,2 551,3 843,7 39,75 412,37 526,01 471,39 437,59 576,66
Dân số (người) 221.580 195.800[32] 80.000[33] 157.779[25] 156.627 139.596[34] 40.204 46.288 4.985 33.219 52.279 27.629 44.352 18.877
Mật độ dân số (người/km²) 816,9[35] 518,9 174,8 422,2 399 420,1 73,8 55,4 107,4 108,9 102,9 59,1 69,6 31,9
Số đơn vị hành chính cấp xã 20 phường 13 phường và 3 xã 8 phường và 9 xã 9 phường và 2 xã 6 phường và 15 xã 11 phường và 8 xã 1 thị trấn và 11 xã 1 thị trấn và 12 xã 1 thị trấn và 2 xã 1 thị trấn và 9 xã 1 thị trấn và 15 xã 1 thị trấn và 7 xã 1 thị trấn và 11 xã 1 thị trấn và 7 xã
Năm thành lập 1993 2012 2008 2011 2015 2011 1948 --- 1994 2001 2001 1919 --- 1946
Xếp loại đô thị I

(2013)

II

(2015)

III

(2007)

II

(2013)

IV

(2014)

IV IV[36] (8/2015) IV[37] (2/2015) V V

(2012)

V[38] (2010) V V V
Nguồn: Website tỉnh Quảng Ninh[39][40]

Trong tương lai gần:

  • Nâng cấp các xã Hồng Phong, Yên Thọ, Hoàng Quế, Tràng An của thị xã Đông Triều thành phường vào năm 2018, phấn đấu trước 2020 thị xã đủ tiêu chuẩn Đô thị loại III.[41]
  • Tái lập thị xã Tiên Yên trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số huyện Tiên Yên vào 2020.[42]
  • Thành lập Khu hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn.

Kinh tế, thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà máy xi măng Cẩm Phả

Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía bắc đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mĩ và địa chất, địa mạo. Quảng Ninh hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quảng Ninh có nhiều khu kinh tế. Trung tâm thương mại Móng Cái là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc và các nước trong khu vực. Năm 2016, Quảng Ninh là tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 2 ở Việt Nam.[43]

Năm 2017, tốc độ tăng trưởng của tỉnh đạt 10,2%; thu nhập bình quân đầu người đạt 4.528 USD (gấp gần 2 lần bình quân chung cả nước); tiếp tục đứng trong nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước về thu ngân sách với tổng thu ước đạt trên 37.600 tỷ đồng; thực hiện tiết kiệm triệt để nguồn chi thường xuyên, tăng chi cho đầu tư phát triển với tỷ trọng trên 56,67% tổng chi ngân sách; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt trên 60.600 tỷ đồng.[44] Lương bình quân của lao động trong tỉnh ở các ngành chủ lực như than, điện, cảng biển, cửa khẩu và du lịch đều ở mức cao[45].

Công nghiệp khai khoáng[sửa | sửa mã nguồn]

Là trung tâm lớn nhất Việt Nam về tài nguyên than đá, công nghiệp điện, xi măng, vật liệu xây dựng, Quảng Ninh có số lượng công nhân mỏ đông nhất cả nước, là thị trường đầy tiềm năng cho các nhà cung cấp, phân phối hàng hóa.  

Là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản, về trữ lượng than trên toàn Việt Nam thì riêng Quảng Ninh đã chiếm tới 95%, đứng đầu khu vực Đông Nam Á. Nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp vật tư, nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước và xuất khẩu, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP của tỉnh. Quảng Ninh còn là trung tâm nhiệt điện của cả nước với sản lượng nhiệt điện chiếm 15% và xi măng chiếm 14% của cả nước.

Các khu công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
STT Tên Diện tích Địa chỉ Website
1 Khu công nghiệp Cái Lân 245 ha QL18A, phường Bãi Cháy, TP. Hạ Long
2 Khu công nghiệp Việt Hưng 150 ha (giai đoạn 1) Phường Việt Hưng, TP. Hạ Long [2]
3 Khu công nghiệp phụ trợ ngành than 400 ha Phường Mông Dương, TP. Cẩm Phả
4 Khu công nghiệp Hải Yên 182,42 ha Phường Hải Yên, TP. Móng Cái [3]
5 Khu công nghiệp Phương Nam Phường Phương Nam, TP. Uông Bí
6 Khu công nghiệp Đông Triều 150 ha Xã Hồng Thái Đông, TX. Đông Triều

Thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh là địa bàn có tiềm năng lớn để phát triển hoạt động thương mại dịch vụ, nhất là thương mại qua biên giới và thương mại qua đường biển. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, ngành dịch vụ thương mại ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.

Tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ thương mại đã đạt trung bình trên 13%/năm. Tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) của tỉnh. Chỉ tính riêng năm 2017, giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ đã đạt 27.610 tỷ đồng, tăng 14,5% so với năm 2016. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt trên 72.691 tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước.[46]

Những năm gần đây, Quảng Ninh đang nỗ lực tạo bước phát triển đột phá để trở thành tỉnh đi đầu trong cả nước về đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”. Hàng loạt các dự án trọng điểm, các giải pháp sáng tạo trong điều hành đã và đang được triển khai tạo động lực quan trọng giúp Quảng Ninh bứt phá trong phát triển toàn diện và hình thành ngành dịch vụ chuyên nghiệp, chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế. Theo đó, thương mại nội địa đã có bước phát triển mạnh về chất và được mở rộng ở cả 3 khu vực: Thành thị, nông thôn, miền núi. Hệ thống các chợ loại I, loại II, một số trung tâm thương mại, tài chính, ngân hàng phát triển mạnh.

Theo thống kê của Sở Công Thương, đến nay toàn tỉnh có 133 chợ (trong đó: 22 chợ hạng 1, 23 chợ hạng 2 và 88 chợ hạng 3). Cơ bản các chợ hạng 1 đã được đầu tư xây dựng kiên cố, chợ hạng 2 có 20 chợ đã được đầu tư xây dựng kiên cố, chợ hạng 3 có 40 chợ đã được đầu tư xây dựng kiên cố. Tổng số điểm kinh doanh tại các chợ là 26.240 điểm, trong đó điểm kinh doanh của người Trung Quốc tại các chợ biên giới, chợ cửa khẩu là 1.043 điểm. Hoạt động kinh doanh của các chợ tương đối ổn định, hàng hóa đa dạng, phong phú. Công tác tuyên truyền cho các hộ kinh doanh được chú trọng nên thái độ phục vụ của các hộ kinh doanh có nhiều chuyển biến tích cực.

Bên cạnh việc đầu tư nâng cấp các chợ truyền thống thì hệ thống các siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn tỉnh đã được tăng cường. Để thu hút đầu tư vào lĩnh vực này, tỉnh đã tạo điều kiện tối đa về mặt bằng, về thủ tục hành chính và luôn đồng hành cùng nhà đầu tư trong suốt quá trình triển khai dự án. Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 27 siêu thị (6 siêu thị hạng I, 4 siêu thị hạng II, 17 siêu thị hạng III; 16 siêu thị chuyên doanh và 11 siêu thị tổng hợp) và 5 trung tâm thương mại đang hoạt động.

Cùng với đó, trên địa bàn tỉnh đã hình thành hệ thống hơn 30 trung tâm, cửa hàng, điểm giới thiệu sản phẩm OCOP và hầu hết sản phẩn OCOP của tỉnh đã được trưng bày, giới thiệu tại các địa điểm này. Nhiều sản phẩm OCOP của tỉnh không những được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh biết đến mà còn được du khách nước ngoài quan tâm, biết đến, như: Đồ gốm sứ Quang Vinh, ngọc trai Hạ Long, ghẹ lột Móng Cái…[47]

Danh sách các siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
STT Tên Địa chỉ
1 Trung tâm thương mại Hạ Long Marine Plaza Đại lộ Hạ Long Marine, P. Hùng Thắng, Tp. Hạ Long
2 Trung tâm thương mại Vincom Plaza Hạ Long Trần Quốc Nghiễn, P. Bạch Đằng, Tp. Hạ Long
3 Trung tâm thương mại Big C Hạ Long 600 Nguyễn Văn Cừ, P. Hồng Hải, Tp. Hạ Long
4 Trung tâm thương mại Vinh Cơ Plaza 36 Hoàng Quốc Việt, P. Trần Phú, Tp. Móng Cái
5 Trung tâm thương mại Việt - Trung Trần Phú, Tp. Móng Cái
6 Trung tâm thương mại Vincom Plaza Móng Cái Tp. Móng Cái
7 Trung tâm thương mại - Quảng trường thời đại Hồng Nguyên Tp. Móng Cái
8 Trung tâm thương mại Vincom+ Uông Bí Khu đô thị Yên Thanh, P. Yên Thanh, Tp. Uông Bí
9 Siêu thị MM Mega Market Hạ Long Vũ Văn Hiếu, P. Hà Tu, Tp. Hạ Long
10 Siêu thị Hapro Mart Mạo Khê Tổ 3, khu Vĩnh Xuân, P. Mạo Khê, TX. Đông Triều
11 Siêu thị Lan Chi Mart Đông Triều 9 Nguyễn Bình, P. Đông Triều, TX. Đông Triều
12 Siêu thị Bách hoá tổng hợp Trần Phú, P. Cẩm Tây, Tp. Cẩm Phả
13 Siêu thị Lan Chi Mart Quảng Yên 38-44 Bạch Đằng, P. Yên Giang, TX. Quảng Yên
Danh sách các chợ trung tâm trên địa bàn Quảng Ninh
STT Tên Địa chỉ
1 Chợ Hạ Long 1 Vạn Xuân, P. Bạch Đằng, TP. Hạ Long
2 Chợ Hạ Long 2 Tô Hiến Thành, P. Yết Kiêu, TP. Hạ Long
3 Chợ Hạ Long 3 Tổ 3, khu 8, P. Hồng Hải, TP. Hạ Long
4 Chợ Bãi Cháy Mạc Đĩnh Chi, P. Bãi Cháy, TP. Hạ Long
5 Chợ Cái Dăm Tiên Ông, P. Bãi Cháy, TP. Hạ Long
6 Chợ đêm Hạ Long Đại lộ Hạ Long Marine, P. Hùng Thắng, TP. Hạ Long
7 Chợ Cẩm Đông Bà Triệu, P. Cẩm Đông, TP. Cẩm Phả
8 Chợ Trung tâm Móng Cái
9 Chợ Trung tâm Uông Bí Quang Trung, P. Quang Trung, TP. Uông Bí
10 Chợ Mạo Khê Hoàng Hoa Thám, P. Mạo Khê, TX. Đông Triều
11 Chợ Rừng
12 Chợ Trung tâm Hải Hà
Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
1995 941.700
1996 958.000
1997 974.400
1998 991.400
1999 1.007.200
2000 1.024.200
2001 1.039.300
2002 1.054.400
2003 1.068.400
2004 1.081.800
2005 1.096.100
2006 1.109.300
2007 1.122.500
2008 1.135.100
2009 1.146.100
2010 1.154.900
2011 1.163.700
2012 1.177.200
Nguồn:[48]

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh Quảng Ninh đạt gần 1.224.600 người, mật độ dân số đạt 198 người/km².[49] Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 620.200 người[50], dân số sống tại nông thôn đạt 557.000 người[51]. Dân số nam đạt 607.350 người[52], trong khi đó nữ đạt 569.850 người[53]. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 11,5 ‰[54]

Dân cư Quảng Ninh tập trung chủ yếu ở bốn thành phố và hai thị xã, là các trung tâm của ngành công nghiệp khai thác than, du lịch và cửa khẩu của Việt Nam, phần 8 huyện còn lại dân cư tương đối thưa thớt, sống chủ yếu bằng nghề nông.

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Quảng Ninh có 34 dân tộc và người nước ngoài cùng sinh sống. Trong đó, người Kinh đông nhất với 1.011.794 người, tiếp sau đó là người Dao đông thứ nhì với 59.156 người, người Tày 35.010 người, Sán Dìu có 17.946 người, người Sán Chay có 13.786 người, người Hoa có 4.375 người. Ngoài ra còn có các dân tộc ít người như người Nùng, người Mường, người Thái[55].

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh là một vùng đất có nền văn hoá lâu đời. Văn hoá Hạ Long đã được ghi vào lịch sử như một mốc tiến hoá của người Việt. Cũng như các địa phương khác, cư dân sống ở Quảng Ninh cũng có những tôn giáo, tín ngưỡng để tôn thờ:

Ðạo Phật đến với vùng đất này rất sớm. Trước khi vua Trần Thái Tông (1225-1258) đến với đạo Phật ở núi Yên Tử thì đã có nhiều các bậc chân tu nối tiếp tu hành ở đó. Vua Trần Nhân Tông (1279-1293) chọn Yên Tử là nơi xuất gia tu hành và lập nên dòng Thiền trúc Lâm ở Việt Nam. Thế kỷ XIV, khu Yên Tử và Quỳnh Lâm (Ðông Triều) là trung tâm của Phật giáo Việt Nam, đào tạo tăng ni cho cả nước. Nhiều thế kỷ sau đó, Ðạo Phật vẫn tiếp tục duy trì với hàng trăm ngôi chùa ở Quảng Ninh, trong đó có những ngôi chùa nổi tiếng như chùa Lôi Âm, chùa Long Tiên (Hạ Long), Linh Khánh (Trà Cổ), Hồ Thiên (Ðông Triều), Linh Quang (Quan Lạn)...

Những người tôn thờ các tôn giáo khác cũng có nhưng không đông như tín đồ Ðạo Phật.[56] Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Quảng Ninh có 6 tôn giáo khác nhau chiếm 23.540 người, trong đó, nhiều nhất là Công giáo có 19.872 người (hiện có 27 nhà thờ Ky Tô giáo của 9 xứ thuộc 41 họ đạo nằm ở 8 huyện, thị xã, thành phố), Phật giáo có 3.302 người, Đạo Tin Lành có 271 người, Đạo Cao Đài có 87 người, Hồi Giáo có bảy người, ít nhất là Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có một người[55]. Tín ngưỡng phổ biến nhất đối với cư dân sống ở Quảng Ninh là thờ cúng tổ tiên, thờ các vị tướng lĩnh nhà Trần có công với dân với nước, các vị Thành Hoàng, các vị thần (sơn thần, thuỷ thần), thờ các mẫu (Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải).[56]

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh trung tâm du lịch hàng đầu Việt Nam, giàu tiềm năng du lịch, sở hữu nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Hoạt động du lịch có bước tăng trưởng ấn tượng trong năm 2017 với gần 10 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế tăng mạnh với 4,3 triệu lượt. Tổng doanh thu du lịch ước đạt gần 18.000 tỷ đồng, đã góp phần tăng tỷ trọng dịch vụ lên 41,2% trong cơ cấu kinh tế. Đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị Đối thoại chính sách cao cấp APEC về Du lịch bền vững tạo tiền đề tích cực, sẵn sàng tổ chức Năm Du lịch quốc gia 2018.[57]

Thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Của khẩu Móng Cái
  • Vịnh Hạ Long: một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới (N7W), di sản thiên nhiên thế giới, có diện tích 1.553 km2 với 1969 đảo. Trong đó khu di sản thế giới được UNESCO công nhận có diện tích trên 434 km2 với 788 đảo, có giá trị đặc biệt về văn hoá, thẩm mĩ, địa chất, sinh học và kinh tế. Trên vịnh có nhiều đảo đất, hang động, bãi tắm, cảnh quan đẹp thuận lợi cho phát triển nhiều điểm, nhiều hình thức du lịch hấp dẫn. Vịnh Hạ Long cùng với đảo Cát Bàkhu du lịch trọng điểm quốc gia, động lực phát triển vùng du lịch Bắc Bộ.
  • Vịnh Bái Tử Long nằm liền với vịnh Hạ Long ở phía bắc với nhiều đảo đá trải dài ven biển. Một vẻ đẹp hoang sơ cùng với các bãi tắm tại các đảo như Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng...(Vân Đồn). Phục vụ các du khách thích khám phá tận hưởng vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên.
  • Hàng chục bãi tắm bãi tắm đẹp hiện đại như Trà Cổ (Móng Cái), Bãi Cháy, đảo Tuần Châu được cải tạo, nâng cấp với nhiều loại hình dịch vụ phục vụ đa dạng các nhu cầu của du khách.
  • Đảo Cô Tô (phía đông bắc Quảng Ninh). Các bãi tắm đẹp như Hồng Vàn, Bắc Vàn, Vàn Chảy, đảo Cô Tô Con. Được đánh giá là những bãi biển đẹp nhất tại phía bắc.

Di tích lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ nước nhân tạo (hồ Yên Lập) - nơi có di tích chùa Lôi Âm

Các di tích quốc gia đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Vịnh Hạ Long (thành phố Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn)
  2. Yên Tử (thành phố Uông Bí, thị xã Đông Triều)
  3. Bãi cọc Bạch Đằng (thị xã Quảng Yên)
  4. Khu di tích nhà Trần ở Đông Triều (thị xã Đông Triều)
  5. Đền Cửa Ông (thành phố Cẩm Phả)

Những lễ hội truyền thống của Quảng Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh có hàng trăm di sản văn hoá phi vật thể thuộc 7 loại hình: Lễ hội truyền thống (77 di sản), nghề thủ công truyền thống (25 di sản), nghệ thuật trình diễn dân gian (22 di sản), ngữ văn dân gian (14 di sản), tập quán xã hội (168 di sản), tiếng nói chữ viết (7 di sản), tri thức dân gian (50 di sản). Trong đó có 4 di sản đã được đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, gồm: Nghi lễ then cổ của người Tày (Bình Liêu)[58], hát nhà tơ - hát (múa) cửa đình[59], lễ hội đền Cửa Ông (Cẩm Phả) [60], lễ hội miếu Tiên Công (Quảng Yên)[61].

1. TP. Hạ Long

  • Lễ hội đình Lộ Phong (dân tộc Sán Dìu), phường Hà Phong; diễn ra ngày 6-10 tháng Giêng; ngày 15-7 âm lịch.
  • Lễ hội đền Đức Ông Trần Quốc Nghiễn (dân tộc Kinh), phường Hồng Gai; diễn ra ngày 23, 24-4 âm lịch.
  • Lễ hội đình làng Đại Đán (dân tộc Kinh), phường Đại Yên; diễn ra ngày 19, 20-11 âm lịch.
  • Lễ hội đình Yên Cư (dân tộc Kinh), phường Đại Yên; diễn ra ngày 26, 27-11 âm lịch.
  • Lễ hội đình Giang Võng (dân tộc Kinh), phường Hà Khánh; diễn ra ngày 9, 10-11 âm lịch

2. TP. Cẩm Phả

  • Lễ hội đình Quang Hanh (dân tộc Sán Dìu), phường Quang Hanh; diễn ra ngày 16, 17 tháng Giêng.
  • Lễ hội đền Cửa Ông (dân tộc Kinh), khu 9A, phường Cửa Ông; diễn ra ngày 3, 4-2 âm lịch.
  • Lễ hội đình Cẩm Hải (dân tộc Kinh), xã Cẩm Hải; diễn ra ngày 30-5 đến 2-6 âm lịch.

3. TP. Móng Cái

  • Lễ hội đình Ninh Dương (dân tộc Kinh), Miếu thần linh thác ngựa, phường Ka Long; diễn ra ngày 2 đến 8 tháng Giêng.
  • Lễ hội đình Vạn Ninh (dân tộc Kinh), xã Vạn Ninh; diễn ra ngày 10 đến 12 tháng Giêng.
  • Lễ hội đền Xã Tắc (dân tộc Kinh), khu 3, phường Ka Long; diễn ra ngày 15, 16 tháng Giêng; 2-5; 20-8; 16-12; 18-12 âm lịch.
  • Lễ hội đình Dân Tiến (dân tộc Kinh), thôn 1, thôn 2, xã Hải Tiến; diễn ra ngày 15 đến 18 tháng Giêng.
  • Lễ hội đình Làng Bầu (dân tộc Kinh), xã Quảng Nghĩa; diễn ra ngày 16 đến 18 tháng Giêng.
  • Lễ hội đền Thánh Mẫu (dân tộc Kinh), khu Động Thịnh, phường Trà Cổ; diễn ra ngày 21 đến 23-3 âm lịch.
  • Lễ hội đình Bình Ngọc (dân tộc Kinh), phường Bình Ngọc; diễn ra ngày 30-5 đến 1-6 âm lịch.
  • Lễ hội đình Trà Cổ (dân tộc Kinh), phường Trà Cổ; diễn ra ngày 30-5 đến 4-6 âm lịch.
  • Lễ hội đình Tràng Vỹ (dân tộc Kinh), khu Tràng Vỹ, phường Trà Cổ; diễn ra ngày 1 đến 3-6 âm lịch.
  • Lễ cầu mưa (dân tộc Kinh), xã Vạn Ninh; diễn ra tháng 6 âm lịch.

4. TP. Uông Bí

  • Lễ hội chùa Hang Son (dân tộc Kinh), thôn Cẩm Hồng, xã Phương Nam; diễn ra ngày 6 đến 30 tháng Giêng.
  • Lễ hội Yên Tử (dân tộc Kinh), xã Thượng Yên Công; diễn ra ngày 10 tháng Giêng đến 1-3 âm lịch.
  • Lễ hội đình Đền Công (dân tộc Kinh), xã Điền Công; diễn ra ngày 14 đến 16 tháng Giêng.
  • Lễ hội đình - chùa Lạc Thanh (dân tộc Kinh), phường Yên Thanh; diễn ra ngày 14, 15-3 âm lịch.
  • Lễ hội Hoa Cúc (dân tộc Kinh), phường Quang Trung; diễn ra ngày 8-9/9 âm lịch.

5. TX. Đông Triều

  • Lễ hội Xuân Ngọc Vân, xã Bình Khê; khai hội ngày 9 tháng Giêng, kéo dài trong 3 tháng mùa xuân.
  • Lễ hội đình Mỹ Cụ (dân tộc Kinh), khu Mỹ Cụ 1, phường Hưng Đạo; diễn ra ngày 9 tháng Giêng.
  • Lễ hội Chùa Chí Linh (dân tộc Kinh), thôn Chí Linh, xã Yên Đức; diễn ra ngày 9, 10 tháng Giêng.
  • Lễ hội đình, chùa Hoàng Xá (Lễ hội đình làng Vàng) (dân tộc Kinh), xã Bình Dương; diễn ra ngày 9, 10 tháng Giêng.
  • Lễ hội đền Nhà Bà (dân tộc Kinh), thôn Tràng Bạch, xã Hoàng Quế; diễn ra ngày 9 đến 11 tháng Giêng.
  • Lễ hội Chùa Cổ Giản (dân tộc Kinh), khu Cổ Giản, phường Kim Sơn; diễn ra ngày 10 đến 12 tháng Giêng.
  • Lễ hội đình, chùa Triều Khê (dân tộc Kinh), thôn Triều Khê, xã Hồng Phong; diễn ra ngày 11, 12 tháng Giêng.
  • Lễ hội đình Đông Lâm (dân tộc Kinh), xã Bình Dương; diễn ra ngày 14, 15 tháng Giêng.
  • Lễ hội đình, chùa Kim Sen (dân tộc Kinh), khu Kim Sen, phường Kim Sơn; diễn ra ngày 14, 15 tháng Giêng.
  • Lễ hội đình chùa làng Gia Mô (dân tộc Kinh), khu Gia Mô, phường Kim Sơn; diễn ra ngày 15 đến 17 tháng Giêng.
  • Lễ hội làng Đồn Sơn (dân tộc Kinh), thôn Đồn Sơn, xã Yên Đức; diễn ra ngày 16 đến 18 tháng Giêng.
  • Lễ hội chùa Phúc Nghiêm (chùa Cầm) (dân tộc Kinh), khu Xuân Cầm, phường Xuân Sơn; diễn ra ngày 18 đến 20 tháng Giêng.
  • Lễ hội chùa Nhuệ Hổ (dân tộc Kinh), khu Nhuệ Hổ, phường Kim Sơn; diễn ra ngày 19 đến 22 tháng Giêng.
  • Lễ hội chùa Bác Mã (dân tộc Kinh), xã Bình Dương; diễn ra ngày 21 tháng Giêng.
  • Lễ hội chùa Quỳnh Lâm (dân tộc Kinh), xã Tràng An; diễn ra ngày 1 đến 4-2 âm lịch.
  • Lễ hội đền An Biên (dân tộc Kinh), An Biên, xã Thuỷ An; diễn ra ngày 8 đến 10-2 âm lịch.
  • Lễ hội đình Trạo Hà - đền Di Ái (dân tộc Kinh), khu Trạo Hà, phường Đức Chính; diễn ra ngày 16-2 âm lịch.
  • Lễ hội miếu Hậu (dân tộc Kinh), xã Thủy An; diễn ra ngày 26, 27-2 âm lịch.
  • Lễ hội đình Bác Mã (dân tộc Kinh), xã Bình Dương; diễn ra ngày 3 đến 5-11 âm lịch.
  • Lễ hội đình Mễ Sơn (dân tộc Kinh), khu Mễ Sơn, phường Xuân Sơn; diễn ra ngày 9, 10-11 âm lịch.

6. TX Quảng Yên

  • Lễ hội xuống đồng (dân tộc Kinh), xã Phong Cốc; diễn ra đầu tháng 6 âm lịch.
  • Lễ hội Tiên Công (dân tộc Kinh), xã Hiệp Hòa; diễn ra ngày 4 tháng Giêng; thờ 14 vị thành hoàng.
  • Lễ hội nhị vị Tiên Công (dân tộc Kinh), thôn Trung Bản, xã Liên Hòa; diễn ra ngày 4, 5 tháng Giêng.
  • Lễ hội Cầu ngư (dân tộc Kinh), Bến Giang, phường Tân An; diễn ra ngày 5, 6 tháng Giêng.
  • Lễ hội Tiên Công (dân tộc Kinh), xã Cẩm La; diễn ra ngày 5 đến 7 tháng Giêng; tôn vinh 17 vị Tiên Công.
  • Lễ hội Đại kỳ phước làng Vị Dương (dân tộc Kinh), xã Liên Vị; diễn ra ngày 6 tháng Giêng.
  • Lễ hội Đại Kỳ phước làng Hải Yến (dân tộc Kinh), xã Yên Hải; diễn ra ngày 9 đến 11 tháng Giêng và 16 đến 18 tháng Giêng.
  • Lễ hội Đại kỳ phước làng Cốc (dân tộc Kinh), xã Phong Cốc; diễn ra ngày 10 đến 12 tháng Giêng.
  • Lễ hội Đại kỳ phước làng Yên Đông (dân tộc Kinh), thôn Yên Đông, xã Yên Hải; diễn ra ngày 16 đến 18 tháng Giêng.
  • Lễ hội Đại kỳ phước làng Hưng Học (dân tộc Kinh), thôn Hưng Học, xã Nam Hoà; diễn ra ngày 13 đến 15-2 âm lịch.
  • Lễ hội Bạch Đằng lịch sử (dân tộc Kinh), xã Yên Giang; diễn ra ngày 8-3 âm lịch.
  • Lễ hội Đại kỳ phước làng Quỳnh Lâu (dân tộc Kinh), thôn Quỳnh Lâu, xã Cộng Hòa; diễn ra ngày 15 đến 17-11 âm lịch.
  • Lễ hội Đại kỳ phước làng Yên Giang (dân tộc Kinh), xã Yên Giang; diễn ra ngày 24 đến 26-11 âm lịch.

7. Huyện Vân Đồn

  • Lễ hội Đại Phan (dân tộc Sán Dìu), xã Bình Dân; diễn ra sau vụ cấy, vụ thu hoạch hoặc vào mùa xuân.
  • Lễ hội truyền thống Vân Đồn (dân tộc Kinh), xã Quan Lạn; diễn ra ngày 16 đến 19-6 âm lịch.
  • Lễ hội đình Minh Châu, xã Minh Châu; diễn ra ngày 16 đến 18-6 âm lịch.
  • Lễ hội đình Ngọc Vừng, xã Ngọc Vừng (đã mai một).

8. Huyện Hoành Bồ

  • Hội làng xã Bằng Cả (dân tộc Dao Thanh Y), xã Bằng Cả; diễn ra ngày 1-2 âm lịch.
  • Lễ hội Đền thờ vua Lê Thái Tổ (dân tộc Kinh), xã Lê Lợi; diễn ra ngày 14 đến 16-11 âm lịch.
  • Lễ hội đình Trới (dân tộc Kinh), khu 4, thị trấn Trới; diễn ra ngày 22, 23-11 âm lịch.
  • Lễ hội đình Xích Thổ, thôn Xích Thổ, xã Thống Nhất; diễn ra ngày 14 đến 16-11 âm lịch.
  • Lễ hội đình Đồng Đặng, thôn Đồng Đặng, xã Sơn Dương; diễn ra ngày 14 đến 16-11 âm lịch.
  • Lễ hội mở cửa rừng, chùa Vân Phong, xã Sơn Dương; diễn ra ngày 14 đến 16-11 âm lịch.

9. Huyện Hải Hà

  • Lễ hội đình làng Quang Lĩnh (dân tộc Kinh), xã Quảng Thắng; diễn ra ngày 12 đến 14 tháng Giêng.
  • Lễ hội đình Làng Tó (dân tộc Kinh), xã Tiến Tới; diễn ra ngày 14 đến 16 tháng Giêng.
  • Lễ hội đình Mi Sơn (dân tộc Kinh), xã Phú Hải; diễn ra ngày 15 đến 20 tháng Giêng.
  • Lễ hội đình Cái Chiên (dân tộc Kinh), xã Cái Chiên; diễn ra ngày 16 tháng Giêng.
  • Lễ hội đình Đường Hoa (dân tộc Kinh), xã Đường Hoa; diễn ra ngày 20 tháng Giêng.
  • Lễ hội đền Phú Hải (đền Trần Hưng Đạo) (dân tộc Kinh), xã Phú Hải; diễn ra ngày 16 đến 20-8 âm lịch.

10. Huyện Ba Chẽ

  • Lễ hội Đình Làng Dạ (dân tộc Tày), thôn Làng Dạ, xã Thanh Lâm; diễn ra ngày 9, 10 tháng Giêng.

11. Huyện Bình Liêu

  • Lễ hội đình Lục Nà (dân tộc Tày), xã Lục Hồn; diễn ra ngày 16, 17 tháng Giêng.

12. Huyện Đầm Hà

  • Lễ hội đình Đầm Hà (dân tộc Kinh), thị trấn Đầm Hà; diễn ra ngày 15 đến 17 tháng Giêng.
  • Lễ hội đình Tràng Y, xã Đại Bình; diễn ra ngày 24 đến 26 tháng Giêng.

13. Huyện Tiên Yên

  • Lễ hội đình Đồng Đình, xã Phong Dụ; diễn ra vào ngày hội tháng Giêng hằng năm.
  • Lễ hội đình Tiên Lãng (đình Đồng Châu), xã Tiên Lãng; diễn ra ngày 20, 21 tháng Giêng.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Ấm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh nổi bật với các món chế biến từ hải sản như tôm, cua, ghẹ, tu hài, hầu, sò. Nhưng đặc biệt không thể không kể đến Chả mực giã tay của Hạ Long, cá thu một nắng, sá sùng,.... Ngoài ra còn có miến dong Bình Liêu, rượu Ba Kích, gà Tiên Yên, chè Ba Chẽ, bánh gật gù Tiên Yên, bánh bạc đầu....

Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh là nơi sản sinh và nuôi dưỡng rất nhiều các tài năng nghệ thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực âm nhạc. Có thể kể đến các nghệ sĩ thế hệ đầu như Nghệ sĩ Nhân dân Trần Khánh, Nghệ sĩ ưu tú Dương Phú, Nghệ sĩ Nhân dân Lê Dung, Nghệ sĩ Nhân dân Quang Thọ và sau này là những Hồ Quỳnh Hương, Ngọc Anh, Bích Phương, Kim Tiểu Phương, Tuấn Anh, Hoàng Thái, Hà Hoài Thu, Hoàng Tùng, Tô Minh Thắng v.v.. cùng với "cô con dâu" gốc Hà Nam Tân Nhàn.

Đoàn Chèo Quảng Ninh là đơn vị nghệ thuật chèo chuyên nghiệp thuộc chiếng chèo Đông. Chèo Quảng Ninh hiện được đưa vào khai thác du lịch.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Ninh có 421 trường học ở cấp phổ thông trong đó Trung học phổ thông có 46 trường, Trung học cơ sở có 146 trường, Tiểu học có 177 trường, có 45 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 205 trường mẫu giáo[62]. Với hệ thống trường học như vậy, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Quảng Ninh góp phần đạt phổ cập giáo dục các cấp bậc học trong những năm tới.[62]. Về bậc đại học, hiện tại Quảng Ninh có trường Đại học Hạ Long, Đại học Công nghiệp Quảng Ninh, Đại học Ngoại thương phân hiệu Quảng Ninh, và các trường cao đẳng, trung cấp khác.

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh có hệ thống cơ sở vật chất của ngành y tế được đầu tư đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân và các du khách trong và ngoài nước[63]. Tính đến năm 2010, toàn tỉnh Quảng Ninh có 15 bệnh viện, 09 phòng khám đa khoa khu vực, 10 trung tâm y tế tuyến tỉnh, 14 trung tâm y tế tuyến huyện, 186 trạm y tế xã, phường. Trong đó, Đội ngũ bác sĩ, y sĩ rất chuyên nghiệp với 02 tiến sĩ y học, 53 thạc sĩ y học, 24 bác sĩ chuyên khoa II, 218 bác sĩ chuyên khoa I, 437 bác sĩ, 478 y sĩ, 109 kỹ thuật viên, 960 điều dưỡng viên, 225 nữ hộ sinh, 43 dược sĩ đại học, 99 dược sĩ trung học và 982 cán bộ chuyên môn khác. Năm 2015 đạt tỷ lệ 42,3 giường bệnh trên 10.000 dân, cao gần gấp 2 lần trung bình cả nước, đạt tỷ lệ 12,26 bác sĩ trên 10.000 dân, cao hơn trung bình cả nước gần 1,6 lần[64].

Năng lực hệ thống y tế dự phòng Quảng Ninh được xếp vào top đầu toàn quốc. Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, VSATTP, DS-KHHGĐ và phòng, chống HIV/AIDS được thực hiện đồng bộ hiệu quả. Tỉnh cơ bản đã hoàn thành mục tiêu 100% xã, phường, thị trấn đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020, về đích trước 5 năm so với quy định của Bộ Y tế.[64]

Các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện đã thực hiện được nhiều kỹ thuật của tuyến trên, nhiều kỹ thuật khó, chuyên sâu:

  • Bệnh viện Đa khoa tỉnh: thay khớp gối, khớp háng, đốt sống cổ; mổ u rễ thần kinh dưới kính vi phẫu thuật chấn thương, vết thương mạch máu ngoại vi; gây mê hồi sức trong mổ bệnh nhân đa chấn thương; mổ lấy máu tụ trong não; nội soi khớp gối; chụp động mạch vành qua da; can thiệp và đặt stent động mạch vành; đặt máy tạo nhịp tim vĩnh viễn; phẫu thuật tim hở; thay van động mạch chủ, thay van hai lá, sửa các van tim và các lỗ thông liên thất.[65]
  • Bệnh viện Bãi Cháy: đặt máy tạo nhịp tim vĩnh viễn; chụp, can thiệp mạch vành; phẫu thuật nội sôi cắt thùy dưới phổi với gây mê nội khí quản hai nòng; phẫu thuật cắt gan phải; triển khai xạ trị cho bệnh nhân ung thư;...[66]
  • Bệnh viện Sản Nhi tỉnh: lọc máu cho trẻ sơ sinh; nội soi phẫu thuật phình đại tràng; nội soi khí phế quản; nội soi cắt lách; điều trị vô sinh, hiếm muộn bằng bơm tinh trùng vào buồng tử cung; gây tê ngoài màng cứng; thụ tinh trong ống nghiệm;...[66]
  • Lĩnh vực cận lâm sàng, các đơn vị y tế trong tỉnh cũng thực hiện nhiều kỹ thuật khó, như: Realtime PCR định lượng máu; đo tải lượng vi rút viêm gan B (HBV); định lượng Prealbumin trong máu; định tính các chất ma tuý tổng hợp... Hệ dự phòng đã định lượng được độc tố nấm aflatoxin trong thực phẩm; xét nghiệm Realtime PCR các bệnh tả, sốt xuất huyết, bạch hầu, ho gà...[66]
  • Nhiều bệnh viện tuyến huyện như Hoành Bồ, Vân Đồn, Móng Cái, Đông Triều... đã triển khai thêm những kỹ thuật tuyến tỉnh như: Phẫu thuật nội soi ổ bụng; kỹ thuật lọc máu chu kỳ; phẫu thuật sọ não; xử lý vết thương tim trong chấn thương; mổ kết hợp xương; chụp cắt lớp vi tính v.v..[66]
  • Nhiều ca bệnh khó, phức tạp trước kia phải chuyển tuyến trên nay đã cơ bản được điều trị tại tỉnh, huyện, tạo thuận lợi và giảm đáng kể chi phí cho người bệnh. Đặc biệt, việc triển khai và đưa vào hoạt động các trung tâm, đơn vị chữa trị ung bướu, tim mạch, vô sinh hiếm muộn, tự kỷ... tại các bệnh viện tuyến tỉnh đã góp phần thực hiện thành công một trong những mục tiêu quan trọng của ngành Y tế tỉnh năm qua là “tập trung phát triển chuyên khoa mũi nhọn”.[66]
Danh sách các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
STT Tên bệnh viện Địa chỉ ĐT Website
1 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phố Tuệ Tĩnh, phường Bạch Đằng, TP. Hạ Long 0203.3825489

0203.3825499

[4]
2 Bệnh viện Sản Nhi Quốc lộ 18A, phường Đại Yên, TP. Hạ Long 0203.3696568 [5]
3 Bệnh viện Bãi Cháy Đường 279, phường Giếng Đáy, TP. Hạ Long 0203.3846566

0203.3646525

[6]
4 Bệnh viện Y dược cổ truyền Đường Nguyễn Văn Cừ, phường Hồng Hà, TP. Hạ Long 0203.3838102 [7]
5 Bệnh viện Phục hồi chức năng 278 Đặng Châu Tuệ, phường Quang Hanh, TP. Cẩm Phả 0203.3737963

0203.3735015

[8]
6 Bệnh viện Bảo vệ sức khỏe tâm thần 14/361 Đặng Châu Tuệ, phường Quang Hanh, TP. Cẩm Phả 0203.3862671 [9]
7 Bệnh viện Lao và Phổi Đường Trần Phú, phường Cao Xanh, TP. Hạ Long 0203.3825101 [10]
8 Bệnh viện Đa khoa Cẩm Phả 371 Trần Phú, phường Cẩm Thành, TP. Cẩm Phả 0203.3862245 [11]
9 Bệnh viện Đa khoa khu vực Cẩm Phả Đường Trần Phú, phường Cẩm Thịnh, TP. Cẩm Phả 0203.3865294 [12]
10 Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí Đường Tuệ Tĩnh, phường Thanh Sơn, TP. Uông Bí 0203.3854037

0203.3854038 

[13]
11 Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long 10A Lê Thánh Tông, phường Hòn Gai, TP Hạ Long 0203.3828188

0203.3616188

[14]
Danh sách các trung tâm y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
STT Tên trung tâm Địa chỉ ĐT Website
1 Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh 651 Lê Thánh Tông, phường Bạch Đằng, TP. Hạ Long 0203.3825449 [15]
2 Trung tâm Y tế TP. Hạ Long 80 Trần Hưng Đạo, TP. Hạ Long 0203.3825277
3 Trung tâm Y tế TP. Cẩm Phả 445 Trần Phú, phường Cẩm Thành, TP. Cẩm Phả 0203.3862285 [16]
4 Trung tâm Y tế TP. Móng Cái Đường Tuệ Tĩnh, phường Ninh Dương, TP. Móng Cái 0203.3884773 [17]
5 Trung tâm Y tế TP. Uông Bí Đường Quang Trung, TP. Uông Bí 0203.3854452
6 Trung tâm Y tế TX. Đông Triều Phường Đức Chính, TX. Đông Triều 0203.3870061 [18]
7 Trung tâm Y tế TX. Quảng Yên Phường Quảng Yên, TX. Quảng Yên 0203.3875255
8 Trung tâm Y tế huyện Vân Đồn Thôn 12, xã Hạ Long, huyện Vân Đồn 0203.3874255 [19]
9 Trung tâm Y tế huyện Hoành Bồ Khu 2, thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ 0203.3858407 [20]
10 Trung tâm Y tế huyện Tiên Yên Phố Lý Thường Kiệt, thị trấn Tiên Yên, huyện Tiên Yên 0203.3876251
11 Trung tâm Y tế huyện Hải Hà 10 Trần Quốc Toản, thị trấn Quảng Hà, huyện Hải Hà 0203.3607858
12 Trung tâm Y tế huyện Ba Chẽ Khu 4, thị trấn Ba Chẽ, huyện Ba Chẽ 0203.3888046 [21]
13 Trung tâm Y tế huyện Cô Tô Khu 1, thị trấn Cô Tô, huyện Cô Tô 0203.3500008

0203.3889229

14 Trung tâm Y tế huyện Đầm Hà Lỷ A Coỏng, thị trấn Đầm Hà, huyện Đầm Hà 0203.3880059 [22]
15 Trung tâm Y tế huyện Bình Liêu Khu Bình An, thị trấn Bình Liêu, huyện Bình Liêu 0203.3878537

 0203.3878244

[23]
16 Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe Phường Bạch Đằng, TP. Hạ Long 0203.3629413 [24]
17 Trung tâm Kiểm nghiệm Đường Lê Thánh Tông, phường Bạch Đằng, TP. Hạ Long 0203.3828572
18 Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản Tổ 73, khu 5, phường Bạch Đằng, TP. Hạ Long 0203.3825940
19 Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội 643 Nguyễn Văn Cừ, phường Hồng Hà, TP Hạ Long 0203.3633629 [25]
20 Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế Khu Lán Bè, phường Bạch Đằng, TP. Hạ Long 0203.3826402
21 Trung tâm Giám định y khoa Quảng Ninh Phường Trần Hưng Đạo, TP. Hạ Long 0203.3825487 [26]
22 Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Đường Tuệ Tĩnh, Phường Bạch Đằng, TP. Hạ Long 0203.3627422 [27]
23 Trung tâm Vận chuyển cấp cứu Đường Lê Thánh Tông, TP. Hạ Long 0203.3825505
24 Trung tâm Pháp y Phường Trần Hưng Đạo, TP. Hạ Long 0203.3627422

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống giao thông của Quảng Ninh rất phong phú bao gồm giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển và cảng hàng không.

Đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống đường bộ có 6 tuyến Quốc lộ dài 381 km gồm QL18A, 18B, 18C, 4B, 279, 10. Đường tỉnh có 12 tuyến với 301 km, 764 km đường huyện và 2.500 km đường xã. Toàn tỉnh có 16 bến xe trong đó 6 bến xe liên tỉnh hỗn hợp[67]. Cụ thể: Bến xe trung tâm của tỉnh là Bến xe Bãi Cháy - TP Hạ Long, Bến xe Đông Triều, Bến xe Uông Bí, Bến xe Cẩm Phả, Bến xe Cửa Ông, Bến Xe Mông Dương, Bến xe Tiên Yên, Bến xe Bình Liêu, Bến xe Móng Cái, Bến xe Vân Đồn, Bến xe Liên Vị, Bến xe Hoành Bồ, Bến xe Ba Chẽ, Bến xe Hải Hà, Bến xe Hòn Gai

Các tuyến đường bộ cao tốc đang triển khai bao gồm: Cao tốc Hạ Long - Hải Phòng, Hạ Long - Vân Đồn, Vân Đồn - Móng Cái.

Danh sách các tuyến buýt hoạt động tại địa bàn Quảng Ninh:
Tuyến Tên tuyến Lộ trình Thời gian hoạt động Tần suất Công ty
Giờ mở bến Giờ đóng bến
01 Bãi Cháy - Vân Đồn Bến xe Bãi Cháy – Cột đồng hồ – Cầu Kênh Liêm – Cột 8 – Hà Tu – Cẩm Phả – Cửa Ông – Thị trấn Cái Rồng – Bãi Dài huyện Vân Đồn và ngược lại. 5h 19h 8-10 phút Liên công ty bus Quảng Ninh - Vân đồn
03 Hòn Gai - Hoành Bồ Bến xe Hòn Gai cũ – Cung văn hóa Việt Nhật – Cột đồng hồ – Kênh Liêm – đường Đông Hồ (Hồ Cô Tiên, Trung tâm hội nghị tiệc cưới Hồ Cô Tiên, Trường Đại học Hạ Long cơ sở 2, Trường Chuyên Hạ Long) – Đường Hải Long – Nhà Thi đấu TDTT Quảng Ninh – Ngã ba cứu hỏa – Cầu Bãi Cháy – Ngã tư Cảng Cái Lân – Ngã ba Hải Quân – Khu du lịch Bãi Cháy (đường Hạ Long) – Cái Dăm – Ngã tư ao cá – Bến xe Bãi Cháy – chợ Giếng Đáy – Ngã ba Hà Khẩu – Ngã ba Đồng Đăng – Thị trấn Trới và ngược lại. 5h25 17h40 10-20 phút Công ty TNHH Phúc Xuyên
04 Bãi Cháy - Mông Dương
06 Uông Bí - Vàng Danh Dốc đỏ Uông Bí – Nội thị Uông Bí – Cột Đồng Hồ Uông Bí – Đường tàu cơ giới Bắc Sơn – Lán Tháp – Vàng Danh và ngược lại.
  • Dốc đỏ: 5h
  • Vàng Danh: 5h50
  • Dốc đỏ: 17h30
  • Vàng Danh: 18h30
20 phút Công ty TNHH Phúc Xuyên
07 Móng Cái - Trà Cổ
08 Đông Triều - Hòn Gai Cổng chào tỉnh Quảng Ninh – Bến xe Đông Triều – Cầu Cầm – Cầu Thôn Mai – Trạm thu phí Mạo Khê – Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh – Trại giam Hang Son – Dốc đỏ TP. Uông Bí – Nội thị Uông Bí – Trường Đại học Hạ Long cơ sở 1 – KCN Đông Mai – Km 11 – Trạm thu phí Đại Yên – Bệnh viện Sản nhi – Ngã 3 Tuần Châu – Bến xe Bãi Cháy – KCN Cái Lân – Cầu Bãi Cháy – Tòa án Tỉnh – Siêu thị Big C Hạ Long – Công an Tỉnh – Trạm đăng kiểm Hà Tu và ngược lại. 4h45 17h30 10-15 phút Công ty TNHH Phúc Xuyên
11 Hòn Gai - Quảng Yên Cầu trắng, Cột 8 – Công an Tỉnh – Tỉnh ủy – Tòa án – Cầu Kênh Liêm – Cột đồng hồ – đường Trần Hưng Đạo – Ngã tư Loong Toòng – Cầu Bãi Cháy – Bến xe Bãi Cháy – Đại Yên – Km 11 – Cây xăng Đông Mai – Bến xe Quảng Yên – Bến phà Rừng và ngược lại. 5h15 17h45 15 phút Công ty TNHH Phúc Xuyên
13 Uông Bí - Liên Vị Dốc Đỏ – Nội thị TP.Uông Bí – Cột đồng hồ – Km 11 – Cây xăng Đông Mai – Bến xe Quảng Yên – Cầu Sông Chanh – Bến Liên Vị và ngược lại. 6h10 16h30 40-60 phút Công ty TNHH Phúc Xuyên
18 Khu đô thị phía Tây (Hải Dương) – Mạo Khê Bến xe Phía Tây TP Hải Dương – Đường Nguyễn Lương Bằng – Ngã tư Máy Sứ – Đường Điện Biên Phủ – Đường Gom Nam Quốc lộ 5 – Ngã ba đường Thanh Niên – Quốc lộ 5 -–Tiền Trung – Thị trấn Phú Thái – Đường 388 – Thị trấn Kinh Môn – TTr Minh Tân – Nhà máy xi măng Hoàng Thạch – Ngã tư Hoàng Thạch – Quốc lộ 18 – Km 64+900 (Quốc lộ 18) – Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh và ngược lại 5h 17h 30 phút Công ty Cổ phần ô tô VTHK Hải Dương và Công ty Cổ phần Hoa Anh Đào (Hải Dương)
207 Hải Dương - Uông Bí Bến xe Hải Tân (Hải Dương) – Đường Lê Thanh Nghị – Ngã tư Máy sứ – Đường Điện Biên Phủ – Quốc lộ 5 – Ngã ba Tiền Trung – Quốc lộ 183 – Ngã ba Sao Đỏ – Quốc lộ 18 – Đông Triều – Mạo Khê – Bến xe Uông Bí và ngược lại. 4h40 19h 15-20 phút Công ty Cổ phần ô tô VTHK Hải Dương và Công ty Cổ phần Hoa Anh Đào (Hải Dương)

Đường thủy[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với hệ thống đường thuỷ nội địa toàn tỉnh có 96 bến thuỷ nội địa, 5 cảng biển (9 khu bến) thuộc Danh mục cảng biển trong Quy hoạch phát triển cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Các cảng biển lớn như Cảng Cái Lân, Cảng Vạn Gia, Cảng Cửa Ông, Cảng Hòn Nét và Cảng Mũi Chùa.

Đường sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh có 65 km đường sắt quốc gia thuộc tuyến Kép - Hạ Long và hệ thống đường sắt chuyên dùng ngành than[67].

Đường hàng không[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tương lai gần, tại huyện đảo Vân Đồn sẽ hoàn thành Cảng hàng không Quốc tế Vân Đồn đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương và tham quan du lịch cho người dân và khách du lịch. Quảng Ninh cũng đã và đang phát triển dịch vụ thuỷ phi cơ cho mục đích di chuyển và ngắm cảnh. Dự kiến tháng 6/2018, sân bay quốc tế Vân Đồn sẽ chính thức đi vào hoạt động.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Tỉnh Quảng Ninh - Cải cách hành chính”. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2013. 
  2. ^ “People's Committee of Quảng Ninh”. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2013. 
  3. ^ a ă Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có dáng một hình chữ nhật lệch nằm chếch theo hướng đông bắc - tây nam.,Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh.
  4. ^ Điều kiện địa lý tự nhiên của Quảng Ninh, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  5. ^ Nhiệm vụ QHXD vùng Tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và ngoài 2050, UBND tỉnh Quảng Ninh.
  6. ^ a ă Địa hình Quảng Ninh mang tính chất là một vùng miền núi, trung du và ven biển, hình thành 3 vùng tự nhiên rõ rệt, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
  7. ^ a ă Quảng Ninh là tỉnh miền núi - duyên hải. Hơn 80% đất đai là đồi núi., Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh.
  8. ^ a ă â b “Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh | Địa hình”. 
  9. ^ Biến tiềm năng thành lợi thế phát triển, Theo Báo Quảng Ninh.
  10. ^ a ă â b c d “ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN XÃ HỘI”. 
  11. ^ “Khai thác lợi thế vùng “rừng vàng””. 
  12. ^ a ă “Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh | Khí hậu”. 
  13. ^ Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh.
  14. ^ a ă â “Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh | Sông ngòi và chế độ thuỷ văn”. 
  15. ^ Quảng Ninh có đến 30 sông, suối dài trên 10 km nhưng phần nhiều đều nhỏ, Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh.
  16. ^ a ă “Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh | Tài nguyên khoáng sản”. 
  17. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k “Quá trình hình thành và phát triển tỉnh Quảng Ninh”. 
  18. ^ "Tấm bản đồ chín gạch (chữ U) của Trung Quốc" Báo Người Việt Boston
  19. ^ Nghị quyết về việc phê chuẩn việc phân vạch lại địa giới thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Hà Sơn Bình, Vĩnh Phú, Cao Lạng, Bắc Thái, Quảng Ninh và Đồng Nai do Quốc hội ban hành
  20. ^ Quyết định số 22-CP đổi tên huyện Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh thành huyện Hải Ninh
  21. ^ Nghị định về việc thành lập thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh, Nghị định Chính phủ.
  22. ^ Nghị định 52/1998/NĐ-CP về việc thành lập thị xã Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh, Chính phủ Việt Nam.
  23. ^ Nghị định 59/2001/NĐ-CP về việc chia huyện Quảng Hà, tỉnh Quảng Ninh thành hai huyện Hải Hà và huyện Đầm Hà
  24. ^ Nghị định 03/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh
  25. ^ a ă Thành lập thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
  26. ^ Nghị quyết số 89/2011/NQ-CP ngày 24/8/2011 về việc thành lập các phường: Phương Đông, Phương Nam thuộc thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
  27. ^ Nghị quyết số 100/NQ-CP của Chính phủ: Về việc thành lập thị xã Quảng Yên và thành lập các phường thuộc thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
  28. ^ Nghị quyết số 04/NQ-CP của Chính phủ: Về việc thành lập thành phố Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh
  29. ^ “Nghị quyết 891/NQ-UBTVQH13 năm 2015 về thành lập thị xã Đông Triều và 06 phường thuộc thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.”. 
  30. ^ Đơn vị hành chính, Đất đai và Khí hậu, Niên giám thống kê 2011, Tổng cục thống kê
  31. ^ “Coi trọng công tác quản lý và thực hiện quy hoạch đô thị”. 
  32. ^ Nghị quyết số 04/NQ-CP của Chính phủ: Về việc thành lập thành phố Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  33. ^ Nghị quyết số 07/NQ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ về việc thành lập các phường thuộc thành phố Hạ Long và thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
  34. ^ Nghị quyết số 100/NQ-CP của Chính phủ: Về việc thành lập thị xã Quảng Yên và thành lập các phường thuộc thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  35. ^ “Số liệu thống kê”. 
  36. ^ “Thẩm định đề án Đề nghị công nhận thị trấn Cái Rồng mở rộng đạt đô thị loại IV”. 
  37. ^ “Quyết định công nhận thị trấn Trới là đô thị loại IV” (PDF). 
  38. ^ “Hải Hà: Nâng cao hiệu quả quy hoạch và quản lý đô thị”. 
  39. ^ “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  40. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam
  41. ^ “Khai mạc Kỳ họp thứ 5, HĐND thị xã Đông Triều khóa XIX, nhiệm kỳ 2016- 2021”. 
  42. ^ “Tiên Yên phát huy thế mạnh địa phương”. 
  43. ^ “Quảng Ninh đứng thứ 2 toàn quốc về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh”. 
  44. ^ “Quảng Ninh - 10 kết quả nổi bật năm 2017”. 
  45. ^ [1]
  46. ^ “Phát triển dịch vụ thành ngành kinh tế quan trọng hàng đầu”. 
  47. ^ “Tăng tốc phát triển dịch vụ thương mại”. 
  48. ^ Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  49. ^ “Tổng cục Thống kê - Dân số Quảng Ninh”. 
  50. ^ Dân số thành thị trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  51. ^ Dân số nông thôn trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  52. ^ Dân số nam trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  53. ^ Dân số nữ trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  54. ^ Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  55. ^ a ă Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  56. ^ a ă http://thuviendientu.baoquangninh.com.vn/cac-don-vi-hanh-chinh/201509/gioi-thieu-chung-ve-tinh-quang-ninh-2284365/index.htm.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  57. ^ “10 sự kiện tiêu biểu của tỉnh Quảng Ninh năm 2017”. 
  58. ^ ““Nghi lễ then người Tày tỉnh Quảng Ninh” - Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia”. 
  59. ^ “Hát nhà tơ - hát, múa cửa đình Quảng Ninh thành Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia”. 
  60. ^ "Lễ hội đền Cửa Ông" đón bằng công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”. 
  61. ^ “Quảng Ninh: Lễ hội Tiên Công chính thức trở thành Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia”. 
  62. ^ a ă Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam
  63. ^ Quảng Ninh có hệ thống cơ sở vật chất của ngành y tế được đầu tư đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân và các du khách trong và ngoài nước., Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh.
  64. ^ a ă “Y tế Quảng Ninh: Những đột phá góp phần nâng cao chất lượng phục vụ, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân”. 
  65. ^ “Y tế Quảng Ninh năm 2015: Năm của những kỹ thuật cao”. 
  66. ^ a ă â b c “Y tế Quảng Ninh năm 2015: Năm của những kỹ thuật cao”. 
  67. ^ a ă Hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]