Quần xã (sinh thái học)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Quần xã thực vật ở savan châu Úc.

Trong sinh học nói chung và sinh thái học nói riêng, khái niệm "quần xã" dùng để chỉ tập hợp tất cả các quần thể sinh vật khác loài cùng sống trong một sinh cảnh, trong cùng một khoảng thời gian nhất định.[1][2]

Khái niệm chung[sửa | sửa mã nguồn]

Khái niệm "quần xã" được dịch từ tiếng Anh là "community" (biology) hoặc "biocenose",[3] cũng như nhiều ngôn ngữ khác như tiếng Itali (comunità), tiếng Pháp (comunité) v.v còn có thể dịch là cộng đồng sinh học, hoặc cộng đồng sinh thái học, dùng để chỉ một nhóm tương tác của các loài khác nhau ở một địa điểm chung tạo nên hệ sinh thái.[1] Bởi thế khái niệm này còn được định nghĩa là "Một đơn vị sinh thái gồm tập hợp nhiều quần thể các loài khác nhau, cùng ở một khu vực xác định, có tương tác với nhau và môi trường của chúng".[4] Đừng nhầm lẫn với khái niệm "cộng đồng dân cư" (chỉ người), cộng đồng ngoại quốc (chỉ quốc tịch). Lại càng đừng nhầm lẫn với khái niệm biôm hay khu sinh học (trong trang: quần xã).

Ví dụ:

  • Tất cả các sinh vật trong một cái ao, gồm cá, tôm, cua, ốc, tảo, cây thuỷ sinh, vi khuẩn v.v trong ao đó đã trải qua một lịch sử chung sống và có tương tác với nhau, tạo thành một quần xã ao nước ngọt.[5]
  • Quần xã rừng gồm mọi thực vật đang tồn tại, các động vật trong rừng và hệ vi khuẩn, nấm bắt nguồn từ đất trong rừng đó, tạo thành một cộng đồng sinh học.[1]

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ này được cho là do Frederic Edward Clements (1874 – 1945) nhà Sinh thái học thực vật người Mỹ đề xuất. Sau đó, thuật ngữ được phát triển và bổ sung nhờ nhà Sinh thái học người Mỹ là Henry Allan Gleason (1882–1975) với nội hàm chung như trên.[6]

Tuy nhiên, chỉ riêng trong Sinh thái học, thì thuật ngữ "quần xã" còn được sử dụng với nhiều nội hàm hẹp hơn. Chẳng hạn:[3]

Quần xã bọ Carabus auratus với mồi của nó.

-         Dùng chỉ ít nhất hai loài sinh vật cùng sinh cảnh có tương tác, như bọ cánh cứng Carabus auratus và con mồi của nó.

-         Dùng để chỉ một số loài sinh vật cùng sinh cảnh có chung đặc điểm nhất định, như: quần xã nền đáy (thường gồm trai, ốc, hến... cùng ở đáy hồ), quần xã cá Hồ Gươm sau khi nạo vét năm 2017.

-         Một tập hợp nhóm loài cùng dạng sống hoặc phương thức sống, như quần xã sinh vật nổi (plankton).

-         Một tập hợp nhóm loài cùng nơi, ví dụ: quần xã cây ở rừng nhiệt đới, quần xã kiến rừng.

-         Một tập hợp nhóm loài ưu thế, ví dụ: quần xã cây bụi, quần xã vật săn mồi ở savan. v.v.

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nghĩa chung nhất, một quần xã gồm tất cả các sinh vật của một hệ sinh thái, mà hoạt động sinh học của nó có tương tác với nhau và với môi trường vật lý (sinh cảnh) chứa nó, trong đó có quan hệ "ăn lẫn nhau", hỗ trợ nhau và nhiều kiểu quan hệ sinh thái tinh tế khác, từ đó quần xã tồn tại và phát triển ổn định.[3]

1) Cấu trúc của một quần xã biểu hiện ở số lượng loài (thành phần loài) và số lượng cá thể của mỗi loài.

  • Số lượng loài nghĩa là thành phần loài của quần xã đó: có bao nhiêu loài, gồm những loài nào?
  • Số lượng cá thể của mỗi loài chính là kích thước mỗi quần thể ở quần xã đó: có bao nhiêu con (nếu là động vật), bao nhiêu cây (nếu là thực vật), sinh khối (biomasse) thế nào?

2) Cấu trúc của quần xã còn biểu hiện ở phân bố các loài trong sinh cảnh: phân bố theo chiều thẳng đứng (thành tầng) hay theo chiều ngang (thành miền).

3) Cấu trúc của lưới thức ăn trong quần xã đó gọi là cấu trúc về dinh dưỡng gồm : chuỗi thức ăn, tháp sinh thái.

Một quần xã ổn định trong tự nhiên thường gồm 3 nhóm sinh vật : sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân giải. Trong đó, các sinh vật sản xuất (cây xanh, tảo biển, vi khuẩn lam, vi khuẩn hoá hợp) được xem là đóng vai trò chuyển vật chất vào quần xã, từ đó vào các sinh vật tiêu thụ (động vật ăn cỏ, động vật ăn thịt), rồi vật chất này được các sinh vật phân giải (vi khuẩn phân giải, nấm) chuyển ra sinh cảnh.[2] [5]

Thành phần quần xã và dòng vật chất của nó.

Tuy nhiên, trong thực tế xác định phạm vi chính xác và rõ ràng của một quần xã là rất khó, cũng như không thể vạch rõ phạm vi trao đổi vật chất của một quẩn xã, bởi vì giữa các quần xã luôn có vùng đệm (ecotone).

Nguồn trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Community (BIOLOGY)”. 
  2. ^ a ă "Sinh học Campbell" - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2010.
  3. ^ a ă â Vũ Trung Tạng: "Cơ sở Sinh thái học", Nhà xuất bản Giáo dục - Hà Nội, 2008.
  4. ^ “Community”. 
  5. ^ a ă Sách giáo khoa "Sinh học 12" - Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, 2018.
  6. ^ Herman A. Verhoef. “Community Ecology”.