Quận công

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Quận công (chữ Hán: 郡公) là một tước hiệu thời phong kiến, vua ban cho công thần hoặc thân thích, ở dưới tước Quốc công và trên tước Hầu, phong hiệu này có từ thời Tào Ngụy trong lịch sử Trung Quốc.[1]

Dưới thời Lê sơ, nhiều công thần hàng đầu từ thời kháng chiến chống quân Minh xâm lược (bao gồm cả Nguyễn Trãi) cũng chưa từng được phong tới tước Công (dù là 'Quận công' hay 'Quốc công') lúc còn sống. Phần lớn trong số này nếu có được phong tới tước Công thì cũng là hình thức truy tặng của nhà vua sau khi họ đã chết tới vài chục năm hoặc có trường hợp tới thậm chí cả hơn trăm năm. Dưới thời Lê-Trịnh trong hơn 200 năm với thể chế lưỡng đầu mà thực quyền thuộc về các chúa Trịnh (nối đời thế truyền vương tước) thì rất ít người ngoài hoàng tộc (tôn thất) hai họ Lê và Trịnh lúc sinh thời được phong tới tước Quốc công. Đa số dù có công lao và binh quyền rất lớn (chẳng hạn như Nguyễn Hữu Chỉnh) cũng thường chỉ được phong tới tước cao nhất là Quận công lúc sinh thời. Dưới thời Nguyễn việc phong tước Công ngoài hoàng tộc lại càng hiếm hơn nhiều so với thời Lê-Trịnh, một phần bởi chính sách cai trị rất khắt khe được thiết lập từ những đời vua đầu triều như Gia LongMinh Mạng. Một biệt lệ hiếm hoi là Hoàng Cao Khải được vua nhà Nguyễn phong tước 'Duyên Mậu quận công' ngay khi còn sống.

Cơ cấu[sửa | sửa mã nguồn]

Theo quan chế thời Hồng Đức thì Quận công về văn ban ngang chánh thất phẩm, võ ban tương tự. Thời Nguyễn Quận công là bậc thứ 4 trong tôn tước rất ít khi phong cho người còn sống; lấy tên Huyện làm tước danh; không ban thực ấp. Bậc này được chánh nhị phẩm. Có phủ đệ riêng với 1 Thư lại, 5 nhân viên phục vụ.

Việc ban tước Quận công theo quy luật thời Hậu Lê và Nguyễn cụ thể như sau:

  • Về phẩm trật, năm 1471, vua Lê Thánh Tông ấn định cửu phẩm. Mỗi phẩm lại chia làm hai bậc: chánh và tòng. Để định vị trí cao thấp của hệ thống tên tước, phải căn cứ vào đơn vị tư. Người càng có nhiều tư thì càng có tước cao. Tư là đơn vị của hàng tòng cửu phẩm. Cửu phẩm là hàng thấp nhất có 1 tư. Cao hơn là chánh cửu phẩm có 2 tư. Hàng tòng bát phẩm có 3 tư. Hàng chánh bát phẩm có 4 tư. Như vậy hàng cao nhất là chánh nhất phẩm có 18 tư. Hệ thống cửu phẩm dành cho quan chức nhỏ và thường dân.[2]

Tất cả có 6 tước được xếp theo thứ tự từ thấp đến cao là: Nam tước, Tử tước, Bá tước, Hầu tước, Quận công, Quốc công. Những người được phong các tước trên, mỗi người sẽ được thêm một tư. Như vậy nam tước có 19 tư và quốc công có 24 tư. Hệ thống tên tước của triều Lê được áp dụng dưới triều Nguyễn và còn được bổ túc thêm nhiều tước vị. Dựa theo bảng phẩm trật và số tư dưới triều Lê Thánh Tông thì tước vị Quận công có 23 tư.

Tước Quận công được vua ban cho những người trong hoàng tộc và những người có công với quốc gia. Nếu không phải người có công lao, danh vọng lớn, thì không được dự phong.[3] Cách thức đặt tên tước là vua chọn một địa danh của tỉnh, phủ, huyện, xã rồi thêm tên tước vào, với ngụ ý người đó có quyền tại địa phương ấy.

Nguyên tắc phong tước cụ thể như sau: "Phàm người được phong tước có đất làm thái ấp, như Thân Vương thì lấy tên tỉnh; Quận Vương, Thân Công, Quốc Công, Quận Công thì lấy tên phủ; Huyện công, huyện hầu thì lấy tên huyện; Hương công, Hương hầu, Ðình hầu thì lấy tên xã. Dưới nữa theo chức mà gọi"[4]

Ví dụ: Dưới triều Lê

  • X-Quận-công là tước phong cho công thần; X = một chữ, tên phủ huyện.

Ví dụ: Tấn-Quận-công.

  • X-Quận-công còn gọi tắt là Quận X. Như Quận Tấn là ông Tấn-Quận-công hay Huy Quận công Hoàng Đình Bảo thường được gọi là Quận Huy. Điều này cho thấy không phải là ông Quận-công tên Tấn hay tên là Huy.

Về ‘tên phủ huyện’, với những danh tước, đời Lê trung hưng như:

  • Lễ Quận công
  • Phú Quận công
  • Thọ Quận công
  • Phúc Quận công

Nhưng qua ví dụ trên thật khó lòng nghĩ rằng Lễ, Phú, Thọ, Phúc là tên phủ huyện, dù tìm hoài thì cũng khó có thể tìm thấy phủ huyện có những chữ này. Có lẽ những quy tắc trên (chỉ để diễn tả đặc tính) là tự của vị Quận công được phong. Ví dụ Cụ Vi kim Thăng tự là Đình Mật, được Vua Lê Thái Tổ phong chức Trụ quốc, tước Thảo lộ tướng quân tả đô đốc, Mật quận công.

Dưới triều Nguyễn vua Minh Mạng là người có nhiều hoàng tử nhất, tổng cộng 78 hoàng tử. Mỗi ông đều có một tên tước gắn với địa danh phủ:

  • Miên Thần/Địa danh và tên tước: Nghi Hào Quận công.
  • Miên Phú/ Ðịa Danh và tên tước: Phù Mỹ Quận Công
  • Miên Thẩm/ Ðịa danh và tên tước: Tùng Thiện Quận Công

Riêng những người trong hoàng tộc, khi được phong tước, còn được hưởng bổng lộc của triều đình. Vào năm 1840, vua Minh Mạng quy định bảng bộc lộc hàng năm cấp cho những người được phong tước trong hoàng tộc. Theo đó Quận công được ban như sau. Tên Tước/ Tiền (quan)/ Gạo (phương): Quận công/ 700/ 500.

Kỷ lục họ Ngô Trảo Nha – dòng họ 18 Quận công[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Ngô Trảo Nha, nay thuộc thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh là một trong những dòng họ thế phiệt. Khoảng thế kỷ XV, họ Ngô mới tới vùng đất này sinh cơ lập nghiệp và nhanh chóng trở thành một cự tộc võ thần.

Dưới thời Hậu LêTây Sơn, họ Ngô cả nước có 60 Quận công thì họ Ngô Trảo Nha chiếm tới 18 Quận công. Họ Ngô cả nước có 147 tước Hầu thì họ Ngô Trảo Nha chiếm 36 người, trong đó có ba người đỗ Tạo sĩ (Tiến sĩ võ). Họ Ngô cả nước có 42 tước Bá, họ Ngô Trảo Nha chiếm 6 người.

Vì vậy ngày 14 tháng 7 năm 2016, tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục Việt Nam cho họ Ngô Trảo Nha với 3 nội dung: dòng họ có nhiều Quận công nhất với 18 vị; dòng họ có nhiều đời liên tiếp được phong tước Quận công với 8 đời (từ đời thứ 5 đến đời thứ 12); òng họ có ba anh em ruột được phong tước Quận công cùng một ngày.[5]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Bảng tra Các chức quan, phẩm tước, học vị thời phong kiến Việt Nam”. Tạp chí Văn hóa Nghệ An. Ngày 4 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017. 
  2. ^ Theo Đại Việt sử ký toàn thư, kỷ nhà Hậu Lê (1460-1472)
  3. ^ Theo Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí tập 1, Quan chức chí
  4. ^ Theo sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Quốc sử quán triều Nguyễn
  5. ^ “Công nhận kỷ lục Việt Nam cho dòng họ 18 Quận công”. Báo điện tử Đài Truyền hình Việt Nam. Ngày 8 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2017. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]