Qatar

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Quatar)
Bước tới: menu, tìm kiếm
دولة قطر
Dawlat Qatar
Flag of Qatar.svg Emblem of Qatar.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Qatar
Khẩu hiệu
không có
Quốc ca
As Salam al Amiri
Hành chính
Chính phủ Quân chủ bán lập hiến
Tiểu vương
Thủ tướng
Tamim bin Hamad Al Thani
Abdullah bin Khalifah Al Thani
Ngôn ngữ chính thức tiếng Ả Rập
Thủ đô Doha
25°18′B 51°31′Đ / 25.300°B 51.517°Đ / 25.300; 51.517
Thành phố lớn nhất Doha
Địa lý
Diện tích 11.586 km² (hạng 158)
Diện tích nước 0% %
Múi giờ UTC+3
Lịch sử
Ngày thành lập 3 tháng 9 năm 1971
Dân cư
Dân số ước lượng (2016) 2.576.181[1] người (hạng 142)
Dân số (2010) 1,699,435[2] người
Mật độ 176 người/km² (hạng 76)
Kinh tế
GDP (PPP) (2017) Tổng số: 353,143 tỷ USD[3] (hạng 49)
Bình quân đầu người: 145.894 USD[3] (hạng 1)
GDP (danh nghĩa) (2015) Tổng số: 185,395 tỷ USD[3]
Bình quân đầu người: 68.940 USD[4] (hạng 4)
HDI (2014) 0,850 rất cao (hạng 32)
Đơn vị tiền tệ Riyal Qatar (QAR)
Thông tin khác
Tên miền Internet

Qatar (phiên âm tiếng Việt: Ca-ta; tiếng Ả Rập: قطر Qatar [ˈqɑtˤɑr]; phát âm thổ ngữ địa phương: [ɡɪtˤɑr]),[5][6] tên chính thức là Nhà nước Qatar (tiếng Ả Rập: دولة قطر Dawlat Qatar), là một quốc gia có chủ quyền tại Tây Á, nằm trên bán đảo nhỏ Qatar thuộc duyên hải đông bắc của bán đảo Ả Rập. Qatar chỉ có biên giới trên bộ với Ả Rập Saudi về phía nam, vịnh Ba Tư bao quanh phần còn lại của quốc gia. Một eo biển thuộc vịnh Ba Tư chia tách Qatar khỏi đảo quốc láng giềng Bahrain, ngoài ra đất nước này còn có biên giới hàng hải với Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhấtIran.

Sau thời gian nằm dưới quyền cai trị của Ottoman, Qatar trở thành một lãnh thổ bảo hộ thuộc Anh vào đầu thế kỷ 20 cho đến khi giành độc lập vào năm 1971. Gia tộc Thani cai trị Qatar từ đầu thế kỷ 19. Sheikh Jassim bin Mohammed Al Thani là người khai quốc của Nhà nước Qatar. Qatar theo chế độ quân chủ thế tập, và nguyên thủ quốc gia lấy hiệu là emir. Có tranh luận về việc Qatar là một quốc gia quân chủ lập hiến[7][8] hay quân chủ chuyên chế[9][10][11][12] Vào đầu năm 2017, tổng dân số Qatar đạt 2,3 triệu, trong đó khoảng 300 nghìn người là công dân Qatar, còn lại là ngoại kiều.[13]

Qatar có nền kinh tế thu nhập cao và là một quốc gia phát triển, dựa trên cơ sở có trữ lượng khí đốt thiên nhiên và dầu mỏ lớn thứ ba thế giới.[14] Qatar có chỉ số thu nhập bình quân cao hàng đầu thế giới, được phân loại là quốc gia có chỉ số phát triển con người rất cao và là quốc gia tiến bộ nhất trong thế giới Ả Rập về phát triển con người.[15] Qatar là một thế lực đáng kể trong thế giới Ả Rập, nước này ủng hộ một số tổ chức khởi nghĩa trong Mùa xuân Ả Rập về tài chính cũng như thông qua tổ chức truyền thông toàn cầu Al Jazeera của họ.[16][17][18] Nếu so với quy mô quốc gia, Qatar có ảnh hưởng không cân xứng trên thế giới, và được xác định là một cường quốc bậc trung.[19][20] Qatar sẽ đăng cai Giải bóng đá vô địch thế giới 2022, và là quốc gia Ả Rập đầu tiên tổ chức giải đấu này.[21]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Vết tích chạm khắc tại Jebel Jassassiyeh, có niên đại khoảng năm 4000 TCN.

Loài người cư trú tại Qatar từ khoảng 50.000 năm trước.[22] Đã khai quật được các khu định cư và công cụ có niên đại từ thời kỳ đồ đá trên bán đảo.[22] Các đồ tạo tác của Lưỡng Hà có từ thời kỳ Ubaid (khoảng 6500–3800 TCN) được phát hiện thấy tại các khu định cư duyên hải bị bỏ hoang.[23] Al Da'asa là một khu định cư nằm tại duyên hải phía tây của Qatar, đây là di chỉ Ubaid quan trọng nhất trong nước và được cho là có một khu trại nhỏ theo mùa.[24][25]

Các vật thể của Babylon thời Kassite có niên đại từ thiên niên kỷ thứ 2 TCN được tìm thấy trên Quần đảo Al Khor, chứng thực quan hệ mậu dịch giữa cư dân Qatar và người Kassite tại Bahrain ngày nay.[26] Trong số các hiện vật phát hiện được có 3 triệu vỏ sò bị nghiền và mảnh sành Kassite.[24] Có đề xuất rằng Qatar là địa điểm sớm nhất được biết đến về sản xuất thuốc nhuộm từ sò, sở hữu ngành công nghiệp thuốc nhuộm đỏ tía tại duyên hải.[23][27]

Năm 224, Đế quốc Sasanid giành quyền kiểm soát các lãnh thổ quanh vịnh Ba Tư.[28] Qatar giữ một vai trò trong hoạt động thương nghiệp của người Sasanid, đóng góp ít nhất hai mặt hàng là ngọc trai quý và thuốc nhuộm màu đỏ tía.[29] Dưới quyền của Sasanid, nhiều cư dân tại miền Đông bán đảo Ả Rập được truyền thụ Cơ Đốc giáo từ những người Cơ Đốc giáo Lưỡng Hà.[30] Các tu viện được xây dựng và có thêm các khu định cư được hình thành trong thời kỳ này.[31][32] Trong phần sau của thời kỳ Cơ Đốc giáo, Qatar có một khu vực mang tên 'Beth Qatraye' (theo tiếng Syriac nghĩa là "khu vực của người Qatar").[33] Khu vực không chỉ hạn chế tại Qatar; mà còn gồm Bahrain, đảo Tarout, Al-Khatt, và Al-Hasa.[34]

Năm 628, Muhammad phái một sứ giả Hồi giáo đến chỗ một quân chủ tại miền Đông của bán đảo Ả Rập tên là Munzir ibn Sawa Al Tamimi và yêu cầu rằng ông ta cùng thần dân chấp nhận Hồi giáo. Munzir đáp ứng và do đó hầu hết các bộ lạc Ả Rập trong khu vực cải sang Hồi giáo.[35] Sau khi chấp nhận Hồi giáo, người Ả Rập lãnh đạo cuộc chinh phục Ba Tư với kết quả là Đế quốc Sasanid sụp đổ.[36]

Thời kỳ Hồi giáo (661–1783)[sửa | sửa mã nguồn]

Qatar được mô tả là một trung tâm gây giống ngựa và lạc đà nổi tiếng trong thời kỳ Umayyad (661-750) .[37] Trong thế kỷ 8, khu vực bắt đầu hưởng lợi từ vị trí chiến lược về thương nghiệp tại vịnh Ba Tư và trở thành một trung tâm mậu dịch ngọc trai.[38][39]

Trong thời kỳ Abbas (750–1258), ngành ngọc trai quanh bán đảo Qatar có bước phát triển đáng kể.[37] Tàu thuyền đi từ Basra đến Ấn Độ và Trung Quốc dừng lại tại các cảng của Qatar trong giai đoạn này. Đồ sứ Trung Quốc, tiền đồng Tây Phi và đồ tạo tác từ Thái Lan đều được phát hiện tại Qatar.[36] Các tàn tích khảo cổ học từ thế kỷ 9 cho thấy rằng các cư dân Qatar sử dụng của cải tăng lên để xây dựng nhà ở và công trình công cộng có chất lượng cao hơn. Trên 100 nhà ở, hai thánh đường, và một công sự của triều Abbas làm bằng đá được xây tại Murwab trong thời kỳ này.[40][41] Tuy nhiên, đến khi phần trọng tâm của đế quốc là Iraq suy giảm độ phồn vinh thì tình hình tại Qatar cũng tương tự.[42]

Phần lớn miền Đông của bán đảo Ả Rập nằm dưới quyền kiểm soát của triều đại Usfur vào năm 1253, song quyền kiểm soát khu vực về tay Vương quốc Ormus vào năm 1320.[43] Ngọc trai của Qatar là một trong các nguồn thu nhập chủ yếu của Ormus.[44] Năm 1515, Manuel I của Bồ Đào Nha biến Vương quốc Ormus thành nước lệ thuộc. Bồ Đào Nha chiếm được một phần lớn tại miền đông bán đảo Ả Rập tính đến năm 1521.[44][45] Năm 1550, các cư dân Al-Hasa (nay thuộc Ả Rập Saudi) tình nguyện phục tùng quyền cai trị của Ottoman vì ưa thích đế quốc này hơn Bồ Đào Nha.[46] Sau khi duy trì hiện diện quân sự không đáng kể trong khu vực, người Ottoman bị bộ lạc Bani Khalid trục xuất vào năm 1670.[47]

Bahrain và Saudi cai trị (1783–1868)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1766, bộ lạc Utub của gia tộc Khalifa di cư từ Kuwait đến Zubarah tại Qatar.[48][49] Khi họ đến, Bani Khalid thi hành quyền lực ở mức độ yếu đối với bán đảo.[50] Năm 1783, các thị tộc Bani Utbah có căn cứ tại Qatar và các bộ lạc Ả Rập đồng minh tiến hành xâm chiếm và sáp nhập Bahrain từ tay người Ba Tư. Gia tộc Khalifa áp đặt quyền lực của họ đối với Bahrain và mở rộng khu vực thẩm quyền của mình đến Qatar.[48]

Một đoạn khôi phục cục bộ của thị trấn đổ nát Zubarah.

Sau khi Saud ibn Abd al-Aziz trở thành thái tử của triều đại Wahhabi (nay thuộc Ả Rập Saudi) vào năm 1788, ông chuyển sang bành trướng lãnh thổ của mình về phía đông hướng đến vịnh Ba Tư và Qatar. Sau khi đánh bại Bani Khalid vào năm 1795, người Wahhabi bị tấn công trên hai mặt trận: quân Ottoman và Ai Cập (thuộc Ottoman) tấn công trên mặt trận phía tây, còn quân Al Khalifa tại Bahrain và quân Oman phát động tấn công trên mặt trận phía đông.[51][52] Đến khi nhận thức được thế tiến của quân Ai Cập tại mặt trận phía tây vào năm 1811, quân chủ của Wahhabi cho giảm đóng quân tại Bahrain và Zubarah (thuộc miền bắc Qatar) để tái bố trí lực lượng. Said bin Sultan của Muscat lợi dụng cơ hội này để tấn công quân đồn trú Wahhabi trên mặt trận phía đông, phóng hoả công sự tại Zubarah. Gia tộc Al Khalifa sau đó quay lại nắm quyền trên thực địa.[52]

Để trừng phạt nạn hải tặc, một tàu của Công ty Đông Ấn Anh bắn phá Doha vào năm 1821, tàn phá thị trấn và buộc hàng trăm cư dân phải tị nạn. Năm 1825, gia tộc Thani hình thành với Sheikh Mohammed bin Thani là thủ lĩnh đầu tiên.[53]

Mặc dù Qatar có vị thế pháp lý là một lãnh thổ phụ thuộc của Bahrain, song tồn tại một tình cảm oán giận lan rộng chống gia tộc Al Khalifa. Năm 1867, gia tộc Al Khalifa cùng với quân chủ của Abu Dhabi phái một lực lượng hải quân lớn đến Al Wakrah (thuộc miền đông Qatar) nhằm dẹp tan các phiến quân Qatar. Kết quả là Chiến tranh Qatar–Bahrain năm 1867–1868, trong đó quân Bahrain và Abu Dhabi cướp phá Doha và Al Wakrah.[54] Tuy nhiên, hành vi thù địch của Bahrain vi phạm Hiệp ước Anh-Bahrain năm 1820. Chính trị gia người Anh Lewis Pelly đưa ra một dàn xếp vào năm 1868. Chuyến công tác của ông đến Bahrain và Qatar và kết quả là hiệp định hoà bình là các mốc lịch sử vì chúng ngầm định công nhận tính riêng biệt của Qatar khỏi Bahrain và thừa nhận rõ ràng vị thế của Mohammed bin Thani. Ngoài khiển trách Bahrain vi phạm thoả thuận, quan bảo hộ người Anh yêu cầu đàm phán với một đại biểu từ Qatar, và Mohammed bin Thani được lựa chọn. Kết quả đàm phán là Qatar có một nhận thức mới về bản sắc chính trị, dù không giành được vị thế một lãnh thổ bảo hộ cho đến năm 1916.

Ottoman cai trị (1871–1915)[sửa | sửa mã nguồn]

Thành cổ Doha, tháng 1 năm 1904.

Dưới áp lực quân sự và chính trị từ thống đốc tỉnh Baghdad thuộc Ottoman là Midhat Pasha, gia tộc Al Thani quy phục Ottoman vào năm 1871.[55] Chính phủ Ottoman tiến hành các biện phát cải cách (Tanzimat) về thuế và đăng ký đất nhằm hợp nhất hoàn toàn các khu vực này vào đế quốc.[55] Bất chấp việc các bộ lạc địa phương phản đối, gia tộc Al Thani tiếp tục hỗ trợ Ottoman cai trị. Tuy nhiên, quan hệ Qatar-Ottoman nhanh chóng đình trệ, và đến năm 1882 nó thụt lùi hơn nữa khi Ottoman từ chối viện trợ gia tộc Al Thani chinh phạt Al Khor (nay thuộc phía bắc Qatar) đang do Abu Dhabi chiếm đóng. Ngoài ra, Ottoman giúp đỡ thần dân của mình là Mohammed bin Abdul Wahab nỗ lực lật đổ Al Thani khỏi chức kaymakam (huyện trưởng) của Qatar vào năm 1888.[56] Kết quả là gia tộc Al Thani tiến hành khởi nghĩa chống Ottoman, cho rằng Ottoman tìm cách cướp đoạt quyền kiểm soát bán đảo. Thủ lĩnh gia tộc Al Thani từ chức kaymakam và dừng trả thuế vào tháng 8 năm 1892.[57] Trong tháng 2 năm 1893, Mehmed Hafiz Pasha đến Qatar, Jassim bin Mohammed Al Thani lo sợ và triệt thoái đến Al Wajbah (16 km về phía tây của Doha) cùng với một số thành viên bộ lạc. Yêu cầu của Mehmed rằng Jassim giải tán quân đội và tuyên thệ trung thành với Ottman bị từ chối. Đến tháng 3, Mehmed cho tống giam em trai của Jassim và 13 thủ lĩnh bộ lạc nổi bật khác của Qatar. Sau đó Mehmed lệnh cho binh sĩ tiến quân hướng đến Pháo đài Al Wajbah của Jassim, báo hiệu khởi đầu trận Al Wajbah.[36] Một lực lượng lớn bộ binh và kỵ binh Qatar khai hoả ác liệt vào binh sĩ của Mehmed . Kết quả là Qatar giành thắng lợi và Ottoman phóng thích các tù nhân để được an toàn đi đến Hofuf (nay thuộc Ả Rập Saudi).[58] Mặc dù Qatar không giành được độc lập hoàn toàn từ Ottoman, song kết quả của trận đánh là một hiệp ước tạo nền tảng để sau đó Qatar trở thành quốc gia tự trị trong đế quốc.[59]

Anh cai trị (1916–1971)[sửa | sửa mã nguồn]

Pháo đải Zubarah được xây dựng vào năm 1938.

Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Ottoman rơi vào hỗn loạn sau nhiều thất bại tại các chiến trường khác nhau trên Mặt trận Trung Đông. Qatar tham gia khởi nghĩa Ả Rập chống lại Ottoman. Cuộc khởi nghĩa thành công và quyền cai trị của Ottoman tại Qatar càng suy yếu đi. Anh Quốc và Ottoman chấp thuận để Abdullah bin Jassim Al Thani và những người thừa kế của ông có quyền cai trị toàn bán đảo Qatar. Ottoman từ bỏ mọi quyền lợi của mình đối với Qatar, và Abdullah bin Jassim Al Thani (là người thân Anh) buộc họ từ bỏ Doha vào năm 1915.[60]

Theo kết quả phân chia Đế quốc Ottoman, Qatar trở thành một lãnh thổ bảo hộ thuộc Anh vào ngày 3 tháng 11 năm 1916. Vào ngày này, Anh Quốc ký kết một hiệp ước với Abdullah bin Jassim Al Thani để đưa Qatar vào Hệ thống chính phủ Đình chiến. Abdullah chấp thuận không tham gia bất kỳ quan hệ nào với bất kỳ thế lực nào khác nếu chưa được chính phủ Anh đồng ý trước, trong khi người Anh đảm bảo bảo hộ cho Qatar khỏi tất cả hành động gây hấn trên biển.[60] Ngày 5 tháng 5 năm 1935, Abdullah ký một hiệp ước khác với chính phủ Anh, theo đó Anh bảo hộ Qatar trước các đe doạ bên trong và bên ngoài.[60] Trữ lượng dầu mỏ được phát hiện vào năm 1939, tuy nhiên việc khai thác bị trì hoãn do Chiến tranh thế giới thứ hai.

Phạm vi ảnh hưởng của Đế quốc Anh bắt đầu thu hẹp sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong thập niên 1950, dầu mỏ thay thế ngọc trai và ngư nghiệp trở thành nguồn thu nhập chủ yếu của Qatar. Tiền từ dầu mỏ bắt đầu được tài trợ cho mở rộng và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng của Qatar. Áp lực về việc Anh triệt thoái khỏi các tiểu vương quốc Ả Rập tại vịnh Ba Tư gia tăng trong thập niên 1950. Đến khi Anh chính thức công bố vào năm 1968 rằng họ sẽ giải phóng chính trị khỏi vịnh Ba Tư trong thời gian ba năm, Qatar dự định cùng Bahrain và bảy nhà nước Đình chiến khác (về sau trở thành Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất) hình thành một liên bang. Tuy nhiên, các tranh chấp khu vực nhanh chóng khiến Qatar từ bỏ dự định này và tuyên bố độc lập.

Độc lập (1971–nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Thuyền truyền thống và quanh cảnh Doha.

Ngày 3 tháng 9 năm 1971, các hiệp ước đặc biệt với Anh kết thúc[61] bằng một thoả thuận giữa quân chủ của Qatar và chính phủ Anh.[62][63]

Năm 1991, Qatar đóng vai trò quan trọng trong Chiến tranh vùng Vịnh, đặc biệt là trong trận Khafji khi mà xe tăng của Qatar lăn trên đường phố thị trấn và hỗ trợ hoả lực cho Ả Rập Saudi giao tranh với Iraq. Qatar cho phép binh sĩ liên quân từ Canada sử dụng lãnh thổ làm căn cứ không quân, và cũng cho phép không quân Hoa Kỳ và Pháp hoạt động trên lãnh thổ của mình.[22]

Năm 1995, Thái tử Hamad bin Khalifa Al Thani đoạt quyền kiểm soát quốc gia từ người cha là Khalifa bin Hamad Al Thani với ủng hộ của quân đội và nội các cũng như các quốc gia láng giềng[64] và Pháp.[65] Dưới thời Hamad, Qatar trải qua tự do hoá có chừng mực, bao gồm phát sóng đài truyền hình Al Jazeera (1996), cho phép nữ giới bỏ phiếu trong bầu cử cấp đô thị (1999), soạn thảo hiến pháp thành văn đầu tiên của mình (2005) và khánh thành một nhà thờ Công giáo La Mã (2008). Năm 2010, Qatar giành quyền đăng cai Giải bóng đá vô địch thế giới 2022, là quốc gia đầu tiên tại Trung Đông được chọn đăng cai giải đấu này. Tiểu vương từng tuyên bố có kế hoạch tổ chức bầu cử cơ quan lập pháp quốc gia lần đầu vào năm 2013, song bị hoãn lại đến sớm nhất là năm 2019.

Năm 2003, Qatar trở thành đại bản doanh Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ và là một trong các địa điểm chính phát động xâm chiếm Iraq.[66] Trong tháng 3 năm 2005, một vụ đánh bom tự sát làm một người thiệt mạng và 15 người bị thương tại Doha gây chấn động toàn quốc, do trước đó Qatar chưa từng xảy ra hành động khủng bố nào.[67] Năm 2011, Qatar tham gia can thiệp quân sự tại Libya và được tường thuật là trang bị vũ khí cho các tổ chức đối lập Libya.[68] Qatar cũng là một nhà tài trợ vũ khí chủ yếu cho các nhóm phiến quân trong nội chiến Syria.[69]

Trong tháng 6 năm 2013, Tamim bin Hamad Al Thani trở thành tiểu vương của Qatar sau khi được cha trao lại quyền lực.[70] Sheikh Tamim đặt ưu tiên vào cải thiện phúc lợi nội bộ của công dân, trong đó có tạo lập các hệ thống y tế và giáo dục tiến bộ, và mở rộng hạ tầng quốc gia để chuẩn bị cho việc đăng cai Giải bóng đá vô địch thế giới 2022.[71] Năm 2015, Qatar tham gia chiến dịch can thiệp quân sự do Ả Rập Saudi lãnh đạo tại Yemen chống lại phiến quân Houthis và lực lượng trung thành với cựu tổng thống Ali Abdullah Saleh.[72]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu vương Tamim bin Hamad Al Thani và Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Chuck Hagel, tháng 12 năm 2013.

Qatar được nhận định là quốc gia quân chủ lập hiến[7][8] hoặc quân chủ chuyên chế[10][12] do gia tộc Al Thani cai trị.[73][74] Triều đại Al Thani cai trị Qatar kể từ khi gia tộc này thành lập vào năm 1825.[75] Năm 2003, Qatar thông qua hiến pháp mới theo đó cho phép bầu cử trực tiếp 30 trong số 45 thành viên của Hội đồng Lập pháp.[75][76][77]

Emir (tiểu vương) thứ tám của Qatar là Tamim bin Hamad Al Thani, ông được cha là Hamad bin Khalifa Al Thani chuyển giao quyền lực vào ngày 25 tháng 6 năm 2013.[78] Tiểu vương nắm độc quyền bổ nhiệm và bãi nhiệm thủ tướng và các thành viên nội các, tức thành viên của Hội đồng Bộ trưởng.[79] Hội đồng Bộ trưởng cũng đề xướng pháp luật, pháp luật và sắc lệnh do Hội đồng Bộ trưởng đề xuất được chuyển cho Hội đồng Cố vấn (Majilis Al Shura) để thảo luận và sau đó chúng được trình lên Tiểu vương để phê chuẩn.[79] Hiện tại thành viên của Hội đồng Cố vấn đều do Tiểu vương bổ nhiệm.[75]

Pháp luật Qatar không cho phép thành lập các thể chế chính trị hoặc công đoàn.[80]

Luật Sharia là nguồn chính của pháp luật Qatar theo nội dung Hiến pháp Qatar.[81][82] Trong thực tế, hệ thống pháp luật Qatar là hỗn hợp của dân luật và luật Sharia.[83][84] Luật Sharia được áp dụng cho các luật liên quan đến gia đình, thừa kế, và một số hành vi hình sự (như thông dâm, cướp và giết người). Trong một số vụ tố tụng tại các toà án gia đình dựa theo luật Sharia, lời làm chứng của một nữ giới có giá trị bằng một nửa lời làm chứng của một nam giới.[85] Luật gia đình được hệ thống hoá vào năm 2006. Chế độ đa thê Hồi giáo được cho phép trong nước.[65]

Đánh roi được sử dụng tại Qatar để trừng phạt tội tiêu thụ đồ uống có cồn hoặc quan hệ tình dục bất hợp pháp.[86] Điều 88 của bộ luật hình sự Qatar quy định hình phạt cho tội thông dâm là 100 roi.[87] Ném đá là một biện pháp trừng phạt pháp lý tại Qatar.[88] Bội giáo là một tội có thể bị tử hình tại Qatar.[89] Báng bổ có thể bị trừng phạt đến bảy năm tù và tội khuyến dụ cải đạo có thể bị trừng phạt đến 10 năm tù.[89] Đồng tính luyến ái là một tội có thể bị tử hình.[90]

Tiêu thụ đồ uống có cồn là việc hợp pháp cục bộ tại Qatar; một số khách sạn sang trọng được phép bán đồ uống có cồn cho các khách hàng phi Hồi giáo.[91][92] Người Hồi giáo không được phép tiêu thụ đồ uống có cồn tại Qatar và nếu vi phạm có thể bị đánh roi hoặc trục xuất. Ngoại kiều phi Hồi giáo có thể xin giấy phép mua đồ uống có cồn để tiêu thụ cá nhân. Công ty Phân phối Qatar được phép nhập khẩu đồ uống có cồn và thịt lợn, cửa hàng rượu duy nhất của công ty và Qatar cũng bán thịt lợn cho người có giấy phép mua rượu.[93][94] Các quan chức Qatar cũng biểu thị sẵn sàng cho phép đồ uống có cồn trong "các khu vực người hâm mộ" tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2022.[95]

Theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, công nhân ngoại quốc tình nguyện đến Qatar để làm lao động kỹ năng thấp hay giúp việc gia đình, song một số người sau đó phải đối diện với tình trạng phục tùng không tự nguyện. Một số vi phạm quyền lao động phổ biến như đánh đập, không trả lương, thu tiền của công nhân để trả các phí mà người chủ có trách nhiệm, hạn chế tự do di chuyển, giam cầm tuỳ tiện, đe doạ tố tụng, và tấn công tình dục.[96] Nhiều công dân di cư đến làm việc tại Qatar phải trả phí quá cao cho nhà tuyển mộ tại quê nhà.[96]

Quan hệ ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Là một quốc gia nhỏ bên cạnh các láng giềng lớn, Qatar nỗ lực phát huy ảnh hưởng và bảo vệ quốc gia cùng triều đại.[97] Từ năm 1760 đến năm 1971, Qatar tìm kiếm bảo hộ chính thức từ các thế lực như Ottoman, Anh, triều đại Al-Khalifa từ Bahrain, triều đại Wahhabi từ Ả Rập Saudi.[98][cần số trang] Mức độ chú ý quốc tế gia tăng và vai trò tích cực trong sự vụ quốc tế của Qatar khiến một số nhà phân tích nhận định đây là một cường quốc bậc trung. Qatar là một thành viên từ ban đầu của OPEC và là một thành viên sáng lập của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC). Qatar cũng là một thành viên của Liên đoàn Ả Rập. Qatar không chấp thuận thẩm quyền cưỡng chế của Tòa án Công lý Quốc tế.[75]

Qatar cũng có quan hệ song phương với nhiều cường quốc. Qatar có căn cứ không quân Al Udeid của Mỹ và Anh, là trung tâm của toàn bộ hoạt động hàng không của Mỹ và Anh tại vịnh Ba Tư.[99] Mặc dù sở hữu căn cứ chiến lược này, Qatar không phải luôn là một đồng minh nhiệt tình của phương Tây. Qatar từng cho phép Taliban lập một văn phòng chính trị và có quan hệ mật thiết với Iran, bao gồm chia sẻ một mỏ khí đốt.[100] Theo các văn kiện bị rò rỉ trên The New York Times, thành tích của Qatar về các nỗ lực chống khủng bố là "tệ nhất trong khu vực".[101] Bức điện cho rằng cơ quan an ninh của Qatar "do dự về hành động chống lại các phần tử khủng bố đã được nhận dạng do lo ngại tỏ ra liên kết với Hoa Kỳ và kích động trả thù".[101]

Qatar có quan hệ hỗn hợp với các láng giềng trong khu vực vịnh Ba Tư. Qatar ký một thoả thuận hợp tác phòng thủ với Iran,[102] hai quốc gia chỉa sẻ mỏ khí đốt đơn lẻ lớn nhất thế giới. Qatar là quốc gia thứ nhì sau Pháp công khai tuyên bố công nhận Hội đồng Chuyển tiếp Quốc gia Libya là chính phủ hợp pháp của Libya trong bối cảnh nội chiến Libya 2011.[103]

Năm 2014, quan hệ giữa Qatar với Bahrain, Ả Rập Saudi, và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất trở nên căng thẳng do Qatar ủng hộ Tổ chức Anh em Hồi giáo[64] và các nhóm cực đoan tại Syria.[104] Tính đến năm 2015, Qatar, Ả Rập Saudi và Thổ Nhĩ Kỳ công khai hỗ trợ Quân đội Chinh phục,[105][106] một nhóm chống chính phủ trong Nội chiến Syria bao gồm Mặt trận Al-Nusra và liên minh Salafi khác là Ahrar ash-Sham.[107][108] Qatar ủng hộ tổng thống dân cử Mohamed Morsi của Ai Cập thông qua ngoại giao và mạng lưới truyền thông Al Jazeera trước khi ông ta bị hạ bệ do đảo chính.[109][110] Mối liên kết giữa Qatar với Hamas được báo cáo lần đầu vào đầu năm 2012,[111] hứng chịu chỉ trích từ Israel, Hoa Kỳ, Ai Cập và Ả Rập Saudi, "những nước buộc tội Qatar phá hoại ổn định khu vực bằng cách ủng hộ Hamas."[112]

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Dassault Mirage 2000 của Qatar bay trên không phận Libya.

Qatar duy trì lực lượng quân sự khiêm tốn gồm khoảng 11.800 người, trong đó có lục quân (8.500), hải quân (1.800) và không quân (1.500). Qatar gần đây đã ký kết các thoả ước phòng thủ với Hoa Kỳ và Anh Quốc, trước đó từng ký kết với Pháp vào năm 1994. Qatar giữ vai trò tích cực trong các nỗ lực phòng thủ tập thể của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh. Qatar có một căn cứ không quân lớn do Hoa Kỳ vận hành, tạo ra một nguồn đảm bảo về quốc phòng và an ninh. Chi tiêu quốc phòng của Qatar chiếm khoảng 4,2% GDP vào năm 1993. Năm 2008, Qatar chi tiêu 2,355 tỷ USD cho quân sự, chiếm 2,3% GDP.[113] Lực lượng đặc biệt của Qatar do Pháp và các quốc gia phương Tây khác huấn luyện và được cho là có kỹ năng đáng kể.[114] Họ từng giúp phiến quân Libya trong trận Tripoli (2011).[114] Viện Nghiên cứu Hoà bình Quốc tế Stockholm (SIPRI) cho rằng vào giai đoạn 2010–14 Qatar là nước nhập khẩu vũ khí lớn thứ 46 trên thế giới. Tuy nhiên, báo cáo của SIPRI viết rằng Qatar đã tăng tốc các kế hoạch nhằm chuyển đổi và mở rộng đáng kể lực lượng vũ trang.[115]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bờ biển sa mạc
Cảnh quan sa mạc tại Qatar

Bán đảo Qatar nhô ra 160 km vào vịnh Ba Tư, nằm giữa vĩ tuyến 24° và 27° Bắc, giữa kinh tuyến 50° và 52° Đông. Hầu hết lãnh thổ gồm một đồng bằng thấp và khô cằn, phủ đầy cát. Về phía đông nam có Khor al Adaid ("biển nội địa"), một khu vực có các đụn cát lăn bao quanh một vịnh nhỏ của vịnh Ba Tư.

Điểm cao nhất tại Qatar là Qurayn Abu al Bawl với cao độ 103 m[75] tại Jebel Dukhan ở phía đông, nó là một dãy đá vôi lộ đỉnh chạy theo chiều bắc-nam từ Zikrit qua Umm Bab đến biên giới phía nam. Khu vực Jebel Dukhan cũng có mỏ dầu trên bộ chính của Qatar, trong khi các mỏ khí đốt nằm ở ngoài khơi, về phía tây bắc của bán đảo.

Qatar ký kết Công ước về Đa dạng sinh học vào ngày 11 tháng 6 năm 1992, và trở thành một bên của công ước vào ngày 21 tháng 8 năm 1996.[116] Sau đó nước này đưa ra một kế hoạch quốc gia về đa dạng sinh học, được công ước thừa nhận vào năm 2005.[117] Tổng cộng 142 loài nấm được phát hiện tại Qatar.[118] Một cuốn sách gần đây của Bộ Môi trường dẫn ra rằng các loài thằn lằn được biết hoặc được cho là tồn tại trong Qatar, dựa trên một nghiên cứu quốc tế.[119]

Trong hai thập niên, Qatar có lượng phát thải CO2 bình quân cao nhất thế giới, đạt 49,1 tấn trên người vào năm 2008.[120] Người dân Qatar cũng nằm trong số tiêu thụ nước bình quân cao nhất thế giới, mỗi người trung bình sử dụng khoảng 400 lít nước mỗi ngày.[121]

Năm 2008, Qatar phát động Tầm nhìn quốc gia 2030, trong đó nhấn mạnh phát triển môi trường là một trong bốn mục tiêu chính của Qatar trong hai thập niên sau. Tầm nhìn quốc gia cam kết phát triển lựa chọn thay thế bền vững cho năng lượng dựa trên dầu mỏ nhằm bảo vệ môi trường địa phương và toàn cầu.[122]

Dữ liệu khí hậu của Qatar
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình cao °C (°F) 22
(72)
23
(73)
27
(81)
33
(91)
39
(102)
42
(108)
42
(108)
42
(108)
39
(102)
35
(95)
30
(86)
25
(77)
33.3
Trung bình thấp, °C (°F) 14
(57)
15
(59)
17
(63)
21
(70)
27
(81)
29
(84)
31
(88)
31
(88)
29
(84)
25
(77)
21
(70)
16
(61)
23.0
Giáng thủy mm (inch) 12.7
(0.5)
17.8
(0.701)
15.2
(0.598)
7.6
(0.299)
2.5
(0.098)
0
(0)
0
(0)
0
(0)
0
(0)
0
(0)
2.5
(0.098)
12.7
(0.5)
71
(2,8)
Nguồn: http://us.worldweatheronline.com/doha-weather-averages/ad-dawhah/qa.aspx

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ 7 thành phố của Qatar

Từ năm 2004, Qatar được chia thành bảy thành phố gọi là baladiyah.[123]

  1. Madinat ash Shamal
  2. Al Khor
  3. Umm Salal
  4. Al Daayen
  5. Al Rayyan
  6. Doha
  7. Al Wakrah

Các thành phố được chia nhỏ thành 98 khu vực.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí mỏ khí đốt tự nhiên North Field.
Khu thương mại tại Doha.

Trước khi phát hiện được dầu mỏ, kinh tế Qatar tập trung vào ngư nghiệp và tìm kiếm ngọc trai. Báo cáo của thống đốc địa phương thuộc đế quốc Ottoman vào năm 1892 viết rằng tổng thu nhập từ tìm kiếm ngọc trai vào năm 1892 là 2.450.000 kran.[54] Sau khi ngọc trai nuôi cấy của Nhật Bản xuất hiện trên thị trường thế giới vào thập niên 1920 và 1930, ngành công nghiệp ngọc trai của Qatar phá sản. Phát hiện thấy dầu mỏ tại Qatar vào năm 1940, tại mỏ Dukhan.[124] Dầu mỏ từ đó biến đổi kinh tế Qatar, và hiện nay đây là quốc gia có tiêu chuẩn sinh hoạt cao (đối với các công dân). Qatar không áp thuế thu nhập, và là một trong các quốc gia có mức thuế thấp nhất trên thế giới. Tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 6 năm 2013 là 0,1%.[125] Luật doanh nghiệp yêu cầu công dân Qatar cần phải nắm giữ 51% của bất kỳ dự án kinh doanh nào tại đây.[65]

Tính đến năm 2016, Qatar có GDP/người cao thứ tư trên thế giới, theo số liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế[126] Qatar phụ thuộc cao độ vào người lao động ngoại quốc để phát triển kinh tế, quy mô công nhân di cư lên đến 86% dân số và 94% lực lượng lao động (theo một tường thuật vào năm 2015).[127][128] Tăng trưởng kinh tế của Qatar hầu như chỉ dựa trên ngành dầu khí.[129] Qatar là quốc gia xuất khẩu khí đốt tự nhiên hoá lỏng hàng đầu thế giới.[114] Năm 2012, một ước tính cho rằng Qatar sẽ đầu tư trên 120 tỷ USD vào lĩnh vực năm lượng trong khoảng 10 năm sau đó.[130] Qatar là thành viên của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC), gia nhập tổ chức này từ năm 1961.[131]

Năm 2012, Qatar giữ được vị trí quốc gia giàu nhất thế giới (xét theo thu nhập bình quân) lần thứ ba liên tiếp, sau khi vượt qua Luxembourg vào năm 2010. Theo nghiên cứu của Viện Tài chính Quốc tế tại Washington, D.C., GDP/người của Qatar xét theo ngang giá sức mua (PPP) là 106.000 USD (387.000 riyal Qatar) vào năm 2012. Theo nghiên cứu này thì GDP của Qatar đạt 182 tỷ USD vào năm 2012 và được cho là lên mức cao nhất trong lịch sử do xuất khẩu khí đốt gia tăng và giá dầu cao. Nghiên cứu cho biết rằng Cơ quan Đầu tư Qatar (QIA) có tài sản 115 tỷ USD, xếp hạng 12 trong số các quỹ đầu tư quốc gia lớn nhất thế giới.[132] Cơ quan Đầu tư Qatar được thành lập vào năm 2005, là quỹ đầu tư quốc gia chuyên về đầu tư ra nước ngoài.[133] Sở hữu hàng tỷ USD thu được từ ngành dầu khí, chính phủ Qatar tiến hành đầu tư trực tiếp vào Hoa Kỳ, châu Âu, và châu Á-Thái Bình Dương. Qatar Holding là nhánh đầu tư quốc tế của cơ quan, và kể từ năm 2009 Qatar Holding mỗi năm nhận được 30-40 tỷ USD từ nhà nước. Tính đến năm 2014, thể chế này đã đầu tư khắp thế giới trong các công ty như Valentino, Siemens, Printemps, Harrods, The Shard, Barclays Bank, sân bay Heathrow, Paris Saint-Germain F.C., Volkswagen Group, Royal Dutch Shell, Bank of America, Tiffany, Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc, Sainsbury's, BlackBerry,[134] and Santander Brasil.[135][136]

Tính đến năm 2012, Qatar có trữ lượng dầu mỏ được xác minh là 15 tỷ thùng, còn các mỏ khí đốt tại đây chiếm hơn 13% trữ lượng toàn cầu. Nhờ đó, Qatar trở thành quốc gia giàu có hàng đầu thế giới, không ai trong số hai triệu cư dân tại đây sống trước mức nghèo khổ và tỷ lệ thất nghiệp là dưới 1%.[137]

Kinh tế Qatar chịu suy thoái trong giai đoạn từ 1982 đến 1989. OPEC đặt hạn ngạch về sản lượng dầu thô, giá dầu thấp, và triển vọng nhìn chung không khả quan của thị trường quốc tế làm giảm thu nhập từ dầu mỏ. Để đối phó, chính phủ Qatar cắt giảm chi tiêu, kết quả là môi trường kinh doanh địa phương suy thoái khiến nhiều hãng cắt giảm nhân viên ngoại kiều. Do kinh tế phục hồi trong thập niên 1900, số lượng ngoại kiều lại tăng lên. Sản lượng dầu sẽ không còn đạt đỉnh 500.000 thùng (80.000 m³) mỗi ngày do các mỏ dầu dự kiến sẽ hầu như cạn kiệt đến năm 2023. Tuy nhiên, Qatar có trữ lượng khí đốt tự nhiên lớn tại duyên hải đông bắc. Kinh tế Qatar bùng nổ vào năm 1991 khi hoàn thành giai đoạn I trị giá 1,5 tỷ USD phát triển khí đốt North Field. Năm 1996, Qatargas đặt kế hoạch bắt đầu xuất khẩu khí đốt tự nhiên hoá lỏng sang Nhật Bản. Các giai đoạn tiếp theo của phát triển khí đốt North Field trị giá nhiều tỷ USD.

Các dự án công nghiệp năng của Qatar đều nằm tại Umm Said, gồm một nhà máy lọc dầu có công suất 50.000 thùng (8.000 m³) mỗi ngày, một nhà máy phân bón urea và ammoniac, một nhà máy thép, và một nhà máy hoá dầu. Toàn bộ đều sử dụng khí đốt làm nhiên liệu, và hầu hết là liên doanh giữa các hãng châu Âu và Nhật Bản với công ty quốc doanh Qatar Petroleum (QGPC). Hoa Kỳ là nhà cung cấp thiết bị lớn cho ngành dầu khí Qatar, và các công ty Hoa Kỳ đóng vai trò lớn trong phát triển khí đốt North Field.[137]

Tầm nhìn quốc gia 2030 của Qatar đặt ra việc đầu tư vào các nguồn tái tạo thành một mục tiêu lớn của nước này trong giai đoạn tới.[122] Qatar theo duổi chương trình "Qatar hoá", theo đó toàn bộ thể chế liên doanh và cơ quan chính phủ phấn đấu để đưa công dân Qatar vào các vị trí quyền lực cao hơn. Ngày càng nhiều người Qatar tiếp nhận giáo dục tại nước ngoài, trong đó nhiều người du học tại Hoa Kỳ và trở về quê hương để giữ các chức vụ chủ chốt vốn trước đây do ngoại kiều nắm giữ. Nhằm kiểm soát dòng công nhân ngoại quốc, Qatar tiến hành thắt chặt quản lý các chương trình nhân lực ngoại quốc của họ. An ninh là nền tảng chính trong các quy tắc và điều lệ nhập cảnh và nhập cư nghiêm ngặt của Qatar.[137]

Quang cảnh Doha

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số
Năm Dân số Tỉ lệ
1904 27.000 —    
1970 111.133 +311.6%
1986 369.079 +232.1%
1997 522.023 +41.4%
2004 744.029 +42.5%
2010 1.699.435 +128.4%
2013 1.903.447 +12.0%
2016 2.545.000 +33.7%
Nguồn: Cơ quan Thống kê Qatar (1904–2004);[138] 2010 Census;[2] 2013 est.[139][140] 2016[141]

Số người tại Qatar dao động đáng kể theo mùa, do quốc gia này dựa nhiều vào lao động di cư. Vào đầu năm 2017, tổng dân số Qatar là 2,6 triệu, trong đó 313.000 người là công dân Qatar (12%) và 2,3 triệu người là ngoại kiều.[13] Người ngoại quốc phi Ả Rập chiếm đa số dân số; người Ấn Độ là cộng đồng lớn nhất với số lượng là 650.000 năm 2017,[13] tiếp đến là 350.000 người Nepal, 280.000 người Bangladesh, 260.000 người Philippines, 200.000 người Ai Cập, 145.000 người Sri Lanka và 125.000 người Pakistan.[13] Dữ liệu nhân khẩu đầu tiên của Qatar là từ năm 1892, theo đó cư dân trong các đô thị tại Qatar đạt 9.830 người.[54] Theo điều tra nhân khẩu năm 2010, tổng dân số Qatar là 1.699.435.[2] Trong tháng 1 năm 2013, Cơ quan Thống kê Qatar ước tính dân số quốc gia đạt 1.903.447, trong đó 1.405.164 là nam và 498.283 là nữ.[139] Trong cuộc điều tra nhân khẩu lần đầu tiên vào năm 1970, dân số đạt 111.133.[138] Dân số tăng gấp ba lần trong một thập niên cho đến năm 2011, từ mức hơn 600.000 người vào năm 2001, khiến công dân Qatar chiếm ít hơn 15% tổng dân số.[140] Dòng lao động nam giới làm lệch cân bằng giới tính, và nữ giới hiện chỉ chiếm một phần tư dân số.

Dự báo của Cơ quan Thống kê Qatar cho rằng tổng dân số Qatar có thể đạt 2,8 triệu đến năm 2020. Chiến lược Phát triển Quốc gia Qatar (2011–16) ước tính rằng dân số quốc gia sẽ đạt 1,86 triệu vào năm 2016 với tốc độ tăng trưởng là 2,1% mỗi năm. Tuy nhiên dân số tăng lên đến 1,83 triệu vào cuối năm 2012, tăng trưởng 7,5% so với năm trước đó.[142]

Thánh đường Hồi giáo tại Qatar

Hồi giáo là tôn giáo chi phối tại Qatar và được hưởng vị thế chính thức.[143] Hầu hết các công dân Qatar thuộc phong trào Hồi giáo Salafi của hệ Sunni, và khoảng 20% người Hồi giáo tại Qatar theo Hồi giáo Shia còn các phái Hồi giáo khác có rất ít tín đồ,[144][145][146] Thành phần tôn giáo của cư dân Qatar: 67,7% là người Hồi giáo, 13,8% là người Cơ Đốc giáo, 13,8% là người Ấn Độ giáo và 3,1% là người Phật giáo, những tín đồ tôn giáo khác hoặc không liên kết tôn giáo chiếm 1,6% còn lại[147]. Tín đồ Cơ Đốc giáo tại Qatar hầu như đều là người ngoại quốc. Kể từ năm 2008, tín đồ Cơ Đốc giáo được phép xây nhà thờ trên khu đất do chính phủ tặng,[148] song hoạt động truyền giáo từ ngoại quốc không được khuyến khích một cách chính thức.[149]

Tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức tại Qatar, phương ngữ địa phương là tiếng Ả Rập Qatar. Tiếng Anh được sử dụng phổ biến trong vai trò ngôn ngữ thứ hai,[150] và ngày càng trở thành một ngôn ngữ chung, đặc biệt là trong thương nghiệp, đến mức độ người ta phải tiến hành các bước đi nhằm bảo vệ tiếng Ả Rập trước nạn xâm lấn của tiếng Anh.[151] Tiếng Anh đặc biệt hữu dụng khi giao thiệp với cộng đồng ngoại kiều đông đảo tại Qatar. Do Qatar là một quốc gia đa văn hoá, nên có nhiều ngôn ngữ được nói tại đây, như tiếng Baluchi, Hindi, Malayalam, Urdu, Pashto, Tamil, Telugu, Nepal, Sinhala, Bengal, và Tagalog, Indonesia.[152]

Văn hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hoá Qatar tương tự như văn hoá các quốc gia khác tại miền đông của bán đảo Ả Rập, chịu ảnh hưởng đáng kể của Hồi giáo. Ngày Quốc khánh Qatar được tổ chức vào 18 tháng 12 hàng năm, và có vai trò quan trọng trong phát triển ý thức bản sắc dân tộc.[153] Ngày này được tổ chức để kỷ niệm sự kiện Jassim bin Mohammed Al Thani kế vị và ông sau đó thống nhất các bộ lạc trên bán đảo.[154][155]

Bảo tàng Nghệ thuật Hồi giáo tại Doha

Bảo tàng Nghệ thuật Hồi giáo tại Doha được khai trương vào năm 2008, được cho là một trong các bảo tàng tốt nhất khu vực.[156] Nó cùng một vài bảo tàng khác của Qatar, như Bảo tàng Nghệ thuật hiện đại Ả Rập, nằm dưới quyền quản lý của Cơ quan Bảo tàng Qatar có lãnh đạo là Công chúa Al-Mayassa bint Hamad bin Khalifa Al-Thani và nhà sưu tập trứ danh Sheikh Hassan bin Mohammed Al Thani.[157] Qatar là khách hàng lớn nhất thế giới trong thị trường nghệ thuật nếu xét theo giá trị.[158] Lĩnh vực văn hoá của Qatar đang được phát triển để khiến quốc gia này được thế giới công nhận, đóng góp cho sự phát triển của một quốc gia chủ yếu dựa vào khí đốt.[159]

Tổ thông tin của kênh Al Jazeera tiếng Anh

Truyền thông tại Qatar được phân loại là "không tự do" trong báo cáo Tự do Báo chí năm 2014 của Freedom House.[160] Truyền hình bắt đầu phát sóng tại Qatar vào năm 1970.[161] Al Jazeera là hệ thống truyền hình lớn, có trụ sở tại Doha, Qatar. Al Jazeera phát sóng lần đầu vào năm 1996, và kể từ đó phát triển thành một hệ thống toàn cầu gồm một vài kênh truyền hình.

Có tường thuật rằng các nhà báo tiến hành tự kiểm duyệt, đặc biệt là nội dung liên quan đến chính phủ và hoàng tộc Qatar.[162] Chỉ trích chính phủ, tiểu vương và hoàng tộc trên truyền thông là điều bất hợp pháp. Theo Điều 46 trong luật báo chí thì tiểu vương không thể bị chỉ trích.[163] Các nhà báo cũng bị truy tố vì lăng mạ Hồi giáo.[160] Tính đến năm 2010, có bảy báo được lưu hành tại Qatar, trong đó bốn báo viết bằng tiếng Ả Rập và ba báo viết bằng tiếng Anh.[164] Ngoài ra còn có các báo từ Ấn Độ, Nepal và Sri Lanka được in tại Qatar.

Âm nhạc Qatar dựa trên thơ, ca và vũ đạo Bedouin (dân du mục Ả Rập). Các vũ đạo truyền thống được trình diễn tại Doha vào chiều thứ 6; một trong số đó là Ardah, một điệu nhảy thượng võ được cách điệu với hai hàng vũ công cùng một dàn nhạc cụ gõ như trống hay chũm choẹ.[165] Các nhạc cụ dây như oudrebaba cũng được sử dụng phổ biến.[165]

Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất tại Qatar, cả về số vận động viên và khán giả.[166] Đội tuyển U-20 quốc gia Qatar từng giành ngôi vị á quân trước Tây Đức tại giải vô địch thế giới năm 1981. Tháng 1 năm 2011, Qatar đăng cai giải vô địch bóng đá châu Á lần thứ 15. Trước đó Qatar từng đăng cai giải đấu này vào năm 1988.[167] Năm 2010, Qatar giành quyền đăng cai Giải bóng đá vô địch thế giới 2022, dù trước đó chưa từng giành quyền vào vòng chung kết của giải đấu.[168] Các môn thể thao đội tuyển khác từng đạt được thành công đáng kể tại trình độ cao cấp. Năm 2015, đội tuyển bóng ném Qatar đạt ngôi á quân trước Pháp tại giải vô địch thế giới cho nam giới.[169] Năm 2014, Qatar giành ngôi vô địch thế giới trong môn bóng rổ 3x3.[170]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học Qatar, khu vực chính

Qatar thuê RAND Corporation của Hoa Kỳ để cải cách hệ thống giáo dục 12 năm của mình.[114] Thông qua Qatar Foundation, quốc gia này cho xây dựng Education City (thành phố giáo dục), tại đó có các chi nhánh địa phương của Học viện Y Weill Cornell, Trường Khoa học máy tính Carnegie Mellon, Trường Ngoại vụ Đại học Georgetown, Trường Báo chí Đại học Northwestern, Trường Công nghệ Đại học Texas A&M, và các thể chế phương Tây khác.[114]

Tỷ lệ mù chữ tại Qatar là 3,1% đối với nam giới và 4,2% đối với nữ giới theo số liệu năm 2012, đây là mức thấp nhất trong thế giới Ả Rập, song đứng thứ 86 trên thế giới.[171] Các công dân được yêu cầu theo học tại cơ sở giáo dục công lập từ mầm non đến trung học.[172] Đại học Qatar được thành lập vào năm 1973, là cơ sở lâu năm nhất và lớn nhất toàn quốc về giáo dục bậc đại học.[173][174]

Trong tháng 11 năm 2002, Tiểu vương Hamad bin Khalifa Al Thani cho lập ra Hội đồng Giáo dục Tối cao.[175] Hội đồng chỉ đạo và quản lý giáo dục ở mọi độ tuổi từ mầm non đến đại học, bao gồm sáng kiến "Giáo dục cho thời đại mới" có mục đích định vị Qatar là một thủ lĩnh về cải cách giáo dục.[176][177] Năm 2008, Qatar cho lập ra Công viên Khoa học & Kỹ thuật Qatar tại Education City nhằm liên kết các đại học này với ngành công nghiệp. Education City còn có trường tú tài quốc tế được công nhận hoàn toàn, Viện hàn lâm Qatar. Ngoài ra, hai cơ sở của Canada là Học viện North Atlantic (trụ sở tại Newfoundland và Labrador) và Đại học Calgary đã khánh thành khu học xá của họ tại Doha. Cũng có các đại học phi lợi nhuận khác lập khu học xá tại Doha.[178] Năm 2012, Qatar xếp hạng thấp trong kiểm tra PISA về toán, đọc hiểu và kỹ năng cho trẻ 15-16 tuổi, tương đương với Colombia hay Albania.[179]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Population structure”. Ministry of Development Planning and Statistics. 31 tháng 1 năm 2017. 
  2. ^ a ă â “Populations”. Qsa.gov.qa. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  3. ^ a ă â “Report for qatar (PPP valuation of country GDP)”. IMF. Tháng 10 năm 2016. 
  4. ^ “Report for Selected Countries and Subjects (PPP valuation of country GDP)”. IMF. Tháng 10 năm 2016. 
  5. ^ Johnstone, T. M. (2008). “Encyclopaedia of Islam”. Ķaṭar. Brill Online. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013.  (cần đăng ký mua)
  6. ^ “How do you say 'Qatar'? Senate hearing has the answer”. Washington Post. 12 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  7. ^ a ă BBC News, How democratic is the Middle East?, 9 September 2005.
  8. ^ a ă United States Department of State Country Reports on Human Rights Practices for 2011: Qatar, 2011.
  9. ^ “US State Dept's Country Political Profile - Qatar” (PDF). 
  10. ^ a ă Gardener, David. “Qatar shows how to manage a modern monarchy”. Financial Times. 
  11. ^ “The World Factbook”. CIA Factbook. 
  12. ^ a ă “Canada – Qatar Bilateral Relations”. Government of Canada. 
  13. ^ a ă â b “Population of Qatar by nationality - 2017 report”. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2017. 
  14. ^ “Indices & Data | Human Development Reports”. United Nations Development Programme. 14 tháng 3 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013. 
  15. ^ “Qatar human development”. 
  16. ^ Dagher, Sam (17 tháng 10 năm 2011). “Tiny Kingdom's Huge Role in Libya Draws Concern”. Online.wsj.com. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013. 
  17. ^ “Qatar: Rise of an Underdog”. Politicsandpolicy.org. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013. 
  18. ^ Ian Black in Tripoli. “Qatar admits sending hundreds of troops to support Libya rebels”. Theguardian.com. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013. 
  19. ^ Cooper, Andrew F. “Middle Powers: Squeezed out or Adaptive?”. Public Diplomacy Magazine. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  20. ^ Kamrava, Mehran. “Mediation and Qatari Foreign Policy” (PDF). Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  21. ^ Paul Rhys in Doha. “Blatter reaches out to Arabia”. Aljazeera.com. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013. 
  22. ^ a ă â Toth, Anthony. "Qatar: Historical Background." A Country Study: Qatar (Helen Chapin Metz, editor). Library of Congress Federal Research Division (January 1993). This article incorporates text from this source, which is in the public domain.
  23. ^ a ă Khalifa, Haya; Rice, Michael (1986). Bahrain Through the Ages: The Archaeology. Routledge. tr. 79, 215. ISBN 978-0710301123. 
  24. ^ a ă “History of Qatar” (PDF). www.qatarembassy.or.th. Ministry of Foreign Affairs. Qatar. London: Stacey International, 2000. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2015. 
  25. ^ Rice, Michael (1994). Archaeology of the Persian Gulf. Routledge. tr. 206, 232–233. ISBN 978-0415032681. 
  26. ^ Magee, Peter (2014). The Archaeology of Prehistoric Arabia. Cambridge Press. tr. 50, 178. ISBN 9780521862318. 
  27. ^ Sterman, Baruch (2012). Rarest Blue: The Remarkable Story Of An Ancient Color Lost To History And Rediscovered. Lyons Press. tr. 21–22. ISBN 978-0762782222. 
  28. ^ Cadène, Philippe (2013). Atlas of the Gulf States. BRILL. tr. 10. ISBN 978-9004245600. 
  29. ^ “Qatar – Early history”. globalsecurity.org. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015. 
  30. ^ Gillman, Ian; Klimkeit, Hans-Joachim (1999). Christians in Asia Before 1500. University of Michigan Press. tr. 87, 121. ISBN 978-0472110407. 
  31. ^ Commins, David (2012). The Gulf States: A Modern History. I. B. Tauris. tr. 16. ISBN 978-1848852785. 
  32. ^ Habibur Rahman, p. 33
  33. ^ “AUB academics awarded $850,000 grant for project on the Syriac writers of Qatar in the 7th century AD” (PDF). American University of Beirut. 31 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2015. 
  34. ^ Kozah, Mario; Abu-Husayn, Abdulrahim; Al-Murikhi, Saif Shaheen (2014). The Syriac Writers of Qatar in the Seventh Century. Gorgias Press LLC. tr. 24. ISBN 978-1463203559. 
  35. ^ “Bahrain”. maritimeheritage.org. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015. 
  36. ^ a ă â Fromherz, Allen (13 tháng 4 năm 2012). Qatar: A Modern History. Georgetown University Press. tr. 44, 60, 98. ISBN 978-1-58901-910-2. 
  37. ^ a ă Rahman, Habibur (2006). The Emergence Of Qatar. Routledge. tr. 34. ISBN 978-0710312136. 
  38. ^ A political chronology of the Middle East. Routledge / Europa Publications. 2001. tr. 192. ISBN 978-1857431155. 
  39. ^ Page, Kogan (2004). Middle East Review 2003–04: The Economic and Business Report. Kogan Page Ltd. tr. 169. ISBN 978-0749440664. 
  40. ^ Qatar, 2012 (The Report: Qatar). Oxford Business Group. 2012. tr. 233. ISBN 978-1907065682. 
  41. ^ Casey, Paula; Vine, Peter (1992). The heritage of Qatar. Immel Publishing. tr. 184–185. 
  42. ^ Russell, Malcolm (2014). The Middle East and South Asia 2014. Rowman & Littlefield Publishers. tr. 151. ISBN 978-1475812350. 
  43. ^ Larsen, Curtis (1984). Life and Land Use on the Bahrain Islands: The Geoarchaeology of an Ancient Society (Prehistoric Archeology and Ecology series). University of Chicago Press. tr. 54. ISBN 978-0226469065. 
  44. ^ a ă Althani, Mohamed (2013). Jassim the Leader: Founder of Qatar. Profile Books. tr. 16. ISBN 978-1781250709. 
  45. ^ Gillespie, Carol Ann (2002). Bahrain (Modern World Nations). Chelsea House Publications. tr. 31. ISBN 978-0791067796. 
  46. ^ Anscombe, Frederick (1997). The Ottoman Gulf: The Creation of Kuwait, Saudia Arabia, and Qatar. Columbia University Press. tr. 12. ISBN 978-0231108393. 
  47. ^ Potter, Lawrence (2010). The Persian Gulf in History. Palgrave Macmillan. tr. 262. ISBN 978-0230612822. 
  48. ^ a ă Heard-Bey, Frauke (2008). From Tribe to State. The Transformation of Political Structure in Five States of the GCC. tr. 39. ISBN 978-88-8311-602-5. 
  49. ^ 'Gazetteer of the Persian Gulf. Vol I. Historical. Part IA & IB. J G Lorimer. 1915' [1000] (1155/1782), p. 1001
  50. ^ Crystal, Jill (1995). Oil and Politics in the Gulf: Rulers and Merchants in Kuwait and Qatar. Cambridge University Press. tr. 27. ISBN 978-0521466356. 
  51. ^ Casey, Michael S. (2007). The History of Kuwait (The Greenwood Histories of the Modern Nations). Greenwood. tr. 37–38. ISBN 978-0313340734. 
  52. ^ a ă 'Gazetteer of the Persian Gulf. Vol I. Historical. Part IA & IB. J G Lorimer. 1915' [843] (998/1782)”. qdl.qa. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2014. 
  53. ^ “Qatar”. Teachmideast.org. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013. 
  54. ^ a ă â Kursun, Zekeriya (2004). Katar'da Osmanlilar 1871–1916. Turk Tarih Kurumu. 
  55. ^ a ă Rogan, Eugene; Murphey, Rhoads; Masalha, Nur; Durac, Vincent; Hinnebusch, Raymond (tháng 11 năm 1999). “Review of The Ottoman Gulf: The Creation of Kuwait, Saudi Arabia and Qatar by Frederick F. Anscombe; The Blood-Red Arab Flag: An Investigation into Qasimi Piracy, 1797–1820 by Charles E. Davies; The Politics of Regional Trade in Iraq, Arabia and the Gulf, 1745–1900 by Hala Fattah”. British Journal of Middle Eastern Studies 26 (2): 339–342. doi:10.1080/13530199908705688. JSTOR 195948. 
  56. ^ Habibur Rahman, pgs.143–144
  57. ^ Habibur Rahman, pgs.150–151
  58. ^ Habibur Rahman, p. 152
  59. ^ “Battle of Al Wajbah”. Qatar Visitor. 2 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013. 
  60. ^ a ă â “Amiri Diwan – Shaikh Abdullah Bin Jassim Al Thani”. Diwan.gov.qa. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2012. 
  61. ^ Exchange of Notes constituting an Agreement between the United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland and Kuwait regarding relations between the United ... Exchange of Notes concerning the Termination of Special Treaty Relations ... Northern Ireland and the State of Qatar, 3 September 1971
  62. ^ A Treaty of Friendship and an Exchange of Notes, each entered into on 3 September 1971
  63. ^ Exchange of Notes constituting an Agreement between the United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland and Kuwait regarding relations between the United ... Exchange of Notes concerning the Termination of Special Treaty Relations ... Northern Ireland and the State of Qatar, 3 September 1971
  64. ^ a ă “New Qatari emir Sheikh Tamim 'set to announce reshuffle'. BBC News. 26 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  65. ^ a ă â nouvelobs.com: "Qatar : "S'ils pouvaient, ils achèteraient la Tour Eiffel", 7 April 2013
  66. ^ “Qatar (01/10)”. State.gov. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2010. 
  67. ^ Analytica, Oxford (25 tháng 3 năm 2005). “The Advent of Terrorism in Qatar”. Forbes. 
  68. ^ “Qatar Timeline”. BBC News. 14 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2013. 
  69. ^ Roula Khalaf & Abigail Fielding Smith (16 tháng 5 năm 2013). “Qatar bankrolls Syrian revolt with cash and arms”. Financial Times. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2013. 
  70. ^ Nordland, Rod (24 tháng 6 năm 2013). “In Surprise, Emir of Qatar Plans to Abdicate, Handing Power to Son”. NYTimes.com. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  71. ^ “The World factbook”. CIA.Gov. 20 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2014. 
  72. ^ "Saudi-led coalition strikes rebels in Yemen, inflaming tensions in region". CNN. 27 March 2015.
  73. ^ http://news.bbc.co.uk/2/hi/middle_east/3784765.stm
  74. ^ http://www.state.gov/documents/organization/186656.pdf
  75. ^ a ă â b c “Qatar”. CIA World Factbook. Central Intelligence Agency. 8 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2012. 
  76. ^ Lambert, Jennifer (2011). “Political Reform in Qatar: Participation, Legitimacy and Security” 19 (1). Middle East Policy Council. 
  77. ^ “Qatar to hold advisory council elections in 2013”. Reuters (UK edition) (Reuters). 1 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2012. 
  78. ^ “Qatari emir Sheikh Hamad hands power to son Tamim”. BBC. 25 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  79. ^ a ă “Council of Ministers”. Embassy of the State of Qatar in Washington DC. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2012. 
  80. ^ “The People Want Reform… In Qatar, Too.”. Jadaliyya. 
  81. ^ “The Permanent Constitution of the State of Qatar”. Government of Qatar. 
  82. ^ “Constitution of Qatar”. According to Article 1: Qatar is an independent Arab country. Islam is its religion and Sharia law is the main source of its legislation. 
  83. ^ “The World Factbook”. U.S. Central Intelligence Agency. 
  84. ^ “Qatar” (PDF). US Department of State. 
  85. ^ “Qatar Gender Equality Profile” (PDF). UNICEF. 
  86. ^ “Amnesty International Annual Report 2012 – Qatar”. Amnesty International. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2014. 
  87. ^ “Filipino woman gets 100 lashes for giving birth in Qatar”. 
  88. ^ “Special report: The punishment was death by stoning. The crime? Having a mobile phone”. 
  89. ^ a ă Jenifer Fenton. “Religious law, prison for "blasphemy", severe sexual inequalilty: Qatar's human rights review”. 
  90. ^ “What are the worst countries in the world to be gay?”. 
  91. ^ Alex Delmar-Morgan (7 tháng 1 năm 2012). “Qatar, Unveiling Tensions, Suspends Sale of Alcohol”. Wall Street Journal. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012. 
  92. ^ Jenifer Fenton (16 tháng 1 năm 2012). “Qatar's Impromptu Alcohol Ban”. The Arabist. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012. 
  93. ^ “Qatar Distribution Company”. Qatar Loving. 
  94. ^ “Purchasing Alcohol in Qatar”. Qatar Visitor. 2 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2011. 
  95. ^ Walid, Tamara (11 tháng 11 năm 2009). “Qatar would 'welcome' Israel in 2022”. The National. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2013. 
  96. ^ a ă “Country Narratives”. Human Trafficking Report 2011. Office to Monitor and Combat Trafficking in Persons, United States Department of State. Tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2012. 
  97. ^ Boghardt, Lori Plotkin (6 tháng 10 năm 2014). “Qatar Is a U.S. Ally. They Also Knowingly Abet Terrorism. What's Going On?”. New Republic. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2014. Two overarching goals have driven Qatari policy. One has been to maximize Qatar's influence on the regional and international stage. This originally reflected the personal ambition of the former ruler and current emir's father, Shaykh Hamad bin Khalifa al Thani, and his foreign minister and eventual prime minister, Shaykh Hamad bin Jassim al Thani. The two men directed foreign policy until the father abdicated in favor of his son, Emir Tamim bin Hamad al Thani, in July 2013. The second objective has been to preserve the security of the ruling family and state. 
  98. ^ H Rahman (2005). The Emergence of Qatar. Routledge. ISBN 978-0-7103-1213-6. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  99. ^ “Qatar relies on US base amid Gulf tensions”. FT.com. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2013. 
  100. ^ Siegel, Robert (23 tháng 12 năm 2013). “How Tiny Qatar 'Punches Above Its Weight'. NPR. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2015. 
  101. ^ a ă Mark Mazzetti; C.J. Chivers; Eric Schmitt (30 tháng 6 năm 2013). “Taking Outsize Role in Syria, Qatar Funnels Arms to Rebels”. New York Times. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014. 
  102. ^ “Qatar and Saudi Arabia sign defense agreement”. Tehrantimes.com. 25 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  103. ^ “Qatar recognizes Libyan rebels after oil deal”. Al Jazeera. 28 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2011. 
  104. ^ Kirkpatrick, David D. (7 tháng 9 năm 2014). “Qatar's Support of Islamists Alienates Allies Near and Far”. The New York Times. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2015. 
  105. ^ "'Army of Conquest' rebel alliance pressures Syria regime". Yahoo News. 28 April 2015.
  106. ^ "Gulf allies and 'Army of Conquest'". Al-Ahram Weekly. 28 May 2015.
  107. ^ John Defterios (27 tháng 10 năm 2014). CNN “ISIS: Can coalition cut off funding of world's wealthiest terror group?”. 
  108. ^ Kim Sengupta (12 tháng 5 năm 2015). “Turkey and Saudi Arabia alarm the West by backing Islamist extremists the Americans had bombed in Syria”. The Independent. 
  109. ^ The Daily Beast. “Qatar Sends Aid Money to Help Egypt”. TheDailyBeast.com. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2013. 
  110. ^ “The Al-Jazeera Effect”. Foreign Policy. 9 tháng 2 năm 2011. 
  111. ^ bbc.com: "Hamas political leaders leave Syria for Egypt and Qatar", 28 February 2012
  112. ^ “Gaza conflict spotlights role of Qatar, the Hamas-funding U.S. ally”. 28 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2014. 
  113. ^ “The SIPRI Military Expenditure Database”. Stockholm International Peace Research Institute. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2011. 
  114. ^ a ă â b c “The Strange Power of Qatar by Hugh Eakin”. The New York Review of Books. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2013. 
  115. ^ “Trends in International Arms Transfer, 2014”. www.sipri.org. Stockholm International Peace Research Institute. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2015. 
  116. ^ “List of Parties”. Convention on Biological Diversity. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2012. 
  117. ^ “National Biodiversity Strategy and Action Plan. State of Qatar” (PDF). Convention on Biological Diversity. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2012. 
  118. ^ A. H. Moubasher (1993). Soil Fungi in Qatar and Other Arab Countries. Centre for Scientific and Applied Research, University of Qatar. tr. i–xvi, 570 pp., 86 plates. ISBN 978-99921-21-02-3. 
  119. ^ The Lizards Living in Qatar. 2014. First edition, Published in Doha (Qatar), 2014, 5 June (World Environment Day). 570 pages. Lưu trữ 8 July 2014 tại Wayback Machine.
  120. ^ “CO2 emissions (metric tons per capita)”. Data.worldbank.org. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2013. 
  121. ^ Pearce, Fred (14 tháng 1 năm 2010). “Qatar to use biofuels? What about the country's energy consumption?”. The Guardian (London). 
  122. ^ a ă “Qatar National Vision 2030”. Ministry of Development Planning and Statistics. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2012. 
  123. ^ “WebCite query result”. Truy cập 11 tháng 8 năm 2016. 
  124. ^ Rasoul Sorkhabi (2010). “The Qatar Oil Discoveries”. GEO ExPro Magazine 7 (1). 
  125. ^ Nordland, Rod (25 tháng 6 năm 2013). “New Hope for Democracy in a Dynastic Land”. NYTimes.com. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  126. ^ “Report for Selected Countries and Subjects (PPP valuation of country GDP)”. IMF. Tháng 10 năm 2016. 
  127. ^ Bill Crane (20 April 2015). Gravediggers of the Gulf. Jacobin. Retrieved 20 April 2015.
  128. ^ “Qatar: Migrant Construction Workers Face Abuse”. Human Rights Watch. 
  129. ^ “Qatar tourist guide”. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2012. 
  130. ^ “Doing Business in Qatar: 2012 Country Commercial Guide for U.S. Companies” (PDF). US & Foreign Commercial Service And US Department of State. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2013. 
  131. ^ “Qatar”. OPEC. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2013. 
  132. ^ “The World's Richest Countries”. Forbes. 
  133. ^ Kortekaas, Vanessa (28 tháng 10 năm 2013). “New Qatar emir shakes up sovereign wealth fund”. Financial Times. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013. 
  134. ^ “Qatar Holding LLC Among Investors in BlackBerrys $1 Billion Convertible Debt”. Berryreview.com. 6 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013. 
  135. ^ Hall, Camilla (30 tháng 10 năm 2013). “Qatar fund quietly builds $1bn Bank of America stake”. Financial Times. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013. 
  136. ^ Hall, Camilla (4 tháng 7 năm 2013). “Qatar: what's next for the world's most aggressive deal hunter?”. Financial Times. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013. 
  137. ^ a ă â Simon Lincoln Reader (12 tháng 11 năm 2013). “Qatar shows how money can solve most problems”. Bdlive.co.za. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013. 
  138. ^ a ă “History of Census in Qatar”. Qatar Statistics Authority. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2013. 
  139. ^ a ă “Population structure”. Qatar Statistics Authority. 31 tháng 1 năm 2013. 
  140. ^ a ă “Qatar's delicate balancing act”. BBC News. 16 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2013. 
  141. ^ http://en.tengrinews.kz/people/Qatar-population-hits-25-million-on-worker-influx-263189/
  142. ^ Pandit, Mobin (5 tháng 1 năm 2013). “Population rise will push up rents”. The Peninsula Qatar. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013. 
  143. ^ “Report on International Religious Freedom – Qatar”. US Department of State. The official state religion follows the conservative Wahhabi tradition of the Hanbali school of Islam 
  144. ^ “Tiny Qatar's growing global clout”. BBC. 30 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  145. ^ “Qatar's modern future rubs up against conservative traditions”. Reuters. 27 tháng 9 năm 2012. 
  146. ^ “Rising power Qatar stirs unease among some Mideast neighbors”. Reuters. 12 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013. 
  147. ^ “Religious Composition by Country” (PDF). Global Religious Landscape. Pew Forum. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  148. ^ “Christians to Welcome Qatar's First Christian Church”. Christianpost.com. 24 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013. 
  149. ^ “CIA The World Fact Book”. State.gov. 29 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2010. 
  150. ^ Baker, Colin; Jones, Sylvia Prys (1998). Encyclopedia of Bilingualism and Bilingual Education. Multilingual Matters. tr. 429. ISBN 978-1853593628. 
  151. ^ Guttenplan, D. D. (11 tháng 6 năm 2012). “Battling to Preserve Arabic From English's Onslaught”. The New York Times. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2013. 
  152. ^ “Qatar Facts”. First Qatar Orthodontic Conference. 
  153. ^ Kamrava, Mehran (2013). Qatar: Small State, Big Politics. Cornell University Press. ISBN 978-0801452093. 
  154. ^ “Qatar National Day 2011”. Time Out Doha. 29 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  155. ^ “Everything you need to know about Qatar National Day 2012”. Doha News. 10 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2015. 
  156. ^ “Art in Qatar: A Smithsonian in the sand”. The Economist. 1 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2013. 
  157. ^ “QMA Board of Trustees”. Qatar Museums Authority. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  158. ^ “Qatar revealed as the world's biggest contemporary art buyer”. The Art Newspaper. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2013. 
  159. ^ Bohas, Alexander. “The Political Trump-Cards of Cultural Potency Qatar's Policy of 'Cultural Grandeur'. Chaos International. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2013. 
  160. ^ a ă “Qatar Freedom of the Press”. Freedom House. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2015. 
  161. ^ Barrie Gunter; Roger Dickinson (6 tháng 6 năm 2013). News Media in the Arab World: A Study of 10 Arab and Muslim Countries. A&C Black. tr. 33. ISBN 1-4411-0239-6. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  162. ^ Blanchard, Christoper (2014). Qatar: Background and U.S. Relations. Congressional Research Service. tr. 17. 
  163. ^ Roth, Richard J. (8 tháng 5 năm 2013). “Awaiting a Modern Press Law in Qatar”. New York Times. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2013. 
  164. ^ The Report: Qatar 2010. Oxford Business Group. 2010. tr. 237. 
  165. ^ a ă “Arts and Culture”. Embassy of Qatar in London. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2015. 
  166. ^ “Qatar – a Sporting Nation”. Qatar e-Government. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  167. ^ Gibbes, Martin; Schiller, Emma (4 tháng 1 năm 2011). “Fox Sports brings you everything you need to know – and a few things you don't – about the Asian Cup”. Fox Sports. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  168. ^ Paul Radford (2 tháng 12 năm 2010). “Russia, Qatar win 2018 and 2022 World Cups”. Reuters. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010. 
  169. ^ “Match report” (PDF). International Handball Federation. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  170. ^ “2014 FIBA 3x3 World Championships”. International Basketball Federation. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2015. 
  171. ^ “In the occasion of Literacy Arab Day, Qatar has the Lowest Illiteracy Rates in 2012”. Qatar Statistics Authority. 8 tháng 1 năm 2013. 
  172. ^ “Qatar constitution”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 9 năm 2013. 
  173. ^ “Our history”. Qatar University. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  174. ^ Hendengren, Adam (25 tháng 6 năm 2013). “SPECIAL REPORT: UNIVERSITY STUDIES IN THE MIDDLE EAST”. Your Middle East. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015. 
  175. ^ “World Data on Education – Qatar” (PDF). UNESCO. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2015. 
  176. ^ http://imp.sagepub.com/content/13/3/235.abstract?rss=1
  177. ^ “Education for a New Era”. Supreme Education Council. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2008. 
  178. ^ “Stenden University Qatar”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2009. 
  179. ^ “Key findings – Organisation for Economic Co-operation and Development”. Oecd.org. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]