Rùa mai mềm Thượng Hải

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Rùa mai mềm Thượng Hải
Rafetus swinhoei.jpg
Rùa mai mềm Thượng Hải
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Sauropsida
Bộ (ordo)Testudines
Phân bộ (subordo)Cryptodira
Liên họ (superfamilia)Trionychoidea
Họ (familia)Trionychidae
Chi (genus)Rafetus
Loài (species)R. swinhoei
Danh pháp hai phần
Rafetus swinhoei
Gray, 1873
Danh pháp đồng nghĩa
Oscaria swinhoei Gray, 1873
Yuen leprosus Heude, 1880
Yuen maculatus Heude, 1880
Yuen elegans Heude, 1880
Yuen viridis Heude, 1880
Yuen pallens Heude, 1880
Trionyx swinhonis Boulenger, 1889
Trionys liupani Tao, 1986
Pelochelys taihuensis Zhang, 1984
Rafetus leloii Hà, 2000
Rafetus vietnamensis Lê & ctv, 2010

Rùa mai mềm Thượng Hải, giải Thượng Hải, hay rùa mai mềm khổng lồ sông Dương Tử (tiếng Trung: 斑鳖: ban miết) (danh pháp khoa học: Rafetus swinhoei) là một loài rùa mai mềm. Nó có thể là rùa nước ngọt lớn nhất trên thế giới. Nó được liệt kê ở cấp cực kỳ nguy cấp trong sách đỏ IUCN năm 2006, và là một trong những loài rùa hiếm nhất trên thế giới. Trong số 4 cá thể còn sống của loài R. swinhoei vào năm 2010 thì một cá thể sống ở Hồ Gươm, đôi khi được đề nghị coi như một loài riêng có danh pháp Rafetus leloii (rùa Hồ Gươm).

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Rafetus swinhoei có thể đã từng sinh sống tại khu vực sông Dương TửThái Hồ, tại khu vực ranh giới các tỉnh Giang TôChiết Giang ở miền đông Trung Quốc; Cá Cựu tại tỉnh Vân Nam ở miền nam Trung Quốc; và sông Hồng ở miền bắc Việt Nam. Trong những năm gần đây, có tin cho rằng một cá thể của Rafetus swinhoei đã được các ngư dân bắt được tại tỉnh Hòa Bình trên sông Đà.[1].

Tình trạng nguy cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Rafetus swinhoei đang ở tình trạng cực kỳ nguy cấp, gần như đã sắp tuyệt chủng. Trong hàng chục năm đầu thế kỷ 20, loài này bị săn bắt bừa bãi để tiêu thụ tại các địa phương cũng như do việc sử dụng mai và xương trong y học. Đầu rùa cũng thường bị lưu giữ lại làm kỷ niệm.[2]

Mẫu vật cuối cùng đánh bắt được trong tự nhiên ở Trung Quốc là vào năm 1972 tại Cá Cựu; con rùa này sau đó đã được chuyển tới vườn thú Thượng Hải[3].

Con rùa tại hồ Hoàn Kiếm ở trung tâm Hà Nội, Việt Nam, đã được nhìn thấy và chụp ảnh nhiều lần. Gần đây, một số ý kiến, như của nhà sinh học Hà Đình Đức cho rằng con rùa tại hồ Hoàn Kiếm có thể là một loài riêng, với tên gọi khoa học là Rafetus leloii, tức rùa Hồ Gươm. Tuy nhiên, các tác giả Farkas B. và Webb R.G. vào năm 2003[4] cho rằng danh pháp R. leloii là một đơn vị phân loại không hợp lệ và chỉ là từ đồng nghĩa muộn của R. swinhoei.

Năm 2016, người ta chỉ tìm ra được 3 con còn sống; trong đó 2 tại Trung Quốc, đều ở Tây Viên tự (西园寺) ở Tô Châu; con thứ 3 ở hồ Đồng Mô (Sơn Tây, Hà Nội).

Con thứ 4 là tại hồ Hoàn Kiếm đã chết ngày 19/1/2016[2]. Trước đó, con thứ 5 ở vườn thú Thượng Hải đã chết cuối năm 2006, còn con thứ sáu tại vườn thú Bắc Kinh đã chết năm 2005[5].

Ngày 13/4/2019, con cái ở Tô Châu đã chết sau khi thực hiện 1 cuộc thụ tinh nhân tạo. Đây là tổn thất nặng nề cho nỗ lực bảo tồn loài rùa này, bởi giờ đây cả Trung Quốc chỉ còn lại 1 con đực đã già, và hiện Trung Quốc chưa tìm thấy con cái nào khác để ghép cặp sinh sản.

Cuối năm 2020 mẫu thử nghiệm di tố của con rùa Đồng Mô lấy hồi Tháng 10 khẳng định đó là rùa cái, nặng 86 kg. Giới khoa học hy vọng con rùa cái này sẽ giúp gây giống cho loài rùa đang bị đe dọa bên bờ tuyệt chủng này.[6]

Như vậy, đến cuối năm 2020 thì Trung Quốc chỉ còn 1 con đực đã già, còn Việt Nam chỉ còn 1 con cái đang ở tuổi sinh sản. Tình trạng của loài này đang cực kỳ nguy cấp. Nếu không sớm tìm ra cách thực hiện thụ tinh nhân tạo cho 2 cá thể này, hoặc tìm được cá thể khác để ghép đôi sinh sản (tìm ra thêm 1 con cái ở Trung Quốc hoặc 1 con đực ở Việt Nam), thì loài rùa này sẽ sớm bị tuyệt chủng trong tương lai gần.

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Rafetus swinhoei đáng chú ý vì đầu dài với phần miệng giống như mõm lợn. Kích thước của nó có thể dài trên 100 cm, rộng trên 70 cm và cân nặng khoảng 120–140 kg. Mai của chúng có thể dài và rộng trên 50 cm. Đầu dài trên 20 cm và rộng trên 10 cm. Con đực nói chung nhỏ hơn con cái nhưng có đuôi to và dài hơn[2]

Môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Các hệ thống sông lớn cùng các hồ hay vùng đất ẩm cận kề.[2]

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi cá thể cái có thể đẻ từ 60 tới trên 100 trứng. Chúng làm tổ về đêm hay về buổi sáng[2].

Thức ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Bao gồm , cua, ốc, bèo lục bình, ếch nhái và lá cây.

Bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Các cố gắng tập trung vào việc cho sinh sản các con rùa đang đươc bảo tồn tại vườn thú Trung Quốc cũng như tìm kiếm các cá thể còn sống hoang dã. Một thỏa thuận đã được thực hiện để chuyển con rùa cái tại vườn thú Thượng Hải sang vườn thú Tô Châu để thực hiện việc phối giống với con đực tại đó. Cũng có các cố gắng để cải thiện các điều kiện phối giống tại vườn thú Tô Châu và Tây Viên tự. Con cái ở vườn thú Tô Châu đã từng đẻ 1 ổ trứng, nhưng đáng tiếc là tất cả đều không nở. Nỗ lực của Trung Quốc đã thất bại khi con cái này đã chết vào ngày 13/4/2019.

Như vậy, nỗ lực bảo toàn loài rùa này hiện chỉ còn trông đợi vào cá thể cái ở hồ Đồng Mô (Việt Nam), hoặc nếu may mắn tìm thấy các cá thể khác còn sống trong tự nhiên. Để làm được điều này cần sự nỗ lực của các nhà khoa học, các chính sách cấm đánh bắt quyết liệt của chính quyền địa phương, và sự quan tâm phối hợp từ cả chính phủ Trung Quốc và Việt Nam.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Farkas B và Webb R.G. 2003. Rafetus leloii Hà Đình Đức, 2000 - an invalid species of softshell turtle from Hoan Kiem Lake, Hanoi, Vietnam (Reptilia, Testudines, Trionychidae). Zool. Abhandl. (Dresden), 53:107-112.
  • Meylan P.A. Rafetus swinhoei. trong Pritchard, P.C.H., và A. Rhodin chủ biên, The conservation biology of freshwater turtles. IUCN publications.
  • Meylan P. A. và R. G. Webb. 1988. Rafetus swinhoei (Gray) 1873, a valid species of living soft-shelled turtle (family Trionychidae) from China. Journal of Hepatology. 22:118-119.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “In Search of Rafetus swinhoei”. Turtle Conservation Vietnam. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2006.
  2. ^ a ă â b c “Species: Rafetus swinhoei”. Asian Turtle Conservation Network. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2006.
  3. ^ “斑鳖保护合作交流研讨会会议纪要 (ban miết bảo hộ hợp tác giao lưu nghiên thảo hội hội nghị kỉ yếu)”. Chengdu Research Base of Giant Panda Breeding. 2006. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2006.
  4. ^ Farkas B., Webb R. G., 2003. Rafetus leloii Hà Dinh Duc, 2000 — an invalid species of softshell turtle from Hoan Kiem Lake, Hanoi, Vietnam (Reptilia, Testudines, Trionychidae). Zool. Abhandl. (Dresden), 53: 107-112.
  5. ^ “Draft Action Plan- Rafetus swinhoei” (PDF). Turtle Survival Alliance. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2006.
  6. ^ "Hopes for Most-endangered Turtle..."

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

(tiếng Việt)

(tiếng Anh)

(tiếng Trung)