Rắn hổ mang chúa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rắn hổ mang chúa
12 - The Mystical King Cobra and Coffee Forests.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Reptilia
Bộ (ordo) Squamata
Họ (familia) Elapidae
Chi (genus) Ophiophagus
Loài (species) O. hannah
Danh pháp hai phần
Ophiophagus hannah
  Bản đồ phân bố của loài
  Bản đồ phân bố của loài
Danh pháp đồng nghĩa

Cấp chi:

Rắn hổ mang chúa (danh pháp khoa học: Ophiophagus hannah) là loài rắn thuộc họ Elapidae (họ Rắn hổ) phân bố chủ yếu trong các vùng rừng nhiệt đới trải dài từ Ấn Độ đến Đông Nam Á. Đây là loài rắn độc dài nhất thế giới, với chiều dài tối đa được ghi nhận ở loài này trong tự nhiên là 7 m.[2]

Mặc dù danh từ "rắn hổ mang" nằm trong tên gọi thông thường của loài rắn này nhưng chúng không thuộc chi Naja (chi rắn hổ mang thật sự). Đây là loài duy nhất thuộc chi Ophiophagus. Con mồi của loài rắn này chủ yếu là các loài rắn khác và một vài loài có xương sống như thằn lằn, gặm nhấm.

Rắn hổ mang chúa được đánh giá là loài nguy hiểm và đáng sợ trong phạm vi sinh sống của chúng[3][4][5], mặc dù loài rắn này không chủ động tấn công loài người[3]. Hổ mang chúa được tôn sùng trong nhiều tín ngưỡng văn hóa khác nhau, đặc biệt trong văn hóa Hindu giáotiểu lục địa Ấn Độ[6].

Ngoại hình[sửa | sửa mã nguồn]

Kích thước[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh phân tích vùng đầu

Chiều dài trung bình của cá thể trưởng thành khoảng 3 – 4 m (9,8 - 13,1 ft) và cân nặng trung bình khoảng 6 kg. Trong lịch sử, các mẫu vật lâu đời nhất được cất giữ tại sở thú London ghi nhận chiều dài lên đến 18,5-18,8 ft (5,6-5,7 m) trước khi bị phá hủy trong Thế chiến II. Vào năm 1951, các mẫu vật hoang dã nặng nhất thuộc Câu lạc bộ hoàng gia quốc đảo Singapore ghi nhận là nặng 12 kg (26 lb) và dài 4,8 m (15,7 ft), mặc dù có một mẫu vật khác nặng hơn được lưu giữ tại Sở thú Bronx nặng 12,7 kg (28 lb) và dài 4,4 m (14,4 ft) (ghi nhận năm 1972).[7] Thậm chí, ngày nay chiều dài tối đa được ghi nhận ở loài rắn này trong tự nhiên là 7 m, con số được ghi nhận tại dãy núi Western Ghats ở Ấn Độ. Rắn hổ mang chúa lưỡng hình giới tính trong kích thước, con đực đạt kích thước lớn hơn so với con cái. Chiều dài và khối lượng của loài rắn này phụ thuộc vào môi trường sống và một số yếu tố khác. Mặc dù có kích thước to lớn, rắn hổ mang chúa rất nhanh nhẹn và linh hoạt[8]. So với một số loài rắn độc khác, chẳng hạn như rắn chuông kim cương phương đôngrắn Gaboon, thường ngắn hơn nhiều so với hổ chúa nhưng cơ thể khá cồng kềnh, là những con số cạnh tranh với rắn hổ mang chúa về trọng lượng trung bình và là báo cáo đúng nhất về trọng lượng tối đa[7].

Da và sự lột xác[sửa | sửa mã nguồn]

Da ờ phần đầu và lưng có màu vàng lục, nâu xám, hoặc đen chì, và các vạch màu vàng mờ nhạt chạy dọc theo chiều dài của cơ thể. Bụng có màu kem hoặc vàng nhạt, vảy mịn. Tùy theo môi trường sinh sống mà da rắn hổ mang chúa có màu sắc khác nhau, thông thường cá thể sống vùng sông suối, ao hồ có màu da sáng hơn cá thể sống vùng rừng sâu, núi cao, hang động.

Chu kỳ lột da của rắn hổ mang chúa khoảng 4 - 6 lần trong năm. Dấu hiệu đầu tiên báo hiệu rắn chuẩn bị bước vào thời kỳ lột da là đôi mắt. Đôi mắt không còn được trong suốt như ngày thường nữa mà bỗng biến thành màu sữa đục. Đến khi đôi mắt trong trở lại là chúng bắt đầu lột xác. Để lột bỏ hết lớp da cũ, con rắn cần khoảng 10 ngày. Một làn da nhạy cảm mới xuất hiện ngay sau khi chúng lột bỏ lớp da cũ. Đây là những quãng thời gian mà loài vật này lo lắng nhất trong cuộc sống. Vì da còn non yếu nên rắn không dám đi săn mồi, nhất là những con mồi có khả năng chống trả cao. Thông thường, khi sống gần khu dân cư, trong thời kỳ lột da, rắn hổ mang chúa sẽ tìm đến khu dân cư (nhất là nhà bếp) không chỉ vì thức ăn mà còn muốn được sưởi ấm và có nơi trú ẩn tốt. Do đó, người dân rất dễ gặp nguy hiểm nếu tiếp xúc với rắn và rắn tấn công lại theo phản xạ tự vệ.

Rắn con còn nhỏ da sáng bóng với màu đen và các vạch màu vàng hẹp hình chữ V (có thể bị nhầm lẫn với loài rắn cạp nong, nhưng dễ dàng xác định nhờ vùng mang cổ khá rộng của loài).

Vảy[sửa | sửa mã nguồn]

Vảy lưng dọc theo trung tâm của cơ thể hổ chúa khoảng 15 hàng. Con đực có 235 đến 250 vảy bụng, trong khi con cái có 239 đến 265 vảy. Vảy đuôi đơn lẻ hoặc ghép cặp trong mỗi hàng, khoảng 83 đến 96 ở con đực và 77 đến 98 ở con cái[8].

Số lượng và sự sắp xếp của vảy hầu như không có gì thay đổi sau mỗi lần thay da. Vảy trên lưng nhỏ và trơn, còn vảy ở bụng thì dài, rộng bằng với chiều dài của bụng và xếp thành 1 cột duy nhất theo chiều hướng xuống.

Cấu trúc xương[sửa | sửa mã nguồn]

Phần đầu của cá thể rắn trưởng thành khá to lớn và đồ sộ, mặc dù giống như tất cả các loài rắn khác, loài này có thể mở rộng quay hàm nuốt mồi lớn. Với cấu trúc bộ răng proteroglyph, nghĩa là có 2 răng nanh cố định phía trước miệng kèm theo hệ thống tiết nọc độc vào con mồi.

Các cơ rắn chắc kết hợp với bộ xương tạo cho cơ thể chúng một lực rất mạnh. Bên trong cơ thể có từ 100 đến 600 đốt xương sống, chống đỡ cho bộ xương sườn dài nhất trong tất cả các loài rắn. Không có chi, rắn buộc phải đẩy cơ thể trên mặt đất để di chuyển về phía trước. Một số con sống trên cây di chuyển bằng cách quấn xung quanh một vật thể nào đó để bò.

Mang[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như các loài rắn hổ mang khác, rắn hổ chúa có thể phồng mang, bành rộng cổ mình ra được là do nó có xương sườn kéo dài, giúp rắn mở rộng da ra bên ngoài cổ, tạo thành hình như mui xe phía trước cơ thể. Chúng bành rộng cổ ra khi gặp nguy hiểm hoặc bị kích động. Với cách này, rắn sẽ ngụy trang thân hình của mình to hơn rất nhiều bình thường giúp rắn uy hiếp kẻ thù.

Tuy nhiên, phần mang cổ của rắn hổ mang chúa hẹp hơn và dài hơn so với các loài rắn hổ mang khác.

Mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Mi mắt của loài rắn này luôn trong suốt, đồng nghĩa với việc rắn hổ mang chúa không bao giờ chớp mắt, rất hữu dụng khi săn mồi. Đặc biệt, nếu bị trầy xước, lớp mi này nhanh chóng bong tróc và được thay thế bằng một lớp khác.

Tuổi thọ[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi thọ trung bình của loài hổ chúa hoang dã khoảng 20 năm[9]. Tuổi thọ tối đa được ghi nhận là 30 năm.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Ophiophagus hannah là loài đại diện duy nhất thuộc chi Ophiophagus, thuộc họ Elapidae (họ rắn hổ).

Hổ mang chúa là thành viên duy nhất của chi "Ophiophagus", trong khi hầu hết các loài hổ mang khác là thành viên của chi Naja. Loài này được phân biệt với các loài hổ mang khác theo kích thước và mang cổ. Hổ chúa thường lớn hơn so với các loài hổ mang khác, và các vạch sọc trên cổ có hình chữ V thay vì hình dạng mắt kép hoặc đơn thường thấy trên hầu hết các loài rắn hổ mang châu Á khác. Hơn nữa, mang cổ của hổ chúa là hẹp hơn và dài hơn[3]. Một phương pháp hết sức rõ ràng để nhận dạng, nhìn thấy rõ trên đầu, là sự hiện diện của một cặp vảy lớn được gọi là xương chẩm, nằm ở mặt sau đỉnh đầu. Đây là cách sắp xếp chín mảng xương dẹt phía sau, đặc trưng của họ Rắn nướchọ Rắn hổ, và là vẻ độc đáo của loài rắn hổ mang chúa.

Loài rắn này được miêu tả lần đầu bởi nhà sinh vật học người Đan Mạch Theodore Edward Cantor năm 1836.

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn hổ mang chúa phân bố tại tiểu lục địa Ấn Độ, Đông Nam Á, và các khu vực phía nam của Đông Á (nơi mà không phổ biến). Rắn hổ mang chúa được tìm thấy ở các nước Bangladesh, Bhutan, Myanmar, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Nepal, Philippines, Singapore, Thái LanViệt Nam[1]. Chúng sống trong các vùng rừng núi cao rậm rạp[2][10], khu vực ưa thích của chúng là hồ nướcdòng suối. Quần thể rắn hổ mang chúa đã giảm trong một vài khu vực phân bố, do nạn phá rừng và đang bị săn bắt trái phép phục vụ cho việc buôn lậu động vật quốc tế. Loài rắn này được liệt kê trong phụ lục II trong Công ước CITES[11].

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Săn mồi[sửa | sửa mã nguồn]

Một cá thể rắn hổ chúa, giống như những loài rắn khác, tiếp nhận tín hiệu hóa học thông qua chiếc lưỡi chẻ đôi, khi đánh hơi (cảm thụ các phân tử mùi hương) bằng các tế bào cảm giác trên lưỡi, rắn đưa đầu lưỡi chạm vào cơ quan vomeronasal nằm trên vòm họng để truyền các thông tin nhận được đến não bộ.[2]. Giác quan này cũng giống như là khứu giác con người. Khi mùi vị con mồi được rắn phát hiện, co giật nhẹ ở lưỡi để nhận biết vị trí con mồi (các nhánh song song của lưỡi phát ra âm thanh); rắn cũng sử dụng thị giác quan sát (rắn có thể phát hiện con mồi di chuyển cách nó 100 m (330 feet)), một cách linh hoạt[12], và nhạy cảm với rung động mặt đất nhằm theo dõi con mồi.

Rắn hổ mang chúa có khả năng khống chế lượng chất độc khi cắn con mồi. Loài rắn này tiết ra chất độc và chứa trong 1 túi cơ của tuyến nọc nằm ở vòm họng. Túi cơ này sẽ co bóp đưa nọc độc đến răng nanh khi chúng tấn công con mồi. Trong nọc độc của rắn hổ mang có độc tố tác động đến hệ thần kinh, làm cho con mồi bị tê liệt thần kinh và hôn mê. Trong một số trường hợp loài rắn này không phóng ra nọc độc khi cắn.

Sau khi cắn vào con mồi, rắn sẽ bắt đầu nuốt con mồi đang giãy giụa trong khi nọc độc bắt đầu quá trình tiêu hóa mồi. Hổ mang chúa, giống như tất cả các loài rắn, có quay hàm linh hoạt. Bộ xương hàm được kết nối bởi các dây chằng mềm dẻo, cho phép xương hàm dưới di chuyển độc lập. Điều này cho phép rắn nuốt cả con mồi của nó, cũng như cho phép chúng nuốt con mồi lớn hơn nhiều so với phần đầu rắn[2].

Rắn hổ mang chúa sống trên mặt đất, nhưng leo cây và bơi rất giỏi. Tuy thân hình to lớn nhưng tốc độ di chuyển của rắn hổ mang chúa khá nhanh. Rắn có thể săn mồi suốt cả ngày, hiếm khi nhìn thấy chúng vào ban đêm, ngành bò sát học phân loại hổ mang chúa là loài động vật hoạt động ban ngày[2][13].

Khẩu phần[sửa | sửa mã nguồn]

Loài này thuộc chi Ophiophagus, một danh từ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp mang nghĩa đen là "loài ăn rắn", và con mồi của rắn hổ chúa chủ yếu là các loài rắn khác, bao gồm cả rắn chuột, trăn nhỏ và thậm chí các loài rắn độc khác ví dụ như những loài thuộc chi Naja (chi hổ mang thật sự), và chi Bungarus (chi cạp nia)[13][14]. Khi thức ăn khan hiếm, chúng cũng có thể ăn các loài có xương sống nhỏ khác, chẳng hạn thằn lằn, chimgặm nhấm. Trong một số trường hợp, hổ chúa cũng có thể "siết chặt" con mồi của nó, chẳng hạn như các loài chim và động vật gặm nhấm lớn hơn, sử dụng các cơ thịt của mình, mặc dù những trường hợp này không phổ biến[2][14]. Sau một bữa ăn lớn, con rắn có thể sống trong nhiều tháng mà không cần săn mồi nhờ có một tỷ lệ trao đổi chất chậm chạp trong cơ thể[2]. Thức ăn phổ biến nhất của rắn hổ chúa là loài rắn chuột; hành trình đuổi bắt mồi thường đưa hổ mang chúa đến gần khu dân cư.

Phòng vệ[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn hổ mang chúa đang nâng 1/3 cơ thể lên trong tư thế phòng vệ

Khi gặp nguy hiểm, hổ chúa sẽ cố gắng trốn thoát nhanh chóng và trốn tránh đối đầu[5][15]. Tuy nhiên, nếu tiếp tục bị khiêu khích, hổ mang chúa trở nên rất hung dữ[5][9].

Khi đối mặt, rắn hổ mang chúa sẽ nâng một phần ba cơ thể lên và nhìn thẳng vào mắt đối thủ, phồng mang rộng, lộ rõ cặp răng nanh và huýt lên ầm ĩ[3][9]. Hổ chúa có thể dễ dàng bị kích động bởi các đối tượng tiếp cận gần hay những chuyển động đột ngột. Khi nâng cơ thể lên cao, hổ mang chúa vẫn có thể di chuyển nhanh về phía trước để tấn công dù ở khoảng cách xa[9] và người đối diện có thể đánh giá sai về phạm vi an toàn. Rắn hổ mang chúa có khả năng cắn nhiều vết trong một lần tấn công[4] nhưng con trưởng thành biết cách cắn và giữ chặt. Đó là cách thức phòng vệ của loài rắn này khi sống ở vùng rừng ít dân cư và những cánh rừng nhiệt đới rậm rạp[3][9], vì vậy nạn nhân bị hổ mang chúa cắn thường là người thôi miên rắn[3].

Một số nhà khoa học tin rằng tính khí hung hãn của loài này đã được phóng đại mức. Trong hầu hết các cuộc tiếp xúc của người địa phương với những con rắn hoang dã, chúng có tính khí khá ôn hòa, và kết cục của những con rắn là bị giết hoặc khuất phục với bởi con người. Những ủng hộ quan điểm cho rằng rắn hổ chúa hoang dã thông thường có tính khí ôn hòa, mặc dù những sự cố xảy ra với rắn khiến chúng bối rối nhưng hổ chúa rất giỏi trong việc tránh con người. Nhà sinh vật học Michael Wilmer Forbes Tweedie cảm thấy rằng "khái niệm này được dựa trên các xu hướng chung để làm lắng dịu tất cả các thuộc tính của loài rắn mà ít quan tâm đến sự thật về chúng. Phản ánh tại một thời điểm cho thấy rằng điều này phải được như vậy, đối với loài hổ chúa không phải là hiếm, thậm chí trong khu vực dân cư, và có ý thức hay vô thức, người dân phải gặp rắn hổ mang chúa khá thường xuyên. Nếu con rắn thực sự hung hăng thì nó cắn người thường xuyên;... do đó cực kỳ hiếm trường hợp rắn hổ chúa hung hăng"[16][17].

Nếu rắn hổ chúa gặp một kẻ thù tự nhiên, ví dụ như chồn mangut, loài chồn có khả năng kháng nọc độc thần kinh[18], con rắn thường cố gắng chạy trốn. Nếu không thể làm như vậy, chúng sẽ phồng mang và phát ra một tiếng huýt, đôi khi giả vờ ngậm chặt miệng. Những nỗ lực này thường chứng minh rất hiệu quả, đặc biệt đối với kẻ thù nguy hiểm hơn nhiều so với loài chồn, ví dụ như các loài động vật có vú nhỏ có khả tiêu diệt rắn một cách dễ dàng.

Một cách phòng vệ an toàn khi con người tình cờ gặp rắn hổ mang chúa là từ từ tháo bỏ áo sơ mi hoặc mũ và quăng nó xuống đất trong lúc đi lùi về phía sau[19].

Tiếng huýt gầm gừ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng huýt của rắn hổ mang chúa có cường độ thấp hơn nhiều so với nhiều loài rắn khác. Nhiều người cho rằng âm thanh mình nghe được từ rắn hổ mang chúa giống như một "tiếng gầm" hơn là một tiếng huýt. Trong khi tiếng huýt của hầu hết các loài rắn có tần số khoảng từ 3.000 đến 13.000 Hz với tần số vượt trội gần 7.500 Hz, tiếng gầm gừ của rắn hổ mang chúa có tần số khoảng dưới 2500 Hz, với tần số vượt trội gần 600 Hz, thấp hơn nhiều so với tần số giọng nói người. So sánh hình thái phân tích giải phẫu học đã dẫn đến một phát hiện rằng túi thừa khí quản có chức năng cộng hưởng tần số thấp trong tiếng gầm của rắn và con mồi, loài rắn chuột vùng rừng ngập mặn, cả hai đều có thể phát ra những tiếng gầm gừ tương tự như nhau[20].

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn hổ mang chúa giao phối và đẻ trứng vào khoảng tháng 4-5. Khi di chuyển trong rừng, rắn cái tiết ra chất pheromone. Đây là cách chúng để lại mùi cơ thể để con rắn đực tìm tới giao phối. Khi gặp được rắn cái, việc đầu tiên của rắn đực là tán tỉnh và dò xét phản ứng của đối phương. Hầu hết rắn cái đều có thói quen đề phòng những con rắn đực lớn. Đó cũng là nguyên nhân vì sao rắn đực cắn chết rắn cái khi bị cự tuyệt và ngược lại. Để bảo đảm an toàn cho cả hai, rắn đực cần phải thực hiện bước đầu tiên khi gặp đối tượng là dùng mũi ngửi vào mình rắn cái để dò xét và bày tỏ tình cảm. Sau khi rắn cái ưng thuận thì cả 2 sẽ bước vào quá trình giao phối. Hai con rắn quấn cơ thể vào nhau theo hình xoắn dây. Rắn cái ngẩng cao cái đầu trong khi rắn đực tiến hành giao phối. Hoạt động này thường kéo dài khoảng 1 tiếng đồng hồ. Nếu mọi việc thuận lợi thì 1 tháng sau, con rắn cái sẽ đẻ khoảng từ 20 – 40 trứng.

Rắn cái chuẩn bị một chiếc tổ và đẻ trứng, các mảnh lá và mảnh vụn của đất gò được sử dụng để đắp tổ, và ở trong tổ cho đến khi trứng nở. Rắn cái thường đẻ khoảng 20-40 trứng vào gò tổ, hoạt động như một chiếc lò ấp trứng. Rắn cái ở lại với trứng và bảo vệ gò đất 1 cách kiên trì, canh giữ đề phòng các mối đe dọa từ các loài động vật lớn đến gần, trong khoảng 60 đến 90 ngày[21]. Bên trong gò, những quả trứng được ấp ở nhiệt độ ổn định khoảng 28 °C (82 °F). Khi trứng nở, bản năng thúc đẩy rắn cái rời khỏi tổ và tìm mồi để ăn vì thế rắn cái không ăn thịt rắn con. Các cá thể rắn non, với chiều dài trung bình từ 45 đến 55 cm (18–22 in), có đầy đủ tuyến nọc độc như cá thể trưởng thành. Da rắn con có các vạch màu sáng, nhưng những vạch màu sẽ nhạt dần hoặc biến mất khi chúng trưởng thành. Rắn con thường cảnh giác và dễ bị kích thích, chúng sẽ rất hung dữ nếu bị quấy rầy[3].

Nọc độc[sửa | sửa mã nguồn]

Hộp sọ rắn hổ mang chúa với 2 răng nanh

Nọc độc của rắn hổ mang chúa chủ yếu thuộc nhóm neurotoxins (độc tố thần kinh), thành phần chính là haditoxin[22], và một vài hợp chất khác[13][23]. Liều lượng LD50 biến thiên khi tiêm vào tĩnh mạch khoảng 1,31 mg / kg[24] và tiêm vào bụng khoảng 1,644 mg / kg[24] đến tiêm dưới da khoảng 1,7-1,93 mg / kg.[25][26][27]

Loài rắn này hoàn toàn có thể giết chết một người chỉ bằng một vết cắn và nạn nhân bị tiêm vào thân một lượng lớn nọc độc với liều khoảng 200 đến 500 mg[3][28][29] hoặc thậm chí lên đến 7 ml[9]. Engelmann và Obst (1981) liệt kê liều lượng nọc độc trung bình là khoảng 420 mg (trọng lượng thô)[26]. Theo đó, một lượng lớn chất kháng nọc độc mới đủ cần thiết để đảo ngược sự tiến triển các triệu chứng trúng độc khi bị rắn cắn[4] . Nọc độc tấn công hệ thần kinh trung ương của nạn nhân, dẫn đến đau nhức, mờ mắt, chóng mặt, buồn ngủ, và cuối cùng tê liệt. Nếu tình trạng nghiêm trọng, chất độc tiến đến hệ tuần hoàn, và nạn nhân rơi vào trạng thái hôn mê. Tử vong nhanh chóng do bị suy hô hấp. Hơn nữa, nạn nhân còn có thể suy thận theo một vài quan sát vết rắn cắn thí nghiệm mặc dù trường hợp này không phổ biến[30]. Vết cắn của rắn hổ mang chúa có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng[3][4] chỉ sau 30 phút[4][31]. Độc rắn hổ chúa thậm chí được ghi nhận có khả năng giết chết một con voi trường thành trong vòng vài giờ[32]. Theo ước tính, trung bình 1 mg nọc độc của loài rắn này có khả năng gây tử vong cho khoảng 160 đến 200 người trưởng thành nếu không được chữa trị.

Có hai loại huyết thanh kháng độc được sử dụng để điều trị rắn cắn. Hội Chữ thập đỏ Thái Lan sản xuất một loại, và Viện Nghiên cứu Trung ương ở Ấn Độ sản xuất loại còn lại; tuy nhiên, cả hai được sử dụng với số lượng nhỏ, và trong khi luôn sẵn sàng để đặt hàng, không được dự trữ rộng rãi[33]. Ohanin, một thành phần protein của nọc độc, gây ra hội chứng hypolocomotion và hyperalgesia ở động vật có vú[34]. Các thành phần khác có cardiotoxic (gây suy tim)[35], cytotoxic (hủy hoại tế bào) và neurotoxic (hủy hoại thần kinh)[36]. Tại Thái Lan, hỗn hợp pha chế của alcoholrễ của củ nghệ dùng uống, đã được chứng minh lâm sàng có khả năng phục hồi mạnh mẽ cơ thể, chống lại nọc độc của hổ mang chúa và nọc độc thần kinh của các loài rắn khác[37]. Phương pháp điều trị thích hợp và trực tiếp sẽ rất quan trọng để cứu sống nạn nhân. Tiền lệ thành công được ghi nhận là một nạn nhân hồi phục và xuất viện sau 10 ngày nhờ được điều trị bằng huyết thanh hợp lý và sự chăm sóc đúng đắn[31].

Trường hợp bị loài rắn này cắn khá hiếm và hầu hết người tiếp xúc thực sự điều khiển được con rắn[3]. Không phải tất cả vết cắn đều chứa độc nhưng thường được xem là có tầm quan trọng y tế[38]. Tỷ lệ tử vong giữa các vùng miền là khác nhau và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như tiến bộ của y tế địa phương. Một cuộc khảo sát tại Thái Lan báo cáo có 10 trường hợp tử vong trong tổng số 35 nạn nhân bị hổ chúa cắn, có tỷ lệ tử vong khi bị cắn (28%) cao hơn so với các loài rắn hổ mang khác[39]. Một báo cáo sáu năm được công bố của một Bệnh viện miền Nam Ấn Độ cho thấy 2/3 số nạn nhân bị rắn hổ chúa cắn được phân vào loại "nghiêm trọng", mặc dù cuối cùng không tử vong do phương pháp điều trị y tế thích hợp[30]. Bộ phận nghiên cứu độc tố lâm sàng tại Đại học Adelaide chỉ ra tỷ lệ tử vong do hổ chúa cắn khi không được điều trị là khoảng 50 - 60%, có nghĩa là khoảng một nửa vết cắn không chứa độc[25].

Giá trị y dược[sửa | sửa mã nguồn]

Y học cổ truyền[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đông y, những ghi chép đầu tiên về sử dụng rắn làm dược liệu đã xuất hiện ở Trung Quốc từ năm thứ 100 SCN.

Bộ sách Thần Nông bản thảo kinh[40] có ghi lại : Bạch hoa xà (rắn hổ mang) không có chân nhưng trong các loài vật, nó là loài có đốt sống dài nhất, nó thậm chí có thể di chuyển trên mọi địa hình, từ dòng nước sâu đến ngọn cây cao. Chính tốc độ di chuyển và sự linh hoạt đáng kinh ngạc của loài rắn này đã gợi ý các thầy thuốc tới việc có thể sử dụng rắn hổ mang để hỗ trợ điều trị hiệu quả các bệnh về khớp xương.

Bộ sách Bản Thảo cương mục[41] viết: “Vị thuốc rắn hổ mang thấm sâu vào xương, trục xuất phong (gió) gây bệnh và làm giảm bớt co giật, và các bệnh liên quan đến đau khớp do phong hàn”.

Bộ sách Minh họa dược liệu làm thuốc cũng chỉ rõ: “Rắn hổ mang có tác dụng nhanh hơn đáng kể trong điều trị hội chứng phong thấp so với bất kỳ loài rắn nào khác.

Y học hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày nay, y học hiện đại thống kê giá trị y dược của rắn hổ mang chúa theo từng bộ phận :

  • Thịt rắn và xương rắn : có chứa nhiều Protid và Acid amin. Có vị ngọt, tính ấm, có tác dụng khu phong trừ thấp, thông kinh hoạt lạc và chỉ thống, bổ can thận, mà can thận khỏe thì xương cốt sẽ cường kiện, vững chắc. Có công dụng chữa các bệnh thần kinh đau nhức, viêm đau khớp, tê liệt, khó vận động, bán thân bất toại.
  • Mật rắn : có màu xanh thẫm chứa nhiều acid mật. Có tính mát, vị ngọt và đắng, tác dụng thanh nhiệt giải độc, hóa đờm trấn kinh, thường dùng để chữa chứng kinh phong, thấp khớp, nhất là thấp khớp cấp. Thường dược phối hợp với nhiều vị thuốc khác nhau để chữa ho, đau lưng, nhức đầu khó chữa. Mật rắn độc, dùng với liều thấp.
  • Nọc rắn : có tác dụng chống viêm mạch. Bào chế thành thuốc tiêm hay thuốc xoa bóp để giảm đau. Nhưng phổ biến nhất là loại thuốc xoa bóp dùng chữa thấp khớp, viêm cơ, viêm khớp, đau dây thần kinh.
  • Xác rắn : là lớp da cũ khi rắn lột xác bỏ lại. Có tác dụng khử phong, sát trùng, tan mộng, chữa những chứng kinh nguy hiểm của trẻ em, trị đau họng, ghẻ lở.
  • Cao rắn toàn phần : cao được làm từ xương, thịt, mật và nọc nên có chứa nhiều acid amin, tác dụng khu phong, trừ thấp, là nguyên liệu giúp cơ thể tổng hợp nên các Proteoglycan. Tác dụng của Proteoglycan là hấp thu nước và chất dịch đến nơi xương khớp hoạt động để bôi trơn các khớp xương, làm giảm đau viêm khớp, ngăn ngừa biến chứng và dần khắc phục những tổn thương có sẵn của xương khớp, giải quyết triệt để các chứng viêm. Ngoài ra, cao rắn hổ mang còn chứa Saponozit, Protit và các dưỡng chất thiết yếu như vitamin A, D, vitamin nhóm B (như B1, B2, B6…), Axit Folic, Canxi, Sắt, Magie và Kẽm... giúp nuôi dưỡng sụn khớp và bảo vệ, làm bền vững các dây chằng, tăng cường hoạt dịch cho khớp và tái tạo sụn khớp, phục hồi ổ viêm. Cao rắn thường dùng chữa các bệnh xương khớp sưng đau, chân tay nhức mỏi, thoái hóa khớp, vận động khó khăn, bán thân bất toại.

Bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Một con rắn tại Vườn thú và bách thảo Cincinnati, Ohio, Ohio

Tại Ấn Độ, rắn hổ mang chúa được bảo vệ tại mục II của Luật bảo vệ động vật hoang dã (1972) (đã sửa đổi) và ai giết rắn hổ mang chúa sẽ bị phạt tù đến 6 năm.[42] Tại phía tây nam, Western Ghats (Ấn Độ) là vùng đất rộng mênh mông, bao quanh dãy núi chạy dọc bờ biển. Vùng đất này rộng tới 16.000 km2, được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Đây là vùng đất cực kỳ đa dạng sinh học. Western Ghats là nơi ẩm ướt nhất hành tinh. 40% lượng nước của Ấn Độ được cung cấp bởi những con sông, suối bắt nguồn từ Western Ghats. Hiện Western Ghats được coi là nơi mà số lượng loài rắn hổ mang chúa còn nhiều nhất thế giới. Nhiều khu bảo tồn rắn hổ chúa đã được quy hoạch ở Western Ghats để bảo tồn loài rắn này. Việc bảo tồn loài hổ chúa ở Western Ghats rất thuận lợi, bởi người dân ở Western Ghats rất tôn trọng rắn hổ chúa, coi chúng như thần linh, không bao giờ giết loài rắn này. Môi trường sống phù hợp, được bảo vệ nghiêm ngặt, nên hổ chúa ở Western Ghats có điều kiện phát triển rất tốt, đạt kích thước cực đại. Chúng sống được tới 30 năm và chúng không bao giờ ngừng phát triển. Đó chính là lý do có thể gặp những con rắn chúa khổng lồ ở Western Ghats. Các nhà khoa học nghiên cứu về hổ chúa từ khắp thế giới đã đến vùng đất này và ghi nhận hổ chúa ở đây có thể đạt kích cỡ tới 7m, nặng đến 30 kg.

Tại miền nam Việt Nam, theo một số nguồn báo chí thì rắn hổ mây là tên gọi khác của loài rắn này[43], bởi vì tuy thân hình to lớn, đồ sộ nhưng chúng di chuyển nhanh như mây trên trời[cần dẫn nguồn]. Rắn hổ mang chúa được cho là một món ăn có nhiều giá trị dinh dưỡng nên hay bị săn bắt. Đây là loài khá quý hiếm, đang được bảo vệ. Pháp luật Việt Nam cấm buôn bán, sở hữu loài rắn này. Tuy nhiên chúng vẫn được nuôi lậu tại các làng nuôi rắn và bị săn bắn khá nhiều trong tự nhiên.

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại Rắn trong biểu tượng văn hóa.

Tại Myanmar, rắn hổ mang chúa thường được thôi miên bởi các nữ nghệ nhân múa rẳn[14]. Thành viên của tộc người Pakkoku xăm mình bằng mực trộn với nọc độc rắn hổ chúa trên cơ thể trong một tuần, điều này có khả năng bảo vệ họ khỏi những con rắn, mặc dù không có bằng chứng khoa học xác thực[44]. Người thôi miên thường xăm ba chữ tượng hình[14]. Họ còn hôn đỉnh đầu rắn khi kết thúc biểu diễn[14].

Tại tiểu lục địa Ấn Độ, theo văn hóa tín ngưỡng, rắn hổ mang được cho là liên kết của 2 vị thần ShivaVishnu. Shiva, là chiến binh "hủy diệt" khổ hạnh, quấn 1 con rắn xung quanh cổ của thần. Vishnu được bảo vệ khỏi ánh nắng mặt trời bởi một con rắn hổ mang khổng lồ năm đầu được gọi là Kaliya, con vật đã từng là kẻ thù của thần. Cư dân rắn của thế giới ngầm, được gọi là naga, cũng chủ yếu là giống rắn hổ mang. Theo thần thoại, rắn hổ mang chúa được cho là trí nhớ đặc biệt, những hình ảnh kẻ giết rắn nằm trong mắt của con rắn đó, về sau khi điều tra, tìm kiếm thủ phạm giết rắn thần nhằm trả thù chỉ cần nhìn vào mắt. Bởi vì tin vào thần thoại này, bất cứ khi nào một con rắn hổ chúa bị giết, đặc biệt là ở Ấn Độ, phần đầu rắn hoặc là nghiền nát hoặc đốt để phá hủy đôi mắt hoàn toàn.[6].

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Stuart, B., Wogan, G., Grismer, L., Auliya, M., Inger, R.F., Lilley, R., Chan-Ard, T., Thy, N., Nguyen, T.Q., Srinivasulu, C. & Jelić, D. (2012). Ophiophagus hannah. The IUCN Red List of Threatened Species. Version 2014.3.
  2. ^ a ă â b c d đ Mehrtens, John (1987). Living Snakes of the World. New York: Sterling. ISBN 0-8069-6461-8. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g O'Shea, Mark. Venomou snakes of the world. ISBN 978-0-691-15023-9. “Average venom yield is 200–500 mg;an adult king cobra is not only the most impressive of all snakes but also one of the most dangerous.” 
  4. ^ a ă â b c Davidson, Terence. “IMMEDIATE FIRST AID”. University of California, San Diego. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2011. 
  5. ^ a ă â Young, D. (1999). “Ophiophagus hannah”. Animal Diversity Web. ‘the King Cobra is undoubtedly a very dangerous snake ("Behavior" section)’ 
  6. ^ a ă Taylor, David (1997). King Cobra. National Geographic Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2007. 
  7. ^ a ă Wood, The Guinness Book of Animal Facts and Feats. Sterling Pub Co Inc (1983), ISBN 978-0-85112-235-9
  8. ^ a ă Venomous Land Snakes, Dr.Willott. Cosmos Books Ltd. ISBN 988-211-326-5. 
  9. ^ a ă â b c d “National geographic- KING COBRA”. “They are fiercely aggressive when cornered (line 28–29); average life span in the wild: 20 years (fast facts)” 
  10. ^ Miller, Harry (tháng 9 năm 1970). “The Cobra, India's 'Good Snake'”. National Geographic 20: 393–409. 
  11. ^ “CITES List of animal species used in traditional medicine”. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2007. 
  12. ^ Philadelphia Zoo – King cobra. philadelphiazoo.org
  13. ^ a ă â Capula, Massimo; Behler (1989). Simon & Schuster's Guide to Reptiles and Amphibians of the World. New York: Simon & Schuster. ISBN 0-671-69098-1. 
  14. ^ a ă â b c Coborn, John (tháng 10 năm 1991). The Atlas of Snakes of the World. TFH Publications. tr. 30, 452. ISBN 978-0-86622-749-0. 
  15. ^ Cornett, Brandon (2012). King Cobra – Ophiophagus hannah. Reptile Knowledge
  16. ^ Greene, HW (1997). Snakes: The Evolution of Mystery in Nature. California, USA: University of California Press. ISBN 0520224876. [cần số trang]
  17. ^ Tweedie, MWF (1983). The Snakes of Malaya. Singapore: Singapore National Printers Ltd. OCLC 686366097. [cần số trang]
  18. ^ Takacs, Zoltan. “Why the cobra is resistant to its own venom”. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2007. 
  19. ^ Hauser, Sjon. King Cobras, the largest venomous snakes. sjonhauser.nl
  20. ^ Young, Bruce A. (1991). “Morphological basis of "growling" in the king cobra, Ophiophagus hannah”. Journal of Experimental Zoology 260 (3): 275–87. doi:10.1002/jez.1402600302. PMID 1744612. 
  21. ^ Piper, Ross (2007). Extraordinary Animals: An Encyclopedia of Curious and Unusual Animals. Westport, Connecticut: Greenwood Press. ISBN 0-313-33922-8. 
  22. ^ “King Cobra venom may lead to a new drug”. United Press International. Ngày 10 tháng 3 năm 2010. 
  23. ^ Roy, A; Zhou, X; Chong, MZ; d'Hoedt, D; Foo, CS; Rajagopalan, N; Nirthanan, S; Bertrand, D; Sivaraman, J; Kini, R. M. (2010). “Structural and Functional Characterization of a Novel Homodimeric Three-finger Neurotoxin from the Venom of Ophiophagus hannah (King Cobra)”. The Journal of biological chemistry 285 (11): 8302–15. doi:10.1074/jbc.M109.074161. PMC 2832981. PMID 20071329. 
  24. ^ a ă Séan Thomas & Eugene Griessel – Dec 1999. “LD50 (Archived)”. 
  25. ^ a ă “Ophiophagus hannah”. University of Adelaide. 
  26. ^ a ă Engelmann, Wolf-Eberhard (1981). Snakes: Biology, Behavior, and Relationship to Man. Leipzig; English version NY, USA: Leipzig Publishing; English version published by Exeter Books (1982). tr. 222. ISBN 0-89673-110-3. 
  27. ^ Handbook of clinical toxicology of animal venoms and poisons 236. USA: CRC Press. 1995. ISBN 0-8493-4489-1. 
  28. ^ Snake of medical importance. Singapore: Venom and toxins research group. ISBN 9971-62-217-3. 
  29. ^ Carroll, Sean B. (ngày 25 tháng 10 năm 2010). “science-the king cobra”. The New York Times. 
  30. ^ a ă “Snake-bite Envenomation: A Comprehensive Evaluation of Severity, Treatment and Outcome in a tertiary Care South Indian Hospital”. The Internet Journal of Emergency Medicine 5. 2009. doi:10.5580/11c0. 
  31. ^ a ă PMID 1754675 (PubMed)
    Citation will be completed automatically in a few minutes. Jump the queue or expand by hand
  32. ^ Dr Debra Bourne MA VetMB PhD MRCVS. “Snake Bite in Elephants and Ferrets”. Twycross Zoo. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2014. 
  33. ^ “Munich AntiVenom Index: Ophiophagus hannah”. Munich Poison Center. MAVIN (Munich AntiVenom Index). Ngày 1 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2007. 
  34. ^ Pung, Y.F., Kumar, S.V., Rajagopalan, N., Fry, B.G., Kumar, P.P., Kini, R.M. (2006). “Ohanin, a novel protein from king cobra venom: Its cDNA and genomic organization”. Gene 371 (2): 246–56. doi:10.1016/j.gene.2005.12.002. PMID 16472942. 
  35. ^ Rajagopalan, N., Pung, Y.F., Zhu, Y.Z., Wong, P.T.H., Kumar, P.P., Kini, R.M. (2007). “β-Cardiotoxin: A new three-finger toxin from Ophiophagus hannah (King Cobra) venom with beta-blocker activity”. The FASEB Journal 21 (13): 3685. doi:10.1096/fj.07-8658com. 
  36. ^ Chang, L.-S., Liou, J.-C., Lin, S.-R., Huang, H.-B. (2002). “Purification and characterization of a neurotoxin from the venom of Ophiophagus hannah (king cobra)”. Biochemical and biophysical research communications 294 (3): 574–8. doi:10.1016/S0006-291X(02)00518-1. PMID 12056805. 
  37. ^ Ernst, Carl H. and Evelyn M. (2011). Venomous Reptiles of the United States, Canada, and Northern Mexico: Heloderma, Micruroides, Micrurus, Pelamis, Agkistrodon, Sistrurus. JHU Press. tr. 44–45. ISBN 978-0-8018-9875-4. 
  38. ^ Mathew, Gera, JL, T. “Ophitoxaemia (Venomous snakebite)”. MEDICINE ON-LINE. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2013. 
  39. ^ Norris MD, Robert L.,. “Cobra Envenomation”. Medscape. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013. 
  40. ^ Tác phẩm dược học sớm nhất còn được bảo tồn ở Trung Quốc. Tác giả : Đào Ẩn Tích
  41. ^ Năm 1590. Tác giả : Lý Thời Trân
  42. ^ Sivakumar, B (ngày 2 tháng 7 năm 2012). “King cobra under threat, put on red list”. The Times of India – Chennai (Bennett, Coleman & Co. Ltd.). 
  43. ^ VTC, 4/10/2012. Giải mã sự thật về rắn hổ mây khổng lồ
  44. ^ John C. Murphy (2010). Secrets of the Snake Charmer: Snakes in the 21st Century. iUniverse. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]