Rối loạn lưỡng cực

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Rối loạn lưỡng cực
Teatro.svg
Rối loạn cảm xúc lưỡng cực đặc trưng do sự biến chuyển giữa các cảm xúc trầm cảm và hưng phấn.
Chuyên khoatâm thần học, tâm lý trị liệu
ICD-10F31
ICD-9-CM296.0, 296.1, 296.4, 296.5, 296.6, 296.7, 296.8
OMIM125480 Bản mẫu:OMIM2
DiseasesDB7812
MedlinePlus000926
eMedicinemed/229
Patient UKRối loạn lưỡng cực
MeSHD001714

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực là một chứng bệnh rối loạn tâm thần gây ra sự biến đổi cảm xúc không ổn định. Người bệnh chuyển từ cảm xúc hưng phấn (hưng cảm) sang cảm xúc ức chế (trầm cảm)[1][2]. Bệnh có tính chất chu kỳ xen kẽ giữa hưng phấn và ức chế.[cần dẫn nguồn]

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên nhân cụ thể của bệnh rối loạn lưỡng cực hiện nay khoa học vẫn không rõ, tuy nhiên có một số yếu tố dường như đã được tham gia trong việc gây ra và kích hoạt những cơn lưỡng cực như sau :

-Yếu tố sự khác biệt về sinh học trong cơ thể : Ở những bệnh nhân có rối loạn lưỡng cực xuất hiện thì có các sự thay đổi vật lý trong não bộ của họ. Tầm quan trọng của những thay đổi ở não này hiện nay vẫn còn chưa chắc chắn nhưng cuối cùng chúng có thể giúp chỉ điểm nguyên nhân gây ra bệnh.

-Yếu tố các chất dẫn truyền thần kinh trong cơ thể : Sự mất cân bằng tự nhiên của các chất có trong não gọi là những chất dẫn truyền thần kinh đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong bệnh rối loạn lưỡng cực này và các rối loạn về tâm trạng khác.

-Các nội tiết tố : Mất cân bằng các nội tiết tố có thể tham gia trong việc gây ra hay gây nên rối loạn lưỡng cực.

-Kế thừa những đặc điểm : Rối loạn lưỡng cực thường gặp hơn ở những người có anh chị em hay là cha mẹ đã mắc bệnh. Các nhà khoa học nghiên cứu đang cố gắng tìm ra các gen mà có thể được tham gia trong cơ chế gây ra rối loạn lưỡng cực.

-Môi trường : Môi trường sống và làm việc căng thẳng , lạm dụng , tổn thất hay trải nghiệm các đau thương đáng kể khác có thể đóng một vai trò quan trọng trong rối loạn lưỡng cực.

Thuốc điều trị rối loạn cảm xúc lưỡng cực[sửa | sửa mã nguồn]

Loại thuốc

Tác dụng

Pha hưng cảm

Carbamazepine(

kháng động kinh)

Chống hưng cảm và

ổn định khí sắc 

Valproic Acid(

kháng động kinh)

Chống hưng cảm và

ổn định khí sắc 

Antipsychotics(an

thần kinh)

Giảm kích động và

rối loạn tư duy cũng như hoang tưởng ảo giác và hành vi bất thường. 

Benzodiazepine

(seduxen)

Kiểm soát hưng cảm,

giảm kích động và trạng thái bất an, cải thiện giấc ngủ 

Lithium (chỉnh khí

sắc)

Giảm triệu chứng

hưng cảm nhanh sau 2 tuần điều trị. Ổn định khí sắc 

Pha trầm cảm

Antidepressants(

Chống trầm cảm)

Chỉ sử dụng cho pha

trầm cảm, chỉ sử dụng trong một thời gian ngắn nếu không sẽ kích hoạt triệu
chứng hưng cảm. 

Điều trị duy trì

Anticonvulsant(

kháng động kinh)

ổn định khí sắc

Antipsychotics(an

thần kinh)

Carbamazepine(

kháng động kinh)

ổn định khí sắc

Gabapentin(kháng

động kinh)

ổn định khí sắc

Lamotrigine(kháng

động kinh)

ổn định khí sắc

Lithium(chỉnh khí

sắc)

ổn định khí sắc

Topipramate(kháng

động kinh)

ổn định khí sắc

Valproic Acid(

kháng động kinh)

ổn định khí sắc

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Anderson, IM; Haddad, PM; Scott, J (27 tháng 12 năm 2012). “Bipolar disorder.”. BMJ (Clinical research ed.) 345: e8508. PMID 23271744. doi:10.1136/bmj.e8508. 
  2. ^ American Psychiatry Association (2013). Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (ấn bản 5). Arlington: American Psychiatric Publishing. tr. 123–154. ISBN 0890425558.