Rối loạn vận động

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Rối loạn vận động là các hội chứng lâm sàng có quá nhiều chuyển động hoặc một số ít các chuyển động tự nguyện và không tự nguyện, không liên quan đến sự yếu ớt hoặc co cứng.[1] Rối loạn vận động đồng nghĩa với hạch nền hoặc bệnh ngoại tháp.[2] Các rối loạn vận động thường được chia thành hai loại chính - hyperkinetichypokinetic.

Rối loạn vận động hyperkinetic đề cập đến rối loạn vận động, hoặc quá mức, thường lặp đi lặp lại, chuyển động không tự nguyện xâm nhập vào dòng chảy bình thường của hoạt động vận động.

Rối loạn chuyển động hypokinetic bao gồm các chứng akinesia (thiếu vận động), hypokinesia (giảm biên độ chuyển động), bradykinesia (di chuyển chậm) và cứng nhắc. Trong rối loạn vận động nguyên phát, sự di chuyển bất thường là biểu hiện chính của rối loạn. Trong các rối loạn vận động thứ phát, sự di chuyển bất thường là một biểu hiện của một rối loạn hệ thống hoặc thần kinh khác.[3]

Chẩn đoán[sửa | sửa mã nguồn]

Bước I : Quyết định loại rối loạn vận động chiếm ưu thế [4]

Bước II: Chẩn đoán phân biệt rối loạn đặc biệt

Bước III : Xác nhận chẩn đoán bằng các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm

  • Sàng lọc chuyển hóa
  • Vi trùng học
  • Miễn dịch học
  • Kiểm tra CSF
  • Di truyền học
  • Hình ảnh
  • Xét nghiệm sinh lý thần kinh
  • Xét nghiệm dược lý

Điều trị[sửa | sửa mã nguồn]

Điều trị phụ thuộc vào các rối loạn cơ bản.[5] Rối loạn vận động đã được biết là có liên quan đến một loạt các bệnh tự miễn dịch.[6]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vesalius và Piccolomini trong thế kỷ 16 phân biệt các hạt nhân dưới vỏ não với vỏ não và chất trắng. Tuy nhiên, Willis đã khái niệm hóa thể khía là chỗ dựa của sức mạnh vận động vào cuối thế kỷ 17. Vào giữa thế kỷ 19, các rối loạn vận động đã được Choreaby Broadbent và Jackson, và Hametosis của Hammond cụ thể hóa. Vào cuối thế kỷ 19, nhiều rối loạn vận động đã được mô tả nhưng đối với hầu hết không có mối tương quan bệnh lý nào được biết đến.[7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Fahn, Stanley; Jankovic, Joseph; Hallett, Mark (9 tháng 8 năm 2011). Principles and Practice of Movement Disorders (bằng tiếng Anh). Elsevier Health Sciences. ISBN 1437737706. 
  2. ^ Bradley, Walter George (1 tháng 1 năm 2004). Neurology in Clinical Practice: Principles of diagnosis and management (bằng tiếng Anh). Taylor & Francis. ISBN 9789997625885. 
  3. ^ Flemming, Kelly; Jones, Lyell (15 tháng 6 năm 2015). Mayo Clinic Neurology Board Review: Clinical Neurology for Initial Certification and MOC (bằng tiếng Anh). Oxford University Press. ISBN 9780190244934. 
  4. ^ Poewe, Werner; Jankovic, Joseph (20 tháng 2 năm 2014). Movement Disorders in Neurologic and Systemic Disease (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. ISBN 9781107024618. 
  5. ^ “MedlinePlus: Movement Disorders”. 
  6. ^ Baizabal-Carvallo, JF; Jankovic J. (18 tháng 7 năm 2012). “Movement disorders in autoimmune diseases.”. Movement Disorders 27 (8): 935–46. PMID 22555904. doi:10.1002/mds.25011. 
  7. ^ Lanska, Douglas J. (1 tháng 1 năm 2010). “Chapter 33: the history of movement disorders”. Handbook of Clinical Neurology 95: 501–546. ISSN 0072-9752. PMID 19892136. doi:10.1016/S0072-9752(08)02133-7.