ROCS An Dương (DD-18)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Kimberly
Tàu khu trục USS Kimberly (DD-521), Xưởng hải quân Mare Island, California, 26 tháng 6 năm 1945
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Kimberly (DD-521)
Đặt tên theo: Chuẩn đô đốc Lewis A. Kimberly
Hãng đóng tàu: Bethlehem Mariners Harbor, Staten Island, New York
Đặt lườn: 27 tháng 7 năm 1942
Hạ thủy: 4 tháng 2 năm 1943
Đỡ đầu bởi: cô Elsie S. Kimberly
Nhập biên chế: 22 tháng 5 năm 1943
Tái biên chế: 8 tháng 2 năm 1951
Xuất biên chế: 5 tháng 2 năm 1947
15 tháng 1 năm 1954
Xóa đăng bạ: 25 tháng 1 năm 1974
Danh hiệu và
phong tặng:
5 × Ngôi sao Chiến trận (Thế Chiến II);
1 × Ngôi sao Chiến trận (Chiến tranh Triều Tiên)
Số phận: Chuyển cho Đài Loan, 1 tháng 6 năm 1967
Phục vụ (Đài Loan)
Tên gọi: ROCS An Dương (DD-18)
Trưng dụng: 1 tháng 6 năm 1967
Nhập biên chế: 2 tháng 6 năm 1967
Xuất biên chế: 16 tháng 9 năm 1999
Xếp lớp lại: DDG-918
Số phận: Bị đánh chìm như mục tiêu, 14 tháng 10 năm 2003
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Fletcher
Kiểu: Tàu khu trục
Trọng tải choán nước: 2.100 tấn Anh (2.100 t) (tiêu chuẩn)
2.924 tấn Anh (2.971 t) (đầy tải)
Độ dài: 376 ft 5 in (114,73 m) (chung)
Sườn ngang: 39 ft 08 in (12,09 m) (chung)
Mớn nước: 13 ft 9 in (4,19 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số
2 × trục
công suất 60.000 shp (45.000 kW)
Tốc độ: 36 kn (41 mph; 67 km/h)
Tầm xa: 6.500 nmi (12.000 km) ở tốc độ 15 kn (17 mph; 28 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
336 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang:

5 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber (5×1);
2 × pháo phòng không Bofors 40 mm;
6 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm;
10 × ống phóng ngư lôi Mark 15 21 in (530 mm) (2×5);

6 × máy phóng K-gun và 2 × đường ray thả mìn sâu

ROCS An Dương (DD-18) là một tàu khu trục lớp Fletcher thuộc biên chế Hải quân Trung Hoa Dân Quốc. Tên gọi của tàu bắt nguồn từ An Dương là một huyện thuộc địa cấp thị An Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.

Tàu nguyên là USS Kimberly (DD-521) thuộc biên chế Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt theo tên Chuẩn đô đốc Lewis A. Kimberly (1838-1902), người tham gia cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Nó được cho xuất biên chế không lâu sau khi Thế Chiến II kết thúc, tái biên chế trở lại năm 1951 và tiếp tục hoạt động trong Chiến tranh Triều Tiên rồi lại ngừng hoạt động năm 1954.

Kimberly được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Bethlehem Steel Co. ở Staten Island New York vào ngày 27 tháng 7 năm 1942. Nó được hạ thủy vào ngày 4 tháng 2 năm 1943; được đỡ đầu bởi cô Elsie S. Kimberly, con gái Chuẩn đô đốc Kimberly; và nhập biên chế vào ngày 22 tháng 5 năm 1943 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân Harry W. Smith.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp Fletcher là thế hệ tàu khu trục đầu tiên được thiết kế sau khi những giới hạn về kích cỡ tàu chiến của một loạt các hiệp ước hải quân trước đây mất hiệu lực. Sự phát triển về thiết kế một phần là giải pháp cho câu hỏi lớn luôn ám ảnh thiết kế của Hải quân Hoa Kỳ: tầm xa hoạt động cần thiết cho các chiến dịch tại Thái Bình Dương. Chúng phải mang theo không ít hơn năm khẩu pháo 5 in (127 mm) và mười ống phóng ngư lôi trên trục giữa ở sàn tàu, cho phép chúng đáp trả mọi thiết kế nước ngoài ở điều kiện ngang bằng. So sánh với những thiết kế trước đây, lớp Fletcher lớn hơn, cho phép chấp nhận việc bổ sung sau này hai khẩu đội Bofors 40 mm phòng không bốn nòng cũng như sáu khẩu đội Oerlikon 20 mm nòng đôi. Việc bổ sung cho dàn hỏa lực phòng không này đòi hỏi việc loại bỏ dàn ống phóng ngư lôi năm nòng phía trước, một thay đổi được thực hiện trong chương trình đối phó với máy bay kamikaze vào ngày 4 tháng 4 năm 1945.[1]

Phục vụ Hải quân Trung Hoa Dân Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Con tàu được chuyển cho Đài Loan vào ngày 1 tháng 6 năm 1967, nơi nó phục vụ cùng Hải quân Trung Hoa dân quốc như là chiếc ROCS DD-18 An Dương. Sau khi được hiện đại hóa theo đề án Wu-Jin, nó trở thành chiếc DDG918 An Dương vào giữa những năm 1980. Con tàu ngừng hoạt động vào ngày 16 tháng 9 năm 1999 và bị đánh chìm như một mục tiêu vào ngày 14 tháng 10 năm 2003.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Friedman 2004, tr. 118

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]