Rapunzel (Disney)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Rapunzel
Nhân vật trong Nàng công chúa tóc mây
Disney Rapunzel running white background.jpg
Xuất hiện lần đầu Nàng công chúa tóc mây (Tangled) (2010)
Sáng tạo bởi Glen Keane
Lồng tiếng bởi Mandy Moore
Delaney Rose Stein (hồi nhỏ)
Thông tin
Giống loài Con người
Giới tính Con gái
Nghề nghiệp Công chúa
Chồng/vợ Eugene "Flynn Rider" Fitzherbert
Họ hàng Nhà vua (bố)
Hoàng hậu (mẹ)
Mẹ Gothel (mẹ nuôi)

Rapunzel là một nhân vật hư cấu xuất hiện trong bộ phim hoạt hình thứ 50 của Walt Disney Pictures, Nàng công chúa tóc mây (Tangled) (2010). Nhân vật này sau đó cũng xuất hiện trong phần sau của bộ phim trên, một phim hoạt hình ngắn với tên gọi Tangled Ever After (2012). Trong cả hai lần đó, nhân vật Rapunzel được lồng tiếng bởi ca sĩ Mandy Moore. Trong bộ phim đầu tiên, nhân vật Rapunzel hồi nhỏ được lồng tiếng bởi Delaney Rose Stein.

Sáng tạo bởi đạo diễn Glen Keane, người sau đó trở thành họa sĩ giám sát của nàng, Rapunzel được thiết kế dựa trên nhân vật chính trong truyện cổ tích cùng tên của anh em nhà Grimm. Trong phiên bản của Disney, Rapunzel, một nàng công chúa với mái tóc vàng rất dài và có phép thuật, bị đánh cắp khỏi vua và hoàng hậu từ khi còn rất nhỏ và được một người phụ nữ ích kỉ tên là mẹ Gothel nuôi lớn, người đã lợi dụng khả năng chữa lành mọi vết thương của mái tóc của nàng để làm cho mình trẻ mãi. Bị giam trong một toà tháp ẩn náu trong rừng sâu suốt mười tám năm, không được biết về thân phận hoàng gia của mình, Rapunzel nhờ đến sự giúp đỡ của một tên trộm tên là Flynn Rider để được đi xem thả đèn lồng trong dịp sinh nhật của mình.

Rapunzel đã nhận được phản hồi rất tích cực từ các nhà phê bình phim, phần lớn trong số họ ca ngợi sự hồn nhiên thoải mái, tự lập và tính cách hiện đại của nàng. Rapunzel chính thức trở thành một nàng công chúa Disney vào ngày 2 tháng 10 năm 2011, trở thành nhân vật thứ 10 của thương hiệu độc quyền này và là nhân vật đầu tiên được sáng tạo bằng máy tính. Vẻ bề ngoài, sự hồn nhiên ngây thơ và tính cách mạnh mẽ của nàng được so sánh nhiều với một nàng công chúa Disney trước đó là Ariel trong phim Nàng tiên cá (1989).

Quá trình phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc và các bản phác thảo[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi đang làm công việc của một họa sĩ giám sát cho bộ phim Tarzan vào năm 1996,[1] họa sĩ hoạt hình lâu năm của Disney Glen Keane quyết định sẽ chuyển thể câu chuyện cổ tích "Rapunzel" của anh em nhà Grimm thành một bộ phim hoạt hình.[2] Keane, người bắt đầu phát triển bộ phim với mục đích duy nhất là được đưa Rapunzel vào với phim hoạt hình,[3] đã bị thu hút đến với dự án bởi ông vô cùng thích thú với bản phác thảo về "một con người sinh ra với một món quà từ trong sâu thẳm của nàng và nó cần phải được hé mở", ví việc này với toàn bộ quá trình trải nghiệm của ông khi làm việc với Walt Disney Animation Studios.[4] Keane tự cho rằng mình là "một kiểu đạo diễn khác" bởi "[ông] thực sự quan tâm đến trái tim của nhân vật mình thực hiện trước... rồi sau đó mới bắt đầu phát triển cốt truyện."[3] Sau một cơn đau tim vào năm 2008, Keane quyết định tốt nhất ông nên rời khỏi vị trí hiện tại của mình, đề cử Nathan Greno và Byron Howard thay thế cho ông. Tuy nhiên, ông vẫn tham gia dự án với vai trò giám đốc sản xuất và là họa sĩ giám sát của nhân vật Rapunzel.[5]

"Quá trình phát triển một nhân vật với tôi là một hành trình rất riêng tư. Với tôi niềm hạnh phúc khi sáng tạo một nhân vật mới là vì tôi thực sự tin rằng mình đang đi đến tận cùng của việc tạo ra một nhân vật đáng nhớ. Tôi lấy những người tôi biết làm nguồn cảm hứng. Đó là một quá trình riêng tư rất quen thuộc và tôi sẽ vẽ hàng trăm, đôi khi hàng nghìn bức vẽ để tìm ra mẫu thiết kế đó. Luôn có một tiếng "ồ" lên khi tôi cuối cùng nhận ra nhân vật trên bức tranh của mình giống với một ai đó mình biết."
— Keane, về việc sáng tạo Rapunzel.[6]

Walt Disney đã tìm cách chuyển thể truyện "Rapunzel" thành một bộ phim hoạt hình không lâu sau khi hãng phim ra mắt Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn (1937). Dự án cuối cùng bị bỏ dở bởi cốt truyện tỏ ra là "một hạt dẻ khó cắn vỏ". Keane tin rằng việc câu chuyện cổ tích diễn ra quá nhiều trong một toà tháp có thể đã góp phần vào sự khó khăn khi thực hiện bộ phim. "Cho nên, tôi nghĩ, thật tuyệt vời khi thấy những gì Byron và Nathan đã làm – đưa nàng Rapunzel ra khỏi toà tháp... mang đến một hương vị thực sự mới mẻ cho câu chuyện cổ."[2] Bộ phim ban đầu được đặt tên là Rapunzel Unbraided,[7] được Keane miêu tả là "một phiên bản phim tương tự như Shrek",[8] và nhấn mạnh vào một cốt truyện hoàn toàn khác. Keane nói về phiên bản đầu tiên, "Đó là một phiên bản thú vị, tuyệt vời, dí dỏm và chúng tôi đã có những nhà viết kịch bản rất giỏi. Nhưng từ trong tận trái tim mình tôi vẫn tin rằng câu chuyện cần có thêm một chút chân thành và chân thực nữa, vậy nên chúng tôi đã đặt nó sang một bên và quay về với cốt truyện ban đầu của câu chuyện cổ tích."[9]

Trong vai trò đạo diễn, Greno và Howard muốn đảm bảo rằng Rapunzel thể hiện hình ảnh một cô gái ít "thụ động" hơn trong truyện cổ tích. "Chúng tôi biết chúng tôi đang làm phim cho một thế hệ khán giả hiện đại và chúng tôi muốn Rapunzel trở thành một mẫu nhân vật hiện thực theo một cách nào đó. Chúng tôi muốn sức mạnh của cô gái này sẽ chèo lái cốt truyện, để cô không phải chờ đợi điều gì đến cả… cô ấy là một cô gái thông minh, cô có những hi vọng và ước mơ như thế và cô sẽ biến tất cả chúng thành hiện thực."[10]

Lồng tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Từ trái sang phải: Nữ diễn viên Kristin ChenowethReese Witherspoon và ca sĩ Mandy Moore, ba người thử vai hàng đầu cho nhân vật Rapunzel.

Ban đầu, nữ diễn viên và ca sĩ của nhà hát Broadway Kristin Chenoweth được chọn lồng tiếng cho nhân vật Rapunzel.[11][12][13] Vào một thời điểm khác, các đạo diễn lại chọn nữ diễn viên Reese Witherspoon.[14] Tuy nhiên, cuối cùng cô đã từ bỏ dự án, với lý do rằng quan điểm sáng tạo của cô khác với của các nhà làm phim.[15] Sau cùng, họ đã chọn ca sĩ và diễn viên Mandy Moore cho vai này bởi, theo lý giải của đồng đạo diễn Byron Howard, cô "truyền tải được một tâm hồn tuyệt vời qua giọng nói" cũng như "có một giọng nói truyền cảm, đáng yêu và thực tế có thể biến cô trở thành một người đáp ứng được tất cả những gì bạn có thể mong chờ ở một nữ nhân vật chính của Disney."[16] Nữ diễn viên nhỏ tuổi Delaney Rose Stein sau đó đã được chọn lồng tiếng cho nhân vật Rapunzel hồi nhỏ.[17][18]

Moore "lớn lên trong niềm yêu thích những bộ phim của Disney", cô miêu tả như vậy về cơ hội được tham gia trong "bộ phim kịch tích và hoành tráng nhất" này.[19] Ban đầu cô không có nhiều hi vọng trong buổi thử giọng cho phim Tangled bởi cô nghĩ rằng sẽ có một sự cạnh tranh lớn, và sợ rằng một buổi thử giọng thất bại sẽ chỉ mang lại sự thất vọng mà thôi.[20][21] Tới khi quyết định sẽ tham gia buổi diễn thử, Moore được cho biết đã "theo đuổi" vai diễn nàng Rapunzel, thử giọng tới hai lần. Bởi đây là một bộ phim nhạc kịch đòi hỏi diễn viên phải thể hiện cả giọng nói và hát của nhân vật, các ứng viên đều được yêu cầu thể hiện một bài hát tuỳ thích. Theo lời chỉ dẫn phải hát một bài hát theo phong cách của một nghệ sĩ vừa sáng tác vừa biểu diễn,[22] Moore, một ca sĩ chuyên nghiệp, thể hiện ca khúc "Help Me" của nhạc sĩ kiêm ca sĩ Joni Mitchell,[23] một bài hát mà chính cô cũng đã hát lại trong album phòng thu thứ tư của mình, Coverage (2003).[24][25]

Khi tham gia lồng tiếng cho Tangled, Moore ban đầu không biết rằng bộ phim sẽ là bộ phim hoạt hình thứ 50 của Walt Disney Animation Studios. Sau đó cô cho rằng việc mình không biết về điều này là nên và giải thích rằng "Tôi thấy may mắn vì có thể tôi sẽ bị thêm một chút áp lực nếu tôi biết điều này khi đang trong quá trình thu âm."[21] Moore cũng ngạc nhiên khi biết rằng phần lớn các đoạn đối thoại của cô sẽ thu âm mà không có mặt các diễn viên lồng tiếng chính khác là Zachary LeviDonna Murphy, những người lồng tiếng cho các nhân vật Flynn RiderMẹ Gothel riêng biệt. Cô chỉ gặp Levi có một lần để thu âm bài hát "I See the Light", một bài hát giữa Rapunzel và Flynn.[19] Moore miêu tả quá trình thu âm khá là thử thách bởi cô không có nhiều hình ảnh trực quan bên mình lắm. Cô chia sẻ trong một buổi phỏng vấn với tạp chí NOW rằng, "Tất cả những thứ tôi làm việc cùng chỉ là vài bản vẽ phác đơn giản... nhưng cũng rất thú vị bởi điều này cho phép bạn bước vào chiều sâu của trí tưởng tượng." Cô cũng nói rằng, để thu âm giọng nói của Rapunzel, cô chỉ đơn giản "buông thả" mọi thứ mà thôi.[26] Moore thường được yêu cầu thu âm lại một câu tối đa bốn lần trước khi các đạo diễn hoàn toàn hài lòng với nó. Sau khi xem lại phim hoàn chỉnh lần đầu tiên, Moore tỏ ra hơi thất vọng với phần thể hiện của mình bởi cô nghĩ rằng giọng cô nghe hơi chói.[27]

Quá trình thiết kế và các đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

"Với Rapunzel tôi phải hoàn thành một số lượng bản vẽ khổng lồ và tôi muốn giữ một chút phá cách cho nhân vật. Tôi đã đọc một cuốn sách về vẻ đẹp của những người phụ nữ và ở đó nói rằng chìa khoá của vẻ đẹp chính là ở sự khác lạ trên khuôn mặt. Cần phải có một chút gì khác biệt, một vài chi tiết; đó có thể là cái mũi, đôi môi, chiếc răng của cô ấy, hay một mắt nằm cao hơn mắt còn lại, nhưng có một cái gì đó. Kể cả hàm răng của Rapunzel, cách cô ấy nói chuyện, có một cái gì đó không chắc chắn ở cách sắp đặt của những chiếc răng, và những thứ như thế được thiết kế kĩ càng để mang lại sự chân thực và quyến rũ cho nhân vật. "
— Keane, về việc thiết kế nhân vật Rapunzel và những bản phác thảo của "nét đẹp nữ tính".[1]

Glen Keane làm việc với vai trò họa sĩ giám sát cho nhân vật Rapunzel. Ông thiết kế nhân vật này dưới sự cố vấn của họa sĩ Disney đã về hưu Ollie Johnston, một trong những thành viên của nhóm Chín ông già của Disney.[28][29] Sau khi cho Johnson xem một trong số những bản vẽ thử bằng bút chì đầu tiên của nhân vật Rapunzel, Johnston khuyên Keane cố gắng nắm bắt và thể hiện sự chuyển động của cô ấy, cô ấy đang nghĩ gì, thay vì chỉ đơn thuần tập trung vào việc diễn tả, cô ấy đang làm gì. Johnson nói rằng, "điều tôi đang tự hỏi là: Cô ấy đang "nghĩ" gì? "[30] Trong một buổi phỏng vấn của Animation World Network, Keane ví lời khuyên này với việc nhận được "một cú hích mà tôi sẽ không bao giờ quên, từ đó khi tôi vẽ lại cảnh người khác làm việc, tôi luôn cố tự nhắc mình rằng nhân vật đó đang suy nghĩ điều gì ".[31]

Cá nhân đồng đạo diễn Byron Howard lại lấy cảm hứng từ vẻ bề ngoài của Ariel trong phim Nàng tiên cá (1989), một nhân vật cũng được chính Keane vẽ. Howard nói với Hollywood News rằng, "Ariel là nhân vật đầu tiên tôi từng nghĩ rằng có một tâm hồn ẩn sau đôi mắt kia... Chúng tôi hi vọng cũng có thể làm điều đó với Rapunzel, tìm ra một thứ tâm hồn và chiều sâu để mọi người có thể liên hệ ". Trong khi đó, mục tiêu của Keane là "mang những bức vẽ tay truyền thống vào máy tính."[32] Trong khi thiết kế Rapunzel, Keane chịu ảnh hưởng từ một cuốn sách hướng dẫn người đọc về "nét đẹp nữ giới". Cuốn sách giải thích rằng, "chìa khoá của vẻ đẹp nằm ở sự khác lạ trên khuôn mặt người phụ nữ." Quan tâm tới điều này, Keane vẽ Rapunzel với một chút không cân đối trong suy nghĩ, kết hợp vào vẻ bề ngoài của nàng phảng phất một chút thiếu sót, đặc biệt là ở hàm răng[1] có vẻ như "không hoàn hảo lắm";[32] Rapunzel được vẽ với hàm răng khểnh một cách có chủ ý. Cô ấy cũng được vẽ với một số vết tàn nhang trên mặt.[33] Thông qua đôi mắt to, Keane muốn truyền tải tính cách "không chịu khuất phục" của Rapunzel. Ông phát hiện ra một điểm tương tự như vậy trong giọng nói của Mandy Moore, và lấy cô làm nguồn cảm hứng.[34] Các họa sĩ thiết kế tới chín phiên bản khác nhau của nàng Rapunzel trước khi chọn một mẫu mà họ ưng ý nhất.[35]

Tính cách và nguồn cảm hứng cho nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ diễn viên Amy Poehler (trái) và Natalie Portman (phải), nguồn cảm hứng sáng tạo cho nhân vật Rapunzel.
Một bản phác thảo trên máy tính của nhân vật Rapunzel thể hiện "mái tóc vàng ngọt ngào" mà Keane mong muốn cho nhân vật.

Giám đốc sản xuất John Lasseter giải thích với tờ The New York Times, "Thử thách nằm ở chỗ bạn muốn tạo cảm giác Rapunzel là một người thông minh, sắc sảo, hiểu biết, khoẻ mạnh, vui vẻ và ngộ nghĩnh — một người chưa từng rời khỏi toà tháp trong suốt 18 năm ".[36] Để tránh tạo ra một nữ nhân vật chính "có vẻ công chúa và xa rời thực tế, các nhà viết kịch bản có một chút xây dựng tính cách của Rapunzel dựa trên một số nhân vật nổi tiếng là nữ. Nữ diễn viên Reese Witherspoon và Natalie Portman là một nguồn cảm hứng, cùng với diễn viên hài và là ngôi sao của Saturday Night Live, Amy Poehler. Kết quả là một loạt những "phẩm chất không ngờ tới và rất đa dạng" được mong chờ sẽ "khơi dậy sự mong đợi về những gì một nàng công chúa nên có."[35] The New York Times lưu ý rằng tính cách của nàng Rapunzel là một bước chuyển quan trọng so với các nữ nhân vật chính trước đây của Disney. Viết cho báo chí, Brooks Barnes nói rằng Rapunzel "rất cứng rắn và mạnh mẽ: cô đánh Flynn bằng một chiếc chảo rán khi anh ta tìm cách trèo lên toà tháp của cô và dùng mái tóc của mình như một chiếc roi vậy."[36] Theo Mandy Moore, Rapunzel "không phải là… một công chúa Disney điển hình… cô ấy rất tự lập, cô ấy có thể tự lo cho bản thân mình. "[37]

Keane được biết đến là người thường thiết kế các nhân vật hoạt hình dựa trên các thành viên trong gia đình mình. Trong khi vẻ bề ngoài của Ariel được thiết kế dựa trên vợ của Keane,[38] thì niềm đam mê của Rapunzel với nghệ thuật và hội họa lấy từ con gái ông, Claire.[39] Trong bộ phim, một số bức tranh của Claire đã được sử dụng để trang trí tường và trần toà tháp của Rapunzel.[40] Trong khi Keane đang làm việc với Tangled, Claire sinh con gái đầu lòng, đứa cháu đầu tiên của ông, Matisse, vẻ bề ngoài của đứa cháu đó đã được Keane sử dụng làm nguồn cảm hứng cho nhân vật Rapunzel hồi nhỏ xuất hiện ở đầu phim.[41][42]

Mái tóc và công nghệ được sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

"Mái tóc… trở thành một trong những thử thách lớn nhất của bộ phim. Bởi mái tóc dài của Rapunzel chính là thứ đặc biệt và quan trọng nhất của cô ấy (nó có thể chữa lành các vết thương, giúp cô di chuyển và khiến cô trở thành mục tiêu của kẻ bắt giữ), nó cần phải trông thật chân thực trên màn ảnh rộng. Để thiết kế mái tóc, đạo diễn nói, các họa sĩ phải vẽ một series những ống dài trông gần giống món mì Ý. 'Số lượng là vào khoảng 1,000 ống hay 100,000 sợi tóc thật. Các họa sĩ giờ đã có thể thiết kế được những chuyển động cơ bản từ những chiếc ống này.'"
— Tạp chí Sioux City Journal, phỏng vấn Howard and Greno.[43]

Rapunzel là nữ nhân vật chính với mái tóc vàng đầu tiên sau Aurora trong Người đẹp ngủ trong rừng (1959).[44] Thiết kế và vẽ mái tóc của Rapunzel sử dụng công nghệ mô phỏng hình ảnh trên máy tính (Computer-generated imagery CGI) được đánh giá rộng rãi là phần khó nhất trong quá trình phát triển phim Tangled.[45] Theo báo Los Angeles Times, họa sĩ giám sát Glen Keane trở nên nổi tiếng với việc thiết kế "những siêu phẩm lớn nhất về mái tóc" cho Walt Disney Animation Studios từ năm 1989, trong đó có Ariel trong phim Nàng tiên cá, con quái vật trong Người đẹp và quái vật (phim 1991) (1991) và Pocahontas trong phim Pocahontas (1995).[46] Cả Keane và Howard đều có những ý kiến giống nhau về mái tóc của Rapunzel, Keane miêu tả nó là "một lời nhắc nhở thường trực rằng cô ấy được ban cho món quà này",[47] và Howard đùa rằng mái tóc thực ra cũng chính là một nhân vật đấy.[35]

Kĩ sư thiết kế phần mềm trưởng, Tiến sĩ Kelly Ward,[48] một chuyên gia mô phỏng tóc tốt nghiệp đại học Bắc Carolina, được giao nhiệm vụ phát triển một phần mềm đặc biệt nhằm giúp đỡ các họa sĩ hoạt hình hoá 70 feet (khoảng 21 mét) tóc.[49] Ward cho biết, ngoài đời thực, mái tóc của nhân vật sẽ có khối lượng khoảng 60 pounds (khoảng 22 kg), "nặng hơn khối lượng một người bình thường có thể di chuyển thoải mái như cách chúng ta thực hiện với Rapunzel trong phim."[50] Nhằm đơn giản hoá công việc, các họa sĩ hoạt hình giảm số lượng thực tế lên tới 100.000 sợi tóc riêng biệt thường thấy trên đầu một người bình thường xuống khoảng hơn 100 sợi dễ kiểm soát hơn cho Rapunzel.[51] Xây dựng phần bóng cho mái tóc vàng vừa lạ mắt nhưng phải chân thực cho Rapunzel cũng là một thử thách khác với các họa sĩ.[52]

Các sản phẩm tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Nàng công chúa tóc mây (Tangled)[sửa | sửa mã nguồn]

Để được trẻ đẹp mãi mãi, một mụ già kiêu căng tên là Mẹ Gothel giữ riêng cho mình khả năng chữa lành mọi bệnh tật thần diệu của một bông hoa vàng có phép thuật. Khi hoàng hậu đang mang thai bị ốm, bông hoa được hái về và mang cho bà uống, khiến Gothel không còn được sử dụng nó nữa. Khi khoẻ mạnh trở lại, hoàng hậu sinh hạ được Rapunzel, một cô bé có mái tóc dài bằng vàng thừa hưởng từ bông hoa màu nhiệm. Hi vọng lấy lại được toàn bộ quyền sử dụng bông hoa, Gothel bắt cóc công chúa và giam cầm nàng tại một toà tháp hẻo lánh chỉ với mục đích duy nhất là lợi dụng mái tóc của nàng để được trẻ mãi. Mỗi năm vào ngày sinh nhật của Rapunzel, cả vương quốc Corona thả hàng nghìn chiếc đèn lồng lên trời để nhớ về nàng.

Mười tám năm sau, Rapunzel, không biết sự thật về thân phận một nàng công chúa của mình, háo hức được rời khỏi toà tháp và đi xem những "ánh sáng lơ lửng" mà nàng tin rằng chúng hẳn rất quan trọng với mình. Tuy nhiên, mẹ Gothel ngăn cản không cho nàng làm việc này, mà nàng lại được dạy rằng luôn phải tin và nghe lời mẹ. Khi một tên trộm bị truy nã tên là Flynn Rider, đang đi tìm một nơi ẩn nấp, tình cờ tìm thấy toà tháp của Rapunzel. Rapunzel đã lừa Gothel để nàng ở nhà không được trông nom, và đe doạ Flynn phải đưa nàng đi xem đèn lồng để đổi lấy việc nàng trả lại chiếc vương miện anh ta ăn cắp được ở lâu đài. Họ khởi hành, cùng đi với họ có một con tắc kè, bạn của Rapunzel, nhưng sau đó Gothel đã nhanh chóng theo sát họ.

Rapunzel và Flynn cuối cùng cũng đến được vương quốc đúng vào dịp lễ thả đèn lồng. Không lâu sau, Flynn bị phục kích và giao cho lính canh bởi đồng bọn trước đây của anh ta, anh em nhà Stabbington, những người đã bị anh bỏ lại để chạy trốn quân lính của nhà vua, và bị kết án tử hình. Tuy nhiên, trước khi hai anh em tên trộm làm hại Rapunzel, Gothel đánh chúng bất tỉnh và đưa nàng Rapunzel với trái tim đang đau đớn quay về toà tháp.

Về tới phòng ngủ của mình, Rapunzel đắm chìm trong những kỉ niệm quá khứ. Nhận ra rằng Gothel đã nói dối mình, nàng tìm mọi cách chống lại mụ ta. Tuy nhiên, Gothel, không muốn để mất Rapunzel, đã trói nàng lại một chỗ. Khi Flynn, đã trốn thoát được khỏi lâu đài, đến toà tháp, Gothel đã đâm anh. Trong lúc tuyệt vọng, Rapunzel hứa sẽ làm mọi điều để Gothel hài lòng nếu mụ để nàng cứu Flynn. Gothel đồng ý, nhưng ngay lúc Rapunzel chuẩn bị chữa lành vết thương cho anh, Flynn cắt mái tóc dài của nàng, khiến nó chuyển sang màu nâu và mất hết phép thuật, và dẫn đến cái chết của Gothel. Flynn ra đi trong vòng tay của Rapunzel và nàng đã khóc lóc thảm thiết. Tuy nhiên phép thuật của bông hoa đã có tác dụng qua nước mắt của Rapunzel và cứu sống Flynn. Flynn đưa Rapunzel trở lại lâu đài, nơi nàng cuối cùng cũng được đoàn tụ cùng bố mẹ.[53]

Nàng công chúa tóc mây - Hạnh phúc mãi mãi về sau (Tangled Ever After)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tangled Ever After

Ở đoạn cuối phim Tangled, Flynn Rider cuối cùng cũng đã chấp nhận cái tên khai sinh của mình, Eugene Fitzherbert, và tiết lộ anh đã cầu hôn Rapunzel, nhấn mạnh rằng một đám cưới sẽ sớm diễn ra. Trong Tangled Ever After, cả vương quốc đang chuẩn bị cho đám cưới của Rapunzel với Eugene. Một số vị khách đã có mặt, trong đó có bố mẹ Rapunzel là nhà vua và hoàng hậu, một số tên tội phạm ở quán ăn và anh em nhà Stabbington, trong khi những người bạn động vật của họ là Pascal, một con tắc kè và Maximus, một con ngựa, lần lượt làm công việc mang hoa và nhẫn đến. Vừa lúc nàng công chúa tóc nâu Rapunzel, được bố dẫn đi, bước qua hành lang tới chỗ Eugene, thì Maximus, đang mang nhẫn cưới trên một chiếc gối ngậm trong miệng, phản ứng lại với những cánh hoa của Pascal bay vào mũi và hắt hơi, làm rơi những chiếc nhẫn qua hành lang xuống đường.

Tìm mọi cách để lấy lại chúng, Pascal và Maximus nhẹ nhàng trốn ra khỏi nhà thờ trong lúc Rapunzel và Flynn đang nói lời thề với nhau. Sau khi đuổi theo chiếc nhẫn trong một cuộc chạy đua ồn ào và ầm ĩ, cuối cùng họ cũng lấy lại được chúng từ một bầy chim bồ câu đang bay, rồiđâm xuống một nhà máy nhựa đường. Pascal và Maximus trở lại nhà thờ vừa lúc vị Giám mục hỏi đến những chiếc nhẫn. Mặc dù bị sốc bởi bề ngoài phủ đầy nhựa đường của chúng, Rapunzel và Flynn vẫn đeo nhẫn cho nhau và trao một nụ hôn. Kiệt sức sau những nỗ lực vừa rồi, Maximus ngồi xuống, hích vào chiếc bánh cưới đang được đặt trên chiếc bàn có bánh xe, làm nó lao xuống dãy hành lang.[54]

Một số thứ liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Nàng công chúa Disney và các hàng hoá[sửa | sửa mã nguồn]

"Rapunzel sống phần lớn cuộc đời mình trong một toà tháp với người bạn tắc kè của mình, Pascal, tưởng tượng về thế giới ngoài kia. Khi nàng gặp Flynn Ryder, hai người tham gia một chuyến phiêu lưu nơi nàng có thể thực hiện ước mơ của mình."
— Lời giới thiệu trích từ phần của Rapunzel trên website chính thức của các nàng công chúa Disney, tóm tắt lại vai của nàng trong Tangled.[55]

Rapunzel là thành viên thứ mười của nhóm "Những nàng công chúa Disney" [56] một thương hiệu độc quyền chủ yếu hướng đến các bé gái với nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất các sản phẩm như đồ chơi, phim và âm nhạc, quần áo và trò chơi điện tử.[57] The Walt Disney Company đưa các nhân vật vào loạt những nàng công chúa Disney của họ thông qua những lễ đăng quang. Lễ đăng quang của Rapunzel được tổ chức vào ngày 2 tháng 10 năm 2011 ở lâu đài Kensington tại London, Anh;[58][59] trở thành công chúa đầu tiên của thương hiệu này được xây dựng trên máy tính.[10] Tuy nhiên, thương hiệu này sử dụng phiên bản hoạt hình vẽ tay truyền thống của Rapunzel trên phần lớn các sản phẩm của họ.[60] Tiếp sau lễ đăng quang, Rapunzel được công nhận với trang riêng của mình trên website chính thức của Những nàng công chúa Disney.[55]

Disney Consumer Products[61] đã cho ra mắt một số sản phẩm dựa trên phim Tangled có Rapunzel.[62] Rapunzel xuất hiện với vai trò một nhân vật trong một trò chơi thám hiểm tương tác[63][64] dựa trên bộ phim, với tên gọi Tangled: The Video Game.[65] Trò chơi được phát hành bởi Disney Interactive Studios vào ngày 23 tháng 11 năm 2010, một ngày trước khi bộ phim được ra mắt tại các rạp (24 tháng 11), dành riêng cho nền tảng trò chơi điện tử của Nintendo, WiiDS, dựa theo cốt truyện của bộ phim gốc.[65][66] Nữ diễn viên lồng tiếng Mandy Moore đảm nhận tiếp vai Rapunzel của mình trong trò chơi này.[67] Nàng Rapunzel cũng được mô phỏng trong nhiều sản phẩm búp bê. Rapunzel là nhân vật đầu tiên được sáng tạo và ra mắt như một phần của bộ sưu tập Disney Animator's Collection, một series búp bê diễn tả lại mười một nàng công chúa Disney trong hình dạng những em bé.[68] Sản phẩm được thiết kế bởi Glen Keane, người lam nhiệm vụ họa sĩ giám sát trong bộ phim gốc.[69]

Ca sĩ nhạc đồng quê Taylor Swift làm người mẫu cho phiên bản của phim "Tangled" trong bộ ảnh Disney Dream Portrait Series của nữ nhiếp ảnh gia Annie Leibovitz.

Walt Disney Parks and Resorts (các khu công viên và nghỉ dưỡng)[sửa | sửa mã nguồn]

Rapunzel hiện đang có mặt tại một số điểm đến thu hút của một số công viên và khu nghỉ dưỡng Walt Disney Parks and Resorts.[70] Cùng với sự ra mắt của bộ phim, nhiều điểm tham quan lấy cảm hứng từ "Tangled" đã được xây dựng và đang mở cửa tại một số địa điểm của Disney Park ở cả CaliforniaFlorida, USA.[71] Trong đó có cả một phiên bản kích cỡ thật của toà tháp của Rapunzel, đặt tại Fantasyland.[72]

Là một phần của bộ ảnh Disney Dream Portrait Series của nhiếp ảnh gia Annie Leibovitz mà bà đang thực hiện cho Walt Disney Parks and Resorts từ năm 2007,[73] The Walt Disney Company mời ca sĩ kiêm nhạc sĩ nhạc đồng quê người Mỹ Taylor Swift tham gia làm người mẫu cho nhân vật Rapunzel.[74] Miêu tả chi tiết tác phẩm này, Us Weekly viết, "Bức ảnh tuyệt vời — được đặt tiêu đề 'Where a world of adventure awaits' (Nơi một thế giới phiêu lưu đang chờ đón) — thể hiện hình ảnh nữ ca sĩ giành giải Grammy 23 tuổi ngồi trên bờ cửa sổ của một toà lâu đài bằng đá rêu phong. Lớp váy lót màu hồng lấp ló bên dưới chiếc váy dài màu tím khi nàng ngước nhìn hồi lâu với vẻ bâng khuâng vào khoảng không, mái tóc vàng dài như của hoàng gia của nàng nhẹ bay trong gió. "[75] Swift nói với tạp chí On The Red Carpet rằng cô rất vinh dự khi được chọn tham gia thực hiện tác phẩm này.[74]

Phản hồi và nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận xét từ các nhà phê bình[sửa | sửa mã nguồn]

"Mặc dù rất ngây thơ và không biết nhiều về những ngõ ngách của cuộc đời, nàng Rapunzel phần lớn có thể tự lo liệu cho bản thân, sử dụng mái tóc dài thần kì của mình như người nhện và nhiều lần cứu người anh hùng của mình hơn chính anh ta cứu nàng."
— Kerry Lengel của tạp chí The Arizona Republic, nhận xét về Rapunzel.[76]

Rapunzel được đón nhận nồng nhiệt và đánh giá tích cực bởi phần lớn các nhà phê bình. Sara Vizcarrondo của tạp chí Boxoffice thích nhân vật này, miêu tả nàng là "một nữ nhân vật chính năng động có thể dễ dàng vượt qua tiêu chuẩn nghiêm ngặt của một nàng công chúa."[77] Lisa Schwarzbaum của tạp chí Entertainment Weekly ca ngợi tính cách độc lập của nàng Rapunzel qua việc nhấn mạnh vào mối quan hệ giữa hai nhân vật chính trong phim. Cô viết, "Thời của những câu chuyện cổ tích với các hoàng tử làm nhiệm vụ giải cứu công chúa đã qua. Thời của những chuyến phiêu lưu với những con người lanh lợi và sắc sảo đã bắt đầu."[78] Tương tự như vậy, Stephen Whitty của tờ The Star-Ledger miêu tả nhân vật là "một cô gái trẻ thực sự có tài năng".[79] Kenneth Turan của tờ Los Angeles Times viết rằng Rapunzel là "một cô gái trẻ rất hiện đại".[80] Bruce Diones của báo The New Yorker thích Rapunzel bởi nàng "có trí thông minh sắc sảo và những mối quan tâm rất thông minh," và tránh "không trở thành một thiếu niên hay nói nhiều".[81] Claudia Puig của báo USA Today viết, "Rapunzel đáng tin với vai thiếu niên của nàng" hơn bất kì nhân vật nữ chính của Disney trước đó.[82] Miêu tả rằng nữ nhân vật đã mang lại "niềm vui thích" cho mình, Marjorie Baumgarten của tờ The Austin Chronicle viết, "Rapunzel là một cô gái gan dạ, có thể tự bảo vệ mình".[83]

Cathy Jakicic của tờ Milwaukee Journal Sentinel gọi Rapunzel là một nhân vật nữ chính khá "luộm thuộm và tự lập" biết "tự giải thoát cho mình".[84] Miêu tả nhân vật là một cô gái "ngây thơ nhưng (chắc chắn là) rất mạnh mẽ và quyết đoán, nhà báo Helen O'Hara của tạp chí Empire ca ngợi việc cả Rapunzel và Flynn đều là các nhân vật được "phát triển rất hay và hợp lý" và "tình yêu nảy nở giữa họ có nền tảng vững chắc hơn là chỉ một cái nhìn ao ước thoáng qua."[85] Tương tự, tờ Mountain Xpress ca ngợi mối quan hệ và tình yêu của Rapunzel và Flynn, viết rằng, "điều tuyệt vời nhất đó là sự tương tác của hai nhân vật chính với nhau... nói thật là hai nhân vật hoạt hình này có vẻ thật và lôi cuốn hơn cả một số phim người đóng."[86] Peter Travers của tạp chí Rolling Stone thì lại rất ấn tượng với mối quan hệ giữa Rapunzel và mẹ Gothel, viết rằng, "việc Rapunzel trưởng thành và bước ra khỏi sự che chở và cái bóng của người mẹ yêu thương nhất đã thật sự cuốn hút tôi."[87]

Là nhân vật thứ mười trong hàng những nàng công chúa Disney, một số nhà phê bình đã có những so sánh tích cực giữa Rapunzel và các công chúa Disney trước đó, đáng chú ý nhất là với Ariel trong Nàng tiên cá (1989). Joe Neumaier của tờ Daily News so sánh tính độc lập của Rapunzel với nàng Belle trong phim Người đẹp và quái vật (1991), nói rằng, "nàng Rapunzel hết sức hiện đại đã thể hiện phần lớn những gì tuyệt vời nhất ".[88] Jonathan Crocker của tạp chí Total Film lưu ý những điểm tương đồng giữa Rapunzel và Ariel, miêu tả nàng là "một nhân vật nữ chính có khát khao cháy bỏng được ngắm nhìn thế giới bên ngoài."[89] Mike Scott của tờ The Times-Picayune nói rằng sự ngây thơ trong trắng của Rapunzel "gợi nhắc lại hình ảnh nàng công chúa Giselle hay thay đổi do Amy Adams đóng trong phim... Enchanted."[90] Tom Charity của báo LoveFilm nhận xét về tính độc lập của nhân vật, ví nàng với cả Ariel và Mulan trong phim Mulan (1998). Charity cũng nói rằng Rapunzel "đã thêm vào truyền thống gần đây của Disney về những nữ nhân vật chính tự do, ít phụ thuộc".[91]

Một số nhà phê bình có phản hồi ít tích cực hơn. Mặc dù Richard Corliss của tạp chí Time thực sự yêu thích bộ phim, anh cảm thấy rằng trọng tâm được đặt khá nhiều vào Flynn Rider và với Rapunzel như thế là chưa đủ. Corliss đặt câu hỏi về tương lai của những nữ nhân vật hoạt hình chính của Disney, viết rằng, "Trong suốt 60 năm… những cô gái luôn là các nhân vật chính, được mong chờ đến tuổi trưởng thành, vượt qua mọi thử thách và, nói chung là, khá nam tính," và chỉ trích nhiều hãng phim khác đã "bỏ ngoài những câu chuyện với nhân vật nữ chính."[92] Tom Huddleston của tạp chí Time Out nhận xét Rapunzel hơi "đơn điệu.[93] James Berardinelli của báo ReelViews có những quan điểm trái chiều trong bài nhận xét của mình, viết rằng, "mặc dù rất dễ thương và mạnh mẽ, Rapunzel không đáng nhớ bằng Nàng Bạch Tuyết, Ariel, hay Belle."[94]

Giải thưởng và sự công nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Tala Dayrit của tờ Female Network nhắc tới Rapunzel trong bài báo "30 Fierce and Fun Female Cartoon Characters" của mình, viết rằng, khác với nhân vật trong truyện cổ tích gốc, "Cô ấy không phải là một nàng công chúa yếu đuối không tự lo liệu được cho bản thân bị giam giữ trong một toà tháp cao chờ đợi số phận mình định đoạt, mà là một cô gái mạnh mẽ có thể tự bảo vệ mình trong một trận chiến."[95]

Trong bộ phim, Rapunzel biểu diễn bài hát "I See the Light" cùng với Flynn Rider. Bài hát nhận được một đề cử giải Oscar cho "Bài hát gốc hay nhất" ở Lễ trao giải Oscar năm 2011.[96][97][98] Nữ diễn viên lồng tiếng Mandy Moore biểu diễn bài hát tại lễ trao giải cùng với nam diễn viên chính Zachary Levi, người lồng tiếng cho nhân vật Flynn trong bộ phim.[99] Tuy nhiên, bài hát đã giành được giải Grammy cho "Bài hát hay nhất viết cho sản phẩm truyền thông có hình ảnh]] ở lễ trao giải lần thứ 54, năm 2012.[100][101]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Concannon, Philip (ngày 27 tháng 1 năm 2011). "Don't animate what the character is doing, animate what the character is thinking" - An interview with Glen Keane”. Phil on Film. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2013. 
  2. ^ a ă “Tangled - Glen Keane interview”. IndieLondon. IndieLondon.co.uk. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013. 
  3. ^ a ă Arludik, Galerie (ngày 10 tháng 11 năm 2010). “Glen Keane interview at the Arludik gallery in Paris” (PDF). CloneWeb. CloneWeb. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2013. 
  4. ^ Connelly, Brendon (ngày 28 tháng 1 năm 2011). “Disney’s Glen Keane On Tangled, Reboot Ralph And Bringing Old-School Technique To CG Animation”. BleedingCool.com. BleedingCool.com. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013. 
  5. ^ “Glen Keane – Legendary Animator Glen Keane – Legendary Animator”. CTN animation Expo. The Creative Talent Network, INC. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2013. 
  6. ^ Liu, Ed (ngày 8 tháng 4 năm 2011). “A Virtual Roundtable with "Tangled" Animation Supervisor Glen Keane”. Toon Zone News. Genesis Framework. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2013. 
  7. ^ Nusair, David. “Top 5 Disney Animated Adaptations”. About.com. About.com. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  8. ^ Paluso, Marianne (ngày 29 tháng 3 năm 2011). “Once Upon a Time”. Christian Today. Christianity Today. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2013. 
  9. ^ Minow, Nell. “Interview: Glen Keane of ‘Tangled’”. Beliefnet. Beliefnet, Inc. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2013. 
  10. ^ a ă Molina, Melissa (2010). “Exclusive Interview with 'Tangled' Directors Byron Howard and Nathan Greno”. About.com. About.com. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  11. ^ “Kristin Chenoweth Talks On 'Rapunzel Unbraided'. Killermovies.com. KillerMovies.com. Ngày 28 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2013. 
  12. ^ Peter, Thomas (ngày 16 tháng 2 năm 2010). “Disney's "Rapunzel" Title Turns Up "Tangled". Playbill.com. Playbill, Inc. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013. 
  13. ^ Berkshire, Geoff (ngày 22 tháng 11 năm 2010). 'Tangled' review”. Metromix. Metromix.com. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013. 
  14. ^ Jacobs, Evan (ngày 2 tháng 3 năm 2010). “First Look at Disney's Tangled Trailer”. Movieweb.com. MovieWeb™, Inc. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  15. ^ Fischer, Martha (ngày 4 tháng 11 năm 2005). “More problems for Disney - is Rapunzel Unbraided already in trouble?”. Moviefone.com. Aol Inc. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2013. 
  16. ^ Nusair, David. “Behind the Scenes of 'Tangled'. About.com. About.com. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013. 
  17. ^ Smith, Thomas (ngày 9 tháng 12 năm 2010). “Young Voice in ‘Tangled’ Meets Rapunzel in the ‘Best! Day! Ever!’”. Disney Parks Blog. Disney. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  18. ^ Chitwood, Scott (2010). “Tangled”. ComingSoon.net. CraveOnline Media, LLC. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  19. ^ a ă Philbrick, Jami (ngày 19 tháng 11 năm 2010). “EXCLUSIVE: Mandy Moore Talks Tangled”. MovieWeb. MovieWeb, Inc. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013. 
  20. ^ “Mandy Moore On Tangled: 'I Screamed As Soon As I Found Out' (INTERVIEW)”. The Huffington Post. TheHuffingtonPost.com, Inc. Ngày 19 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013. 
  21. ^ a ă “Mandy Moore Interview, TANGLED”. Movies Online. MoviesOnline. Ngày 9 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2013. 
  22. ^ Malkin, Marc (ngày 26 tháng 11 năm 2010). “Mandy Moore & Hubby: "We Work Well Together". E!. E! Entertainment Television, LLC. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013. 
  23. ^ Reynolds, Simon (ngày 26 tháng 1 năm 2011). “Mandy Moore ('Tangled')”. Digital Spy. Hearst Magazines UK. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2012. 
  24. ^ “Coverage”. Allmusic. Rovi Corp. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2013. 
  25. ^ “Mandy Moore Goes Under 'Covers'. Billboard. Billboard. 2003. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  26. ^ “Tangled star Mandy Moore: I'd like to think I look like Rapunzel”. Now. IPC Media Fashion & Beauty Network. Ngày 18 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  27. ^ Murray, Rebecca (2010). “Exclusive Interview with Mandy Moore and Zachary Levi from 'Tangled'. About.com. About.com. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2013. 
  28. ^ Solomon, Charles (ngày 16 tháng 4 năm 2008). “Last of Disney's 'Nine Old Men' dies”. Los Angeles Times. Los Angeles Times. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2013. 
  29. ^ “Brad Bird on Ollie Johnston”. Cartoon Brew. Cartoon Brew, LLC. Ngày 15 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2013. 
  30. ^ Brew, Simon (ngày 25 tháng 11 năm 2010). “Disney legend Glen Keane interview: Tangled, computer animation, his heart attack, and Ollie Johnston”. Den of Geek. Dennis Publishing Limited. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013. 
  31. ^ Desowitz, Bill (ngày 28 tháng 10 năm 2010). “Glen Keane Talks Tangled”. Animation World Network. AWN, Inc. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013. 
  32. ^ a ă McCabe, Katie (ngày 30 tháng 1 năm 2011). “THN talks TANGLED with star Mandy Moore and Disney’s directorial golden boys”. The Hollywood News. The Hollywood News 2013. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  33. ^ “Discuss Disney’s Tangled with Byron Howard and Nathan Greno”. ToonBarn. ToonBarn. Ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  34. ^ McKechnie, Brian (ngày 19 tháng 4 năm 2011). “Interview: Animator Glen Keane talks ‘Tangled’”. Criticize This!. Criticize This!. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  35. ^ a ă â Das, Lina (ngày 28 tháng 1 năm 2011). “After a decade of bad hair days, Disney has finally made Tangled, a film about Rapunzel!”. Daily Mail. Associated Newspapers Ltd. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  36. ^ a ă Barnes, Brooks (ngày 19 tháng 11 năm 2010). “Disney Ties Lots of Hopes to Lots of Hair”. The New York Times (The New York Times Company). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  37. ^ Warner, Kara (ngày 30 tháng 8 năm 2010). “Mandy Moore's 'Tangled' Heroine Not 'Typical Disney Princess'. MTV. Viacom International Inc. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  38. ^ Wagons, Henry (ngày 8 tháng 2 năm 2011). “Henry's Disney dreams come true”. ABC. ABC. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  39. ^ Gallagher, Brian (ngày 28 tháng 3 năm 2011). “Glen Keane Talks Tangled”. MovieWeb. MovieWeb, Inc. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2013. 
  40. ^ “About the Film - Fun Facts”. Disney.com. Disney. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  41. ^ Liu, Ed (ngày 8 tháng 4 năm 2011). “A Virtual Roundtable with "Tangled" Animation Supervisor Glen Keane”. Toon Zone News. Genesis Framework. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2013. 
  42. ^ Hill, Jim (ngày 30 tháng 11 năm 2010). “Three Keanes help make Disney's "Tangled" a pretty keen animated comedy”. Jim Hill Media. Jim Hill Media. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  43. ^ Miller, Bruce R. (ngày 5 tháng 12 năm 2010). 'Tangled' directors unravel film's secrets”. Sioux City Journal. Sioux City Journal. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  44. ^ Robertson, Lindsay (ngày 31 tháng 7 năm 2009). “First Photos From Disney's Rapunzel: Finally, A Blonde Disney Heroine!”. Jezebel. Gawker Media. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013. 
  45. ^ McKechnie, Brian (ngày 19 tháng 4 năm 2011). “Interview: Animator Glen Keane talks ‘Tangled’”. Criticize This. Criticize This!. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2013. 
  46. ^ Keegan, Rebecca (ngày 24 tháng 11 năm 2010). “The hairy task of creating Rapunzel in 'Tangled'. Los Angeles Times. Los Angeles Times. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  47. ^ Graham, Bill (2008). “Animation Director Glen Keane Exclusive Interview TANGLED”. Collider. Collider.com. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2013. 
  48. ^ “‘Tangled’ Hair Demo with Kelly Ward”. Clustr. Clustr. Ngày 14 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  49. ^ Barker, Lynn (ngày 17 tháng 9 năm 2010). “EXCLUSIVE INTERVIEW: We're "Tangled" with Mandy Moore!”. TeenHollywood.com. TeenHollywood.com II Inc. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  50. ^ “UNC Grad Student Untangles CGI Hair”. North Carolina Film Office. North Carolina Film Office. Ngày 29 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  51. ^ Flatow, Ira (ngày 20 tháng 4 năm 2012). “Untangling The Hairy Physics Of Rapunzel”. National Public Radio. NPR. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  52. ^ Idelson, Karen (ngày 5 tháng 1 năm 2011). “Rapunzel's do took years of software development”. Variety. Variety Media, LLC. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013. 
  53. ^ Howard, Byron; Greno, Nathan (directors) (ngày 24 tháng 11 năm 2010). Tangled (Motion picture). United States of America: Walt Disney Studios Motion Pictures. 
  54. ^ “Disney Consumer Products Poised For Incremental Retail Sales Growth with New Disney Baby Store & Rich Franchise Investment” (Thông cáo báo chí). Disney Consumer Products. Ngày 9 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2011. 
  55. ^ a ă “Rapunzel”. Disney Princess. Disney. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  56. ^ “Rapunzel to Receive Coronation Ceremony October 2 at Kensington Palace”. Stitch Kingdom. Ngày 14 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2011. 
  57. ^ Orenstein, Peggy (ngày 24 tháng 12 năm 2006). “What’s Wrong With Cinderella?”. The New York Times (The New York Times Company). Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  58. ^ Roseboom, Matt (ngày 5 tháng 10 năm 2011). “Rapunzel named 10th Disney Princess in ceremony at Kensington Palace in London”. Orlando Attractions Magazine. Orlando Attractions Magazine. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  59. ^ Bryson, Carey (ngày 30 tháng 9 năm 2011). “Rapunzel Induction Ceremony This Weekend”. About.com. About.com. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  60. ^ Wright, Gay (ngày 29 tháng 4 năm 2013). “Merida To Officially Be Coronated As Disney Princess, Gets New Look”. The Rotoscopers. The Rotoscopers. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  61. ^ Chmielewski, Dawn C. (ngày 6 tháng 9 năm 2011). “Head of Disney Consumer Products group steps down”. Los Angeles Times. Los Angeles Times. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2013. 
  62. ^ “Tangled”. Disney Store. 
  63. ^ “Disney Tangled: The Video Game Released and Screens #2”. GamersHell.com. GamersHell.com. Ngày 24 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  64. ^ “Disney Tangled: The Video Game”. Nintendo. Nintendo. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  65. ^ a ă Forbis, Chris (ngày 12 tháng 12 năm 2010). “Disney’s Tangled: The Video Game Review (DS)”. Platform Nation. Platform Nation. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  66. ^ “Disney Interactive Studios "Tangled" Video Game”. Disney Dreaming. Ngày 7 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2013.  Tangled Video Game.
  67. ^ “Disney Interactive Studios Invites Players to Swing into an Exciting, Hair-Raising Adventure with Disney Tangled: The Video Game”. GamersHell.com. GamersHell.com. Ngày 24 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  68. ^ “Enter to win the Top Toy of the Holiday Season: Disney Animators’ Collection Toddler Doll!”. Disney Store. Disney. Ngày 19 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2013. 
  69. ^ Tyler, Lewis (ngày 16 tháng 4 năm 2012). “Creating a princess”. ToyNews. Intent Media. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2013.  Retrieved 2 July 30.
  70. ^ “Rapunzel and Flynn Rider”. Disney Park. Disney. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  71. ^ Charles, Ayesha (ngày 22 tháng 2 năm 2013). “Tangled Inspirations at the Disney Parks!”. Attraction Tickets Direct. Attraction Tickets Direct. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  72. ^ “Fantasyland Update: Rapunzel's Tall Tower (PART 1)”. Orlando Theme Park News. Orlando Theme Park News. Ngày 10 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  73. ^ “Taylor Swift doubles as Rapunzel: Annie Leibovitz's Disney Dream Portraits”. Daily News. NYDailyNews.com. Ngày 23 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  74. ^ a ă Heller, Corinne (ngày 23 tháng 1 năm 2013). “Taylor Swift is Rapunzel in Annie Leibovitz's new Disney Dream Portrait (Photo)”. On The Red Carpet. OnTheRedCarpet.com. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  75. ^ Takeda, Allison (ngày 23 tháng 1 năm 2013). “Taylor Swift Poses as Rapunzel in New Disney Ad by Annie Leibovitz: Picture”. Us Weekly. Us Weekly. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  76. ^ Lengel, Kerry (ngày 22 tháng 11 năm 2010). 'Tangled,' 4.5 stars”. The Arizona Republic. azcentral.com. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  77. ^ Vizcarrondo, Sara (ngày 9 tháng 11 năm 2010). “Tangled”. Boxoffice. BOXOFFICE Media, LLC. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  78. ^ Schwarzbaum, Lisa (ngày 28 tháng 7 năm 2012). “Tangled (2010)”. Entertainment Weekly. Entertainment Weekly Inc. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2013. 
  79. ^ Whitty, Stephen (ngày 23 tháng 11 năm 2010). 'Tangled' review: Disney returns to its magical roots with this golden girl”. The Star-Ledger. New Jersey On-Line LLC. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2013. 
  80. ^ Turan, Kenneth (ngày 24 tháng 11 năm 2010). “Movie review: 'Tangled'. Los Angeles Times. Los Angeles Times. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2013. 
  81. ^ Diones, Bruce (2010). “Tangled”. The New Yorker. Condé Nast. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  82. ^ Puig, Claudia (ngày 26 tháng 11 năm 2010). 24 tháng 11 năm 2010-tangled24_ST_N.htm “'Tangled' gently teases Disney and its animated films”. USA Today. Gannett Co. Inc. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  83. ^ Baumgarten, Marjorie (ngày 26 tháng 11 năm 2010). 26 tháng 11 năm 2010/tangled/ “Tangled”. The Austin Chronicle. Austin Chronicle Corp. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2013. 
  84. ^ Jakicic, Cathy (ngày 23 tháng 11 năm 2010). 'Tangled' reconditions Rapunzel story”. Milwaukee Journal Sentinel. Journal Sentinel, Inc. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2013. 
  85. ^ O'Hara, Helen (2010). “Tangled”. Empire. Bauer Consumer Media. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2013. 
  86. ^ Hanke, Ken (ngày 30 tháng 11 năm 2013). “Tangled (PG)”. Mountain Xpress. Mountain Xpress. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2013. 
  87. ^ Travers, Peter (ngày 24 tháng 11 năm 2010). “Tangled”. Rolling Stone. Rolling Stone. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2013. 
  88. ^ Neumaier, Joe (ngày 23 tháng 11 năm 2010). 'Tangled' review: Mandy Moore's Rapunzel is chill Disney retelling of classic hair-raising tale”. Daily News. NYDailyNews.com. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  89. ^ Crocker, Jonathan (ngày 14 tháng 1 năm 2011). “Tangled Disney has a good hair day…”. Total Film. Future Publishing Limited. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2013. 
  90. ^ Scott, Mike (ngày 24 tháng 11 năm 2010). 'Tangled' is a return to princess-ly roots for Disney Animation”. The Times-Picayune. New Orleans Net LLC. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  91. ^ Charity, Tom (ngày 24 tháng 1 năm 2011). “Tangled Review”. LoveFilm. Amazon.com, Inc. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  92. ^ Corliss, Richard (ngày 26 tháng 11 năm 2010). “Tangled: Disney's Ripping Rapunzel”. Time (Time Inc). Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2013. 
  93. ^ Huddleston, Tom (ngày 25 tháng 6 năm 2011). “Tangled (PG)”. Time Out. Time Out. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2013. 
  94. ^ Berardinelli, James (ngày 22 tháng 11 năm 2010). “Tangled”. ReelViews. James Berardinelli. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  95. ^ Dayrit, Tala (ngày 17 tháng 3 năm 2011). “30 Fierce and Fun Female Cartoon Characters”. Female Network. Summit Digital. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  96. ^ “83rd Academy Award Nominations”. Variety. Variety Media, LLC. 25 tháng 1 năm 0201. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  97. ^ Anderson, Kyle (ngày 25 tháng 1 năm 2011). “The Oscar Nominations: Handicapping The Best Original Song Category”. MTV. Viacom International Inc. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  98. ^ Henderson, Kathy (ngày 25 tháng 1 năm 2011). “Alan Menken on His 19th Oscar Nomination: 'I Never Take It for Granted'. Broadway.com. BROADWAY.COM. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  99. ^ Chiu, Alexis (ngày 14 tháng 3 năm 2011). “One Star, Two Dresses”. People. Time Inc. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. 
  100. ^ Gans, Andrew (ngày 13 tháng 2 năm 2012). “Alan Menken and Glenn Slater Win Grammy Award”. Playbill. Playbill, Inc. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 
  101. ^ “Alan Menken and Glenn Slater Receive Grammy Award for TANGLED's 'I See the Light'. Broadway World.com. Wisdom Digital Media. Ngày 12 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]