Rashaant, Khövsgöl

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Rashaant
Рашаант
Trung tâm sum Rashaant, nhìn từ phía đông
Trung tâm sum Rashaant, nhìn từ phía đông
Vị trí của Rashaant
Rashaant trên bản đồ Thế giới
Rashaant
Rashaant
Quốc giaMông Cổ
TỉnhKhövsgöl
Thủ phủRashaant sửa dữ liệu
Diện tích
 • Tổng cộng1.980 km2 (760 mi2)
Dân số (2009)
 • Tổng cộng3.501
Múi giờUTC+8

Rashaant (tiếng Mông Cổ: Рашаант, spa) là một sum của tỉnh Khövsgöl tại miền bắc Mông Cổ. Vào năm 2009, dân số của sum là 3.501 người.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tu viện được xây lại trong thị trấn Rashaant.

Sum Rashaant được thành lập, cùng với toàn tỉnh Khövsgöl, vào năm 1931. Trung tâm sum được đặt gần tu viện Khyalganat (hay còn được gọi là Rashaantyn Khüree), được thành lập vào năm 1915. Năm 1932, tu viện là điểm bắt đầu của một cuộc khởi nghĩa vũ trang bao trùm phần lớn miền tây Mông Cổ,[2] và trung tâm sum đã bị đốt cháy.[3] Đến năm 1933, sum có khoảng 2.400 cư dân trong 719 hộ gia đình, và khoảng 47.000 đầu gia súc. Vào năm 1955, sum Rashaant được thống nhất với Tarialan, nhưng lại bị chia tách lần nữa vào năm 1959. Negdel địa phương Ulaan Od (Sao Đỏ) được thành lập vào năm 1952 và tồn tại cho đến năm 1990 như là một công ty nông nghiệp tư nhân. Sau năm 1990, tu viện được xây dựng trở lại. Nó nằm ở phần phía bắc của thị trấn Rashaant.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Sum có diện tích khoảng 1.980 km², 50 km² trong đó là đất nông nghiệp. Thị trấn Rashaant, trung tâm sum, nằm trên một thung lũng cao, cách tỉnh lị Mörön 154 km về phía đông nam và cách thủ đô Ulaanbaatar 518 km.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Sum Rashaant có khí hậu bán khô hạn.[4] Nhiệt độ trung bình hàng năm ở khu vực xung quanh là 2 °C. Tháng ấm nhất là tháng 6, khi nhiệt độ trung bình là 20 °C và lạnh nhất là tháng 1, với -19 °C.[5]  Lượng mưa trung bình hàng năm là 409 mm. Tháng mưa nhiều nhất là tháng 7, với lượng mưa trung bình 104 mm và khô nhất là tháng 1, với lượng mưa 2 mm.[6]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2004, sum có khoảng 123.000 đầu gia súc, trong đó có 51.000 con cừu, 55.000 con dê, 8.900 bò nhà và bò yak, và 8.200 con ngựa, nhưng không có lạc đà.[7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ (FR) Portale del Mongolian statistical information service, Mongolian statistical information service. URL consultato il 6 agosto 2016 (archiviato dall'url originale il 10 agosto 2016).
  2. ^ Kuzmin, Sergey Lvovich; Oyuunchimeg, Jugdernamjilyn (2015). Хубсугульское восстание 1932 г. в Монголии [Khövsgöl uprising in 1932 in Mongolia]. Восток (Oriens) (bằng tiếng Nga) 2015 (3): 47–62.  Also at academia.edu
  3. ^ Ломакина [Lomakina], Инесса Ивановна [Inessa Ivanovna] (1975). Белые юрты в степи [White Yurts on the Steppes] (bằng tiếng Nga). Moscow: Молодая гвардия. tr. 94. OCLC 2556199. 
  4. ^ Peel, M C; Finlayson, B L; McMahon, T A (2007). ”Updated world map of the Köppen-Geiger climate classification”. Hydrology and Earth System Sciences 11: sid. 1633-1644. doi:10.5194/hess-11-1633-2007. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  5. ^ ”NASA Earth Observations Data Set Index”. NASA. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  6. ^ ”NASA Earth Observations: Rainfall (1 month - TRMM)”. NASA/Tropical Rainfall Monitoring Mission. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016.
  7. ^ National Statistical Office: Livestock count 2004 (in Mongolian), p.111 Lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2007, tại Wayback Machine.