România

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Romania)
Jump to navigation Jump to search
România
(Rumani)
România (tiếng România)
Flag of Romania.svg Coat of arms of Romania.svg
Quốc kỳ Quốc huy
Vị trí của România
Vị trí România (xanh) trên thế giới
Vị trí của România
Vị trí của  România  (xanh đậm)

– ở châu Âu  (xanh nhạt & xám đậm)
– trong Liên minh Châu Âu  (xanh nhạt)  –  [Chú giải]

Quốc ca
Deșteaptă-te, române!
'"Hãy thức dậy, người Romania!"

Hành chính
Chính phủ Cộng hòa đại nghị
Tổng thống Klaus Iohannis
Thủ tướng Viorica Dăncilă
Thủ đô Bucharest
44°25′B 26°06′Đ / 44,417°B 26,1°Đ / 44.417; 26.100
Thành phố lớn nhất Bucharest
Địa lý
Diện tích 238.397 km² (hạng 81)
Diện tích nước 3 %
Múi giờ CET (UTC+2); mùa hè: CEST (UTC+3)
Lịch sử
Ngày thành lập 9 tháng 5 năm 1877
13 tháng 7 năm 1878
Dân cư
Ngôn ngữ chính thức Tiếng România
Dân số ước lượng (2017) giảm 19.638.000[1] người (hạng 59)
Dân số (2011) 20.121.641[2] người
Mật độ 84,4 người/km² (hạng 117)
Kinh tế
GDP (PPP) (2017) Tổng số: 470,31 tỷ USD[3] (hạng 42)
Bình quân đầu người: 23.957 USD (hạng 61)
GDP (danh nghĩa) (2017) Tổng số: 197,004 tỷ USD[3] (hạng 49)
Bình quân đầu người: 10.097 USD (hạng 67)
HDI (2015) 0,802[4] rất cao (hạng 50)
Hệ số Gini (2013) 34[5] trung bình
Đơn vị tiền tệ Leu (RON)
Thông tin khác
Tên miền Internet .ro

România (tiếng România: România, trong tiếng Việt thường được gọi là Rumani theo tiếng Pháp: Roumanie), là một quốc gia tại đông nam châu Âu, với diện tích 238.391 km². România giáp với UkrainaMoldova về phía bắc và đông bắc; giáp với Hungary về phía tây bắc; giáp với Serbia về phía tây nam; giáp với Bulgaria về phía nam và giáp với Biển Đen về phía đông. Nước này nằm trên phần lớn diện tích của đồng bằng sông Danube.

Tính đến năm 2017, dân số của nước này là 19.638.000 người[1], đất nước này là quốc gia thành viên đông dân thứ bảy của Liên minh châu Âu và thứ mười một của châu Âu. Thủ đô và thành phố lớn nhất của România - Bucharest, là thành phố lớn thứ sáu ở EU và lớn thứ 10 trên lục địa châu Âu, với 2.106.144 cư dân vào năm 2016[6]. Các khu đô thị lớn khác bao gồm Iași, Timișoara, Cluj-Napoca, Constanța, CraiovaGalați.

Lãnh thổ România ngày nay được hình thành do sự hợp nhất của nhiều công quốc România thời trung cổ, trong đó quan trọng nhất là Moldavia, WallachiaTransilvania. Vương quốc România được thành lập và đã giành được độc lập từ tay Đế chế Ottoman, sau đó được cộng đồng quốc tế công nhận vào năm 1878. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, România trở thành một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa có quan hệ gắn bó với Liên Xô. Năm 1989, chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ tại România và nước này quay trở lại con đường tư bản chủ nghĩa. România chính thức trở thành một thành viên của NATO (2004) và Liên minh châu Âu (2007).

Mặc dù là một trong những nước nghèo nhất trong Liên minh châu Âu, nhưng România đứng thứ 50 về chỉ số phát triển con người và là một nước đang phát triển[7][8], với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm là 7% (tính đến năm 2017)[9]. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào các ngành dịch vụ, và là một nhà sản xuất và xuất khẩu máy móc và năng lượng điện, có các công ty sản xuất ôtô như DaciaOMV Petrom. Đại đa số người România tự nhận mình là Kitô hữu và nói tiếng România. Lịch sử văn hoá của România thường được đề cập đến khi nói về các nghệ sỹ có ảnh hưởng, nhạc sĩ, nhà phát minh và vận động viên thể thao.

Xưng hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Bức thư của Neacşu từ năm 1521, tài liệu còn sót lại lâu đời nhất được viết bằng tiếng România.

Cái tên România có nguồn gốc từ romanus trong tiếng Latin, có nghĩa là "công dân của Roma"[10]. Tên gọi này được sử dụng lần đầu tiên vào thế kỷ 16 bởi các nhà nhân chủng học người Ý khi đi khám phá ở Transylvania, MoldaviaWallachia[11][12][13][14].

Các tài liệu cổ xưa nhất được biết đến còn sót được viết bằng tiếng România, một bức thư năm 1521 được gọi là Scrisoarea lui Neacșu (Lá thư của Neacşu từ Câmpulung) "[15], xuất hiện tên của đất nước: Wallachia được nhắc đến như Ţeara Rumânească (nghĩa là Đất của România; ţeara bắt nguồn từ terra trong tiếng Latin, có nghĩa là "đất").

Hai hình thức chính tả: românrumân đã được sử dụng thay thế cho nhau, cho đến khi sự phát triển xã hội vào cuối thế kỷ 17, dẫn đến sự khác biệt về ngữ nghĩa của hai hình thức: rumân có nghĩa là "người đầy tớ", trong khi român giữ lại ý nghĩa ban đầu. Sau khi bãi bỏ chế độ nô lệ vào năm 1746, từ rumân dần dần mất đi tính sử dụng, và cách viết chính thức là român. Tudor Vladimirescu, một nhà lãnh đạo cách mạng của România đầu thế kỷ 19, đã sử dụng thuật ngữ Rumânia để chỉ riêng xứ Wallachia.

Việc sử dụng tên Români để chỉ quê hương chung người România - ý nghĩa ngày nay của nó - lần đầu tiên vào đầu thế kỷ 19. Tên này được chính thức sử dụng kể từ ngày 11 tháng 12 năm 1861.

Trong tiếng Anh, tên của quốc gia này đã được đánh vần là Rumania hoặc Roumania [16]. Rumani trở nên phổ biến chính trong khoảng năm 1975[17]. Romania cũng là cách viết chính thức theo tiếng Anh được sử dụng bởi chính phủ România[18]. Một số ít các ngôn ngữ khác (bao gồm Ý, Hungary, Bồ Đào Nha và Na Uy) cũng đã chuyển từ "u" sang "o" như tiếng Anh, nhưng nhiều ngôn ngữ vẫn sử dụng "u", ví dụ như: Roumanie (tiếng Pháp), Rumänien (tiếng Đứctiếng Thụy Điển), Rumani (tiếng Tây Ban Nha), Rumunia (tiếng Ba Lan), và Румыния (tiếng Nga; chuyển tự: Rumyniya).

Tiếng Việt gọi đất nước này là Rumani, bắt nguồn từ Roumanie trong tiếng Pháp. Phiên âm Hán Việt của România là La Mã Ni Á, trong tiếng Trung được viết là 羅馬尼亞 (Luómǎníyǎ).

Các tên chính thức trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử România

Lịch sử ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Dacia Traiana, tỉnh mới của La Mã, các vùng đất tạm thời được sáp nhập vào tỉnh Moesia trong năm 110 CN
Decebalus, vua của Dacia, được mô tả trong Cartur omului matur (1919)
Ba Công quốc Wallachia (Românească), TransylvaniaMoldavia dưới thời Mihai Viteazu

Vùng đất România ngày nay đã có những nhóm người khác nhau đến sinh sống từ thời tiền sử. Một mẫu hóa thạch xương hàm của người đàn ông đã được tìm thấy tại România và được xác định có niên đại khoảng 34.000 đến 36.000 năm. Đây được coi là mẫu hóa thạch người cổ nhất tại châu Âu[19]. Bên cạnh đó, một hộp sọ có niên đại khoảng 35.000 đến 40.000 năm cũng được tìm thấy tại một hang động gần Anina đã khẳng định con người đã xuất hiện tại vùng đất România từ rất sớm.

Các bằng chứng bằng văn bản sớm nhất của những người sống trong lãnh thổ của Romania ngày nay - Getae (các bộ lạc người Thracian từng cư ngụ tại khu vực hai bên hạ Danube, tương ứng với miền Bắc Bulgaria và miền nam România ngày nay), trong cuốn sách Lịch sử của Herodotos (440 TCN)[20]. Các lãnh thổ nằm ở phía bắc sông Danube là nơi sinh sống của người Dacia, được coi là thuộc về các bộ tộc Getae, là một chi nhánh của người Thracia. Vương quốc Dacia được thành lập giữa 82 và 44 TCN trong triều đại của Burebista.

Những người Dacia đã xuất hiện tại România ít nhất vào khoảng năm 513 trước công nguyên. Dưới sự lãnh đạo của Burebista, Dacia trở thành một quốc gia hùng mạnh và thậm chí còn đe dọa cả một số vùng của Đế quốc La Mã. Trước tình cảnh đó, hoàng đế Julius Caesar dự định mở một chiến dịch lớn chống lại người Dacia nhưng ông đã bị ám sát vào năm 44 trước công nguyên. Không lâu sau đó, Burebista cũng bị ám sát bởi một trong những quý tộc của ông ta. Vương quốc Dacia bị phân thành những quốc gia nhỏ hơn rồi tái thống nhất lại vào năm 95 sau công nguyên dưới sự cai trị của vua Decebalus. Sau đó Dacia lại phải trải qua một giai đoạn đầy biến động cho đến khi hoàng đế La Mã là Marcus Ulpius Nerva Traianus đánh bại Decebalus vào năm 106 sau công nguyên và Dacia trở thành một phần của đế quốc. Nhưng đến năm 271, người La Mã đã phải rút lui do sự xâm lược của người Goth và người Carpi đối với vùng đất này.

Khoảng năm 271, La Mã rút khỏi Daica. Dân du mục Goth vào chiếm và sinh sống với dân địa phương cho đến thề kỷ 4, khi dân du mục Hung tiến vào. Khu vực Transilvania do dân GepidAvar chiếm đóng cho đến thế kỷ VIII. Sau đó bị sát nhập vào đế quốc Bulgaria đến năm 1018. Trong thế kỷ X - XI, Transilvania thuộc vương quốc Hungary cho đến thế kỷ XVI khi Tỉnh độc lập Transilvania được thành lập. Do sự tàn phá và các gánh nặng về kinh tế, dân địa phương không bị ảnh hưởng bởi dân nhập cư về văn hóa và lối sống. Người Pechenegs, người Cumans và người Uzes cũng được nhắc đến trong quá trình lịch sử trên vùng lãnh thổ România, cho đến sự thành lập của các tỉnh România mang tên gọi Wallachia bởi Basarab I, và Moldavia bởi Dragoş vào thế kỷ thứ XIII và thứ XIV theo thứ tự được kể.

Vào thời Trung Cổ, người Romani sống trong hai tỉnh độc lập chính: Wallachia (tiếng Romani: Ţara Românească - "Đất của người Romani"), Moldavia (tiếng Romani: Moldova) cũng như tỉnh Transilvania được cai quản bởi Hungary.

Vào năm 1475, Stefan III Đại đế xứ Moldavia đã đại thắng trước quân Ottoman trong trận Vaslui. Tuy nhiên, về sau Wallachia và Moldavia lại dần chịu sự bá chủ của Đế quốc Ottoman trong suốt thế kỷ XV và thế kỷ XVI (năm 1476 đối với Wallachia, Moldavia vào năm 1514), như là những nước chư hầu phải nộp triều cống với quyền tự trị hoàn toàn và sự độc lập đối với bên ngoài cuối cùng mất hẳn vào thế kỷ thứ XVIII.

Một trong những vị vua kiệt xuất của Hungary, Mátyás Corvin (được biết đến trong tiếng România như là Matei Corvin), người trị vì từ 1458-1490, được sinh ra ở Transilvania. Ông tự nhận là người România bởi vì cha ông là người România, Iancu de Hunedoara (Hunyadi János trong tiếng Hungary), và bởi người Hungary vì mẹ ông là người Hungary. Sau này, vào năm 1541, Transilvania trở thành một bang gồm nhiều chủng tộc dưới quyền cai quản của triều đình Ottoman sau trận Mohács.

Độc lập và chế độ quân chủ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vương quốc România
Những thay đổi trong lãnh thổ România từ năm 1859.

Mihail Viteazal (1558-9 tháng 8 năm 1601) là Công tước xứ Wallachia (1593-1601), xứ Transilvania (1599-1600), và xứ Moldavia (1600). Trong suốt triều đại ông 3 tỉnh này được cư ngụ đa số bởi người România lần đầu tiên sống dưới cùng một chế độ cai trị.

Vào năm 1812 đế quốc Nga sát nhập Bessarabia, phân nửa phần phía đông của Moldavia (một phần bị mất do Hòa ước Paris (1856)); vào năm 1775 các hoàng đế nhà Habsburg đã sát nhập phần phía bắc, Bukovina, và Đế quốc Ottoman phần đông-nam, Budjak.

Vào cuối thế kỷ XVIII, triều đình Habsburg đã sát nhập Transilvania vào phần mà sau này trở thành Đế quốc Áo. Trong suốt thời gian thống trị của đế quốc Áo-Hung (1867-1918), người dân România ở vùng Transilvania đã trải qua một sự đàn áp tệ hại nhất dưới hình thức các chính sách Hungary hóa của nhà nước Hungary.

Đại România năm 1930

Nước România hiện đại được thành lập với sự sát nhập của hai bang Moldavia và Wallachia vào năm 1859 dưới thời Công tước Alexandru Ioan Cuza xứ Moldavia. Ông ta bị thay thế bởi Công tước Karl xứ Hohenzollern-Sigmaringen vào năm 1866. Trong Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ, 1877-78, România chiến đấu ủng hộ phía Nga; trong Hiệp định Berlin, 1878 România được công nhận như là một nước độc lập bởi các nước đế quốc. Để đổi lại việc nhượng cho Nga ba quận phía nam của Bessarabia mà sau này được lấy lại bởi Moldavia sau Chiến tranh Krym vào năm 1852, Vương quốc România đoạt lấy Dobruja. Vào năm 1881 bang này được nâng lên thành một vương quốc và Công tước Carol I trở thành vua Carol I.

Những vùng lãnh thổ România đã được nhượng cho các quốc gia lân cận. Chỉ có Bắc Transylvania được lấy lại

România tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất cùng phe với Đồng minh ba bên. Chiến dịch quân sự của România đã kết thúc thảm hại khi quân Liên minh Trung tâm chinh phục phần lớn đất nước và bắt hoặc giết phần lớn quân đội România chỉ trong vòng 4 tháng. Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, đế quốc Nga hoàng sụp đổ năm 1917 với cuộc Cách mạng Tháng Hai, còn đế quốc Áo-Hung thì tan rã năm 1918. Những sự kiện này cho phép Bessarabia, Bukovina và Transilvania tái gia nhập với Vương quốc România vào năm 1918. Nước Hungary khôi phục sau cuộc chiến đã bãi bỏ các đặc quyền và danh hiệu của Hoàng gia Habsburg trong Hiệp ước Trianon vào năm 1920.

Trong thời kỳ chiến tranh, România được gọi là România Mare (Đại România), quốc gia này đã đạt đến phần mở rộng lãnh thổ lớn nhất (gần 300 nghìn km²)[21]. Việc thực hiện cải cách nông nghiệp triệt để và việc áp dụng hiến pháp mới tạo ra một khuôn khổ dân chủ và cho phép tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Với sản lượng dầu là 7,2 triệu tấn vào năm 1937, România là nước xuất khẩu lớn thứ hai châu Âu và thứ bảy trên thế giới[22][23], cũng là nước sản xuất lương thực thực phẩm lớn thứ hai châu Âu. Tuy nhiên, đầu những năm 1930 đã được đánh dấu bằng thất nghiệp và đình công, với hơn 25 chính phủ theo sau trong suốt thập kỷ này. Nhiều lần trong những năm trước Thế chiến II, các đảng dân chủ đã bị vướng vào những xung đột với những người phát xít và những người thuộc đảng Mișcarea Legionară (cận vệ sắt) theo xu hướng độc tài của vua Carlos II[24].

Năm 1940 trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Bắc Bukovina và Bessarabia, Bắc Transilvania và phía nam Dobruja bị chiếm bởi Liên Xô, HungaryBulgaria theo thứ tự kể trên. Vua Carol II độc đoán đã thoái vị vào năm 1940 và những năm sau đó România bước vào cuộc chiến tham gia lực lượng của Phe Trục. Sau sự chiếm đóng của Liên Xô, România lấy lại được Bessarabia và phía bắc Bukovina từ nước Nga Xô-viết, dưới sự lãnh đạo của tướng Ion Antonescu. Đức tặng thưởng lãnh thổ Transnistria cho România. Trong suốt cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền Antonescu, liên minh với phát xít Đức, đã đóng một vai trò trong Holocaust, với các chính sách đàn áp và tàn sát người Do Thái, và ở mức độ thấp hơn là người România. Theo một báo cáo phát hành năm 2004 bởi một cơ quan do cựu Tổng thống Ion Iliescu bổ nhiệm và điều hành bởi Elie Wiesel (người đã từng đoạt giải Nobel), các nhà cầm quyền România là thủ phạm trong việc lên kế hoạch và thực hiện việc giết từ 280.000 đến 380.000 người Do Thái, nguyên trong miền đông România thu lại hay chiếm của Liên Xô, dù trong một số tài liệu ước lượng thương vong trong thế chiến II thậm chí còn cao hơn.

Vào tháng 8 năm 1944 chính quyền Antonescu bị lật đổ, và România gia nhập phe Đồng Minh chống lại phát xít Đức, nhưng vai trò của nước này trong việc đánh bại Đức không được công nhận bởi Hiệp định Hòa bình Paris, 1947.

Thời kỳ Cộng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Nicolae Ceaușescu, lãnh đạo România từ năm 1965 cho đến năm 1989.
Cách mạng România năm 1989 là một trong số ít những cuộc cách mạng bạo lực tại châu Âu đã đặt dấu chấm hết cho chế độ Cộng sản ở nước này.

Trong thời gian Liên Xô chiếm đóng România, chính phủ Cộng sản đã kêu gọi bầu cử mới vào năm 1946 (chiến thắng gian lận), với 70% số phiếu bầu[25]. Vì vậy, họ nhanh chóng thành lập chính họ như là lực lượng chính trị thống trị[26]. Gheorghe Gheorghiu-Dej, một lãnh đạo đảng Cộng sản bị cầm tù năm 1933, trốn thoát năm 1944 đã trở thành lãnh đạo Cộng sản đầu tiên của România. Năm 1947, ông và những người khác buộc vua Mihai I phải thoái vị và rời khỏi đất nước, và tuyên bố Romania là một nước cộng hòa nhân dân[27][28]. România vẫn thuộc sự chiếm đóng trực tiếp quân sự và kiểm soát kinh tế của Liên Xô cho đến cuối những năm 1950. Trong thời gian này, tài nguyên thiên nhiên rộng lớn của România đã bị các công ty Liên Xô-România hợp tác (SovRoms), liên tục các mục đích khai thác đơn phương[29][30][31].

Năm 1948, nhà nước bắt đầu quốc hữu hóa các công ty tư nhân và tập hợp nông nghiệp[32]. Cho đến đầu những năm 1960, chính phủ đã cắt giảm nghiêm trọng các quyền tự do chính trị và ngăn chặn bất kỳ bất đồng chính kiến ​​nào với sự giúp đỡ của Securitate (cảnh sát mật România). Trong thời gian này, chế độ đã phát động một số chiến dịch thanh trừng, trong đó nhiều "kẻ thù của nhà nước" và "các yếu tố ký sinh trùng" được nhắm vào các hình thức trừng phạt khác nhau, như trục xuất, lưu vong nội bộ và bị đày vào các trại cưỡng bức lao động và trại giam, cũng như bị xử tử[33]. Tuy nhiên, kháng chiến chống Cộng sản là một trong những phong trào lâu dài nhất ở Khối Đông Âu[34]. Một Ủy ban 2006 ước tính số nạn nhân trực tiếp của sự đàn áp cộng sản khoảng hai triệu người[35].

Sau cuộc thương thảo về việc rút lui của Liên Xô tại đây vào năm 1958, România - dưới sự lãnh đạo của Nicolae Ceauşescu - bắt đầu theo đuổi những chính sách độc lập hơn với Liên Xô như việc chỉ trích Khối Warszawa can thiệp quân sự vào Tiệp Khắc[36], tiếp tục duy trì quan hệ ngoại giao với Israel sau Cuộc chiến 6 ngày năm 1967, thiết lập các mối quan hệ kinh tế và ngoại giao với Cộng hòa Liên bang Đức[37]. Ngoài ra, sự hợp tác chặt chẽ với các quốc gia Ả Rập cho phép România đóng vai trò chủ chốt trong tiến trình đối thoại Israel-Ai CậpIsrael-PLO[38]. Tuy nhiên, nợ nước ngoài của România gia tăng không ngừng, từ năm 1977-1981, nợ nước ngoài tăng từ 3 lên 10 tỷ USD[39], ảnh hưởng của các tổ chức tài chính quốc tế như IMF và Ngân hàng thế giới tăng lên, mâu thuẫn với đường lối chính trị của Nicolae Ceauşescu. Ông đề xướng một dự án cuối cùng để hoàn trả nợ nước ngoài của România bởi các đường lối chính trị trên đã làm nghèo và kiệt quệ România, trong khi mở rộng quyền lực của công an và tệ sùng bái cá nhân. Việc đó đã làm giảm uy tín của Nicolae Ceauşescu và Chính phủ của ông bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính quân sự tháng 12 năm 1989. Ông và vợ bị tử hình sau một phiên xử chiếu lệ chỉ diễn ra hai giờ và không có luật sư bào chữa[40] Tháng 12 năm 1989, chế độ xã hội chủ nghĩa ở România do Nicolae Ceausescu đứng đầu bị sụp đổ, România chuyển sang chế độ đa nguyên, đa đảng.

Đương đại[sửa | sửa mã nguồn]

România gia nhập NATO năm 2004 và tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh NATO năm 2008 tại Bucharest

Năm 1990, Ion Iliescu được bầu làm Tổng thống và lấy tên chính thức của nước là Cộng hòa România. Hiến pháp mới được phê chuẩn qua cuộc trưng cầu ý dân năm 1991. Sau khi thay đổi thể chế chính trị, cánh tả đã cầm quyền tại România cho tới cuối 1996. Tháng 11 năm 1996, cánh hữu thắng cử nhưng đã thất bại trong việc phục hồi và quản lý kinh tế - xã hội nên cánh tả trở lại nắm quyền cuối năm 2000. Năm 1995, România đệ đơn xin gia nhập Liên hiệp châu Âu. Năm 1996, România và Hungary ký một hiệp định chung tuyên bố bãi bỏ những tranh chấp (không xâm phạm biên giới và bảo đảm quyền của thiểu số người Hungary sống trong lãnh thổ România). Đảng Dân chủ Cơ Đốc giáo giành thắng lợi trong cuộc bầu cử lập pháp, Emil Constantinescu trở thành Tổng thống. Năm 2000, Ion Iliescu tái đắc cử và trở lại lãnh đạo đất nước. Tuy nhiên, do đời sống nhân dân chậm được cải thiện nên tháng 12 năm 2004 cánh hữu lại thắng cử và cầm quyền cho tới nay. România đã gia nhập NATO từ 29 tháng 3 năm 2004EU từ 1 tháng 1 năm 2007.

Romania đã chứng kiến ​​những cuộc biểu tình chống chính phủ lớn nhất trong lịch sử của mình trong nửa đầu năm 2017, hàng trăm ngàn người România đã xuống đường biểu tình trên toàn quốc.

Cựu Tổng thống Traian Băsescu (2004–2014) đã hai lần bị Quốc hội România luận tội (năm 2007 và 2012), lần thứ hai trên nền tảng của cuộc biểu tình đường phố đầu năm 200. Trong cuộc trưng cầu dân ý tổng thống România năm 2012, hơn 7 triệu cử tri (88% số người tham gia)[41] đã bỏ phiếu để lật đổ Băsescu, so với 5.2 triệu cử tri ban đầu ủng hộ ông trong cuộc bầu cử tổng thống România năm 2009. Tuy nhiên, Tòa án Hiến pháp România, trong một quyết định đã đánh giá kết quả của cuộc trưng cầu dân ý, cho biết số cử tri đi bầu (46,24% theo số liệu thống kê chính thức) là quá thấp[42]. Những người ủng hộ Băsescu đã được ông và đảng cũ của ông kêu gọi không tham gia trưng cầu dân ý, do đó nó sẽ bị vô hiệu do không đủ cử tri đi bầu[43].

Vào tháng 11 năm 2014, thị trưởng thành phố Sibiu Klaus Iohannis bất ngờ đánh bại thủ tướng đương nhiệm Victor Ponta, người đã dẫn đầu trong các cuộc thăm dò ý kiến. Chiến thắng bất ngờ này là do nhiều người đến với cộng đồng người România, trong đó gần 50% đã bỏ phiếu cho Iohannis trong vòng đầu tiên, so với 16% cho Ponta[44].

Các cuộc biểu tình chống chính phủ lớn nhất lịch sử România đã xảy ra vào nửa đầu năm 2017. Điển hình, vào tháng 1 năm 2017, nhiều ngày sau khi chính phủ của Sorin Grindeanu tuyên thệ nhậm chức tại România, nhiều cuộc biểu tình lớn đã diễn ra trên khắp đất nước chống lại nghị định được đề xuất bởi Bộ Tư pháp România về việc tha thứ tội phạm cam kết nhất định, và sửa đổi Bộ luật Hình sự România (đặc biệt là liên quan đến việc lạm dụng quyền lực[45]). Ngay sau khi có thông báo rằng các pháp lệnh được thông qua, hơn 25.000 người đã xuống đường biểu tình trong đêm đó. Các cuộc biểu tình tăng lên vào ngày hôm sau đến hơn 300.000 người trên khắp cả nước, trở nên các cuộc biểu tình lớn nhất kể từ sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản[46]. Tiếp đó, ngày 12/11, hàng nghìn người România đã tham gia các cuộc biểu tình tại nhiều thành phố để phản đối dự luật cải cách tư pháp của chính phủ. Theo những người biểu tình, những sửa đổi theo dự luật sẽ làm suy yếu các nỗ lực chống tham nhũng. Tại thủ đô Bucharest, hơn 1.000 người biểu tình đã tập trung phản đối các chính sách kinh tế "không rõ ràng" của chính phủ. Người biểu tình cũng tập trung trước trụ sở của đảng Dân chủ Xã hội cầm quyền nhằm phản đối đảng này. Biểu tình cũng diễn ra ở một số thành phố khác. Trước đó ngày 5/11, hơn 12.000 đã tham gia các cuộc biểu tình tại Bucharest phản đối dự luật cải cách tư pháp. Tại hàng chục thành phố khác, hàng nghìn người cũng đổ xuống đường phản đối dự luật mà họ cho là sẽ làm suy yếu quyền lực của Cơ quan chống tham nhũng quốc gia (DNA) cũng như ngăn cản cơ quan này tiến hành điều tra các quan chức. Theo dự luật cải cách, tổng thống sẽ không còn quyền chỉ định các công tố viên cao cấp. Các ý kiến phản đối cho rằng việc sửa đổi dự luật có mục tiêu duy nhất là bảo vệ các nhà lãnh đạo tham nhũng.

Chính phủ từ năm 1989 cũng đã bị chỉ trích vì đã cho phép các công ty nước ngoài khai thác mỏ khoáng chất, kim loại hiếm và vàng ở Rosia Montana, cũng như cho phép tập đoàn năng lượng đa quốc gia Chevron của Mỹ khai thác khí đá phiến bằng kỹ thuật fracking, gây ô nhiễm trữ lượng nước ngọt của các khu vực bị ảnh hưởng. Trong năm 2012-2014 đã có một số cuộc biểu tình lớn chống lại cả hai hành động này.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh chụp România từ vệ tinh
Bài chi tiết: Địa lý România
Bản đồ Phân loại khí hậu Köppen România

Với diện tích 238.391 km², România là quốc gia lớn nhất ở Đông Nam Âu và lớn thứ mười hai ở châu Âu[47], nằm giữa vĩ độ 43° và 49°N và kinh độ 20° và 30°E. Nước này giáp với Hungary về phía tây bắc, MoldovaUkraina về phía đông bắc, Sông Danube ở phía nam là biên giới tự nhiên giữa România và Bulgaria, đồng thời cũng là biên giới giữa Serbia và nước này. Dãy núi Karpat chiếm phần lớn phía tây của đất nước, đỉnh cao nhất là Moldoveanu (2.544 m)[48]. Khoảng 47% diện tích đất của quốc gia được bao phủ bởi các hệ sinh thái tự nhiênbán tự nhiên[49]. Các thành phố lớn bao gồm Craiova, Cluj-Napoca, Galaţi, Constanţa, Iasi, TimişoaraBraşov. Dân số các thành phố này khoảng từ 250.000 cho đến 500.000 người[50].

Khoảng 10.000 km² (khoảng 5% tổng diện tích) là các khu bảo tồn, bao gồm 13 vườn quốc gia và ba khu dự trữ sinh quyển[49][51]. Đã xác định được 3.700 loài thực vật thủy sinh, 74 loài đã tuyệt chủng, 39 loài nguy cấp, 171 loài dễ bị tổn thương và 1.253 loài quý hiếm[52]. Hệ động vật bao gồm 33.792 loài. Trong đó: 33.085 loài động vật không xương sống, 707 động vật có xương sống[52], gần 400 loài động vật có vú, chim, bò sát và lưỡng cư [53]. khoảng 50% Gấu nâu châu Âu (không kể Nga)[54] và 20% chó sói đều tập trung tại quốc gia này[55].

Có 12 vườn quốc gia ở România và tổng cộng hơn 500 khu bảo tồn thiên nhiên. Hầu hết các khu bảo tồn nằm ở Dãy núi Karpat, và chỉ có một số ít phục vụ như một địa điểm du lịch. Đồng bằng sông Danube được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới và là vùng đất ngập nước lớn nhất châu Âu. Cổng Sắt trên biên giới Serbia và România có nhiều khung cảnh đẹp.

Do vị trí nằm ở phần phía đông nam lục địa Châu Âu, nên România có khí hậu ôn đới và lục địa, với bốn mùa rõ rệt. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 11 °C ở phía Nam và 8 °C ở phía bắc[56]. Vào mùa hè, nhiệt độ trung bình ở Bucharest tăng lên 28 °C, và nhiệt độ trên 35 °C là khá phổ biến ở các vùng hạ lưu của đất nước[57]. Vào mùa đông, nhiệt độ tối đa trung bình thấp hơn 2 °C[57]. Lượng mưa trung bình rơi vào khoảng 750 mm/năm tại các ngọn núi phía tây, trong khi đó ở Bucharest nó giảm xuống khoảng 600 mm[58]. Có một sự khác biệt trong các khu vực: ở các phần phía tây, như Banat, khí hậu ôn hòa hơn do sự ảnh hưởng của Địa Trung Hải; phần phía đông của đất nước có khí hậu lục địa. Tại Dobruja, Biển Đen cũng ảnh hưởng đến khí hậu khu vực[59].

Nhiệt độ trung bình tháng tại một số thành phố của Romania[60]
Thành phố Tháng 7(°C) Tháng 1 (°C)
Bucharest 28.8/15.6 1.5/−5.5
Cluj-Napoca 24.5/12.7 0.3/−6.5
Timișoara 27.8/14.6 2.3/−4.8
Iași 26.8/15 −0.1/−6.9
Constanța 25.9/18 3.7/−2.3
Craiova 28.5/15.7 1.5/−5.6
Brașov 24.2/11.4 −0.1/−9.3
Galați 27.9/16.2 1.1/–5.3

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kinh tế România
România là một thành viên của Thị trường đơn lẻ EU
Một chiếc Dacia Duster của România

România là một trong những nhà sản xuất và xuất khẩu hàng đầu các sản phẩm nông nghiệp ở Châu Âu, chiếm 10% GDP. Diện tích rừng chiếm 40% bề mặt đất nước; Tài nguyên rừng phong phú và nghề đánh cá đang mở rộng. Các mỏ khí tự nhiên và dầu mỏ đóng góp một phần đáng kể vào nhu cầu tiêu dùng hàng ngày, nhưng nước này lại phải nhập khẩu chúng, chủ yếu từ Nga. Để cố gắng giảm sự phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài, các nhà máy điện hạt nhân và thủy điện đã được đẩy mạnh việc hoạt động, và cung cấp 45% năng lượng tiêu thụ trong nước.

Sau Thế chiến II, các nguồn lực kinh tế của România đã được quốc hữu hóa và hoạt động theo mô hình kinh tế kế hoạch. Vào năm 1989, với sự sụp đổ của chế độ cộng sản, chính phủ mới đã tiến hành một loạt các cải cách để đưa ra hệ thống kinh tế thị trường. Sau nhiều năm tư nhân hoá và phân cấp, chính phủ România đã có sự can thiệp đáng kể trong nền kinh tế, ngoài một nền kinh tế phong phú hơn trong thời kỳ XHCN, bắt đầu chuyển từ chủ nghĩa cộng sản sang chủ nghĩa tư bản vào cuối năm 1989 [61]. Dẫn đến một cuộc suy thoái 3 năm năm 2000. Kể từ khi kết thúc chủ nghĩa cộng sản, đất nước này đã trải qua hàng loạt các cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị kể từ năm 1990. Một cuộc khảo sát của Viện Điều tra tội ác chủ nghĩa Cộng sản cho thấy 60% người România cho rằng nền kinh tế hoạt động tốt hơn dưới chế độ cộng sản[62]. Cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008/2012 đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến România và chính phủ đã giảm chi tiêu công xuống 1 tỷ euro trong năm 2009 và 3 tỷ trong năm 2010, dẫn tới sự sụt giảm kinh tế của đất nước khoảng 8-8,5% trong năm 2009 của Tổng sản phẩm nội địa.

Giữa năm 2009 và 2013 nhiều công ty bị phá sản. Đất nước này thậm chí còn phải nhờ đến những gói cứu trợ của EUIMF (khoảng 20.000 triệu euro), điều này bắt nguồn từ một loạt các điều chỉnh và cải cách. Lớn nhất là cắt giảm 25% lương công chức và 15% lương hưu, gây ra một làn sóng biểu tình, buộc thủ tướng Emil Boc phải từ chức vào tháng 2 năm 2012[63].

Trong năm 2017, GDP România khoảng 197,004 tỷ USD, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước, trong khi tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống 5,5%. Dưới sự lãnh đạo của Sorin Grindeanu, Thủ tướng România, Chính phủ đã giảm thuế giá trị gia tăng, đồng thời tăng mức lương của công chức và người về hưu. Lạm phát vẫn ở mức dưới 3,5%[64][65].

Đơn vị tiền tệ chính thức của România là leu. Quốc gia này gia dự kiến ​​sẽ thông qua đồng Euro vào năm 2022[66].

Các ngành kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bucharest - trung tâm tài chính của România
Lâu đài Bran, một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của România

Ngành công nghiệp chiếm 35% GDP, mặc dù trong thời gian gần đây, các cơ sở được xây dựng trong giai đoạn kinh tế kế hoạch đã trở nên lỗi thời và các nhà máy đã phải đầu tư rất lớn vào hiện đại hóa. Các ngành chính là dệt may, sắt thép, sản xuất máy móc thiết bị và các phương tiện, vũ khí và chế biến sản xuất nông nghiệp.

Nông nghiệp chiếm khoảng 8,1% GDP. Tính đến tháng 8 năm 2009, gần 30% lực lượng lao động của đất nước được sử dụng trong nông nghiệp, so với tỷ lệ 4-5% của các nước phương Tây. Các sản phẩm nông nghiệp gồm ngô, lúa mì, khoai tây, dầu thực vật, rau và gia súc.

Ngành sản xuất ôtô của România bao gồm các nhà máy chi nhánh của các công ty nước ngoài, mặc dù có một số nhà sản xuất ôtô quan trọng trong nước như Dacia, Ford Romania, Roman BraşovIgero[67]. Trong năm 2013, có khoảng 410.997 xe ô tô đã được sản xuất tại România, tăng từ 78.165 vào năm 2000.

Dịch vụ chiếm 55% GDP, với du lịch là ngành chính. Ngành du lịch đã đóng góp trực tiếp 2,09 tỷ Euro vào GDP năm 2015, cao hơn một chút so với năm 2014. Mức đóng góp của ngành du lịch vào nền kinh tế România bao gồm các khoản đầu tư và chi tiêu được xác định bởi ngành này, đạt được 8,3 tỷ Euro vào năm 2015, tăng 3,4% so với năm 2014. Biển Đen, vùng Đồng bằng sông Danubedãy núi Karpat là những điểm thu hút tự nhiên mà tập trung các ngành du lịch, trong khi ở Transylvania lại tập trung về những di sản văn hóa của vùng.

România cũng có một hải cảng chiến lược cạnh tranh tốt với nhiều quốc gia láng giềng trong việc tiến hành các hoạt động kinh doanh trên biển. Hải cảng Constanta là hải cảng náo nhiệt nhất ở Biển Đen, vượt trội so với những nơi khác. Thêm vào đó, cơ sở hạ tầng của hải cảng và lực lượng lao động được giáo dục đào tạo tốt, có kỹ năng, cũng là nền tảng cho việc phát triển nền kinh tế sản xuất hàng hóa và các hoạt động xuất nhập khẩu.

Cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Mạng lưới đường bộ tai România

Theo INSSE, tổng số mạng lưới đường bộ của România ước tính năm 2015 khoảng 86.080 km[68]. Ngân hàng Thế giới ước tính mạng lưới đường sắt vào khoảng 22,298 km - mạng lưới đường sắt lớn thứ tư ở châu Âu[69]. Ngành vận tải đường sắt giảm mạnh sau năm 1989, và ước tính có 99 triệu hành khách vào năm 2004; nhưng gần đây đã phát triển nhanh chóng do cải tiến cơ sở hạ tầng và tư nhân hóa từng phần[70], chiếm 45% vận tải hành khách và hàng hóa trong nước[70]. Tàu điện ngầm Bucharest được khai trương vào năm 1979 với 61,41 km, lượng hành khách trung bình trong năm 2007 là 600.000 người trong suốt tuần làm việc[71]. Có 16 sân bay thương mại quốc tế, với năm sân bay quốc tế: Henri Coandă, Sân bay Quốc tế Aurel Vlaicu, Sân bay Quốc tế Timișoara, Sân bay Quốc tế ConstantaSân bay Quốc tế Sibiu, có khả năng vận chuyển máy bay thân rộng. Hơn 9.2 triệu hành khách đã bay qua sân bay quốc tế Henri Coandă của Bucharest vào năm 2015[72].

Đồ thị hỗn hợp cung cấp điện România năm 2015

Romania là nước xuất khẩu năng lượng điện và đứng thứ 48 trên thế giới về tiêu thụ lượng điện năng[73][cần nguồn tốt hơn]. Khoảng 1/3 năng lượng sản xuất đến từ các nguồn năng lượng tái tạo, chủ yếu là thủy điện[74]. Năm 2015, các nguồn năng lượng chính là than (28%), thủy điện (30%), hạt nhân (18%) và hydrocacbon (14%)[75]. România là một trong những năng lực lọc dầu lớn nhất ở Đông Âu, mặc dù sản lượng dầu và khí thiên nhiên đã giảm trong hơn một thập kỷ[73]. Với một trong những trữ lượng dầu thô và đá phiến lớn nhất ở châu Âu[73], nó là một trong những nước độc lập về năng lượng nhất trong Liên minh châu Âu[76], và đang tìm cách mở rộng hơn nữa nhà máy điện hạt nhân của mình tại Cernavodă[77].

Có gần 18,3 triệu lượt kết nối với Internet vào tháng 6 năm 2014[78]. Theo Bloomberg, năm 2013 România xếp thứ 5 trên thế giới, và theo The Independent, đứng thứ nhất ở châu Âu với tốc độ hóa internet[79][80], theo Timișoara được xếp hạng cao nhất trên thế giới[81].

Khoa học và công nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Coandă-1910 là một chiếc máy bay đầu tiên với động cơ đẩy quạt

Trong lịch sử, các nhà nghiên cứu và phát minh România đã có những đóng góp đáng kể trong các lĩnh vực khoa học khác nhau. Traian Vuia đã thực hiện các thí nghiệm tiên phong và thành công trong ngành hàng không và Aurel Vlaicu chế tạo và thử nghiệm một số chiếc máy bay đầu tiên trong lịch sử, trong khi Henri Coandă đã phát hiện ra hiệu ứng Coandă trên chất lỏng. Victor Babeş phát hiện hơn 50 loại vi khuẩn; nhà sinh vật học Nicolae Paulescu phát hiện ra insulin, trong khi Emil Palade nhận giải Nobel về những đóng góp của ông cho sinh học tế bào. Lazăr Edeleanu là nhà hóa học đầu tiên tổng hợp amphetamine, trong khi Costin Neniţescu đã phát triển nhiều loại hợp chất mới trong hóa hữu cơ. Các nhà toán học nổi tiếng khác bao gồm Spiru Hare, Grigore MoisilŞtefan Odobleja; các nhà vật lý học và phát minh: Şerban Ţiţeica, Alexandru ProcaŞtefan Procopiu[82].

Trong những năm 1990 và 2000, sự phát triển nghiên cứu đã bị cản trở bởi một số yếu tố, bao gồm tham nhũng, tài trợ thấp, và một lượng chảy máu chất xám đáng kể[83]. Tuy nhiên, kể từ khi nước này gia nhập Liên minh châu Âu, điều này đã bắt đầu thay đổi[84]. Sau khi bị cắt giảm 50% trong năm 2009 do cuộc Đại suy thoái, chi tiêu R&D đã tăng 44% trong năm 2010 và hiện đang ở mức 500 triệu USD[85].

Vào tháng 1 năm 2011, quốc hội cũng thông qua một đạo luật áp đặt "kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt trên các trường đại học và giới thiệu các quy tắc khó khăn hơn cho việc đánh giá và đánh giá đồng đẳng"[86]. Quốc gia này đã tham gia hoặc sắp tham gia một số tổ chức khoa học quốc tế hàng đầu như CERNCơ quan Vũ trụ châu Âu[87][88].

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Kết cấu chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chính trị România
Bài chi tiết: Chính phủ România

Khuôn khổ chính trị của România là một nước cộng hòa bán tổng thống, đại nghị, nơi thủ tướng là người đứng đầu chính phủ và tổng thống là người đứng đầu nhà nước. Quyền hành pháp được thực hiện bởi tổng thống nước cộng hòa và chính phủ. România có một hệ thống đa đảng, có quyền lập pháp trong chính phủ và hai viện của Quốc hội: Phòng Đại biểu và Thượng viện. các cơ quan tư pháp là độc lập của cơ quan hành pháp và cơ quan lập pháp. Hiến pháp România năm 1991 (sửa đổi năm 2003) tuyên bố nó một nước cộng hòa dân chủ và xã hội, bắt nguồn của nó từ nhân dân. Theo hiến pháp, "Nhân phẩm, quyền công dân và tự do, sự phát triển không cản trở nhân cách, công lý và đa nguyên chính trị là những giá trị tối cao và được bảo đảm." Hiến pháp quy định về một Tổng thống, một Quốc hội, một Toà án Hiến pháp và một hệ thống của tòa án riêng biệt bao gồm Tòa án Tối cao. Quyền bỏ phiếu được cấp cho tất cả công dân trên 18 tuổi.

Cung điện Victoria trên Quảng trường Chiến thắng, Bucharest, là trụ sở của chính phủ România.

Hệ thống tư pháp độc lập với các nhánh khác của chính phủ, và được tạo thành từ một hệ thống phân cấp của các tòa án thông qua Tòa án Tối cao của Giám đốc thẩm và Tư pháp, là tòa án tối cao của România[89]. Ngoài ra còn có các tòa án kháng cáo, tòa án quận và tòa án địa phương. Hệ thống tư pháp România bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi mô hình của Pháp, dựa trên luật dân sự và có tính chất tra hỏi trong tự nhiên. Tòa án Hiến pháp (Curtea Constituţională) chịu trách nhiệm đánh giá sự tuân thủ luật và các quy định khác của nhà nước đối với hiến pháp, đó là luật cơ bản của quốc gia và chỉ có thể được sửa đổi thông qua trưng cầu dân ý[70][90]. Việc gia nhập EU năm 2007 đã ảnh hưởng đáng kể đến chính sách trong nước của nó, và bao gồm cải cách tư pháp, tăng cường hợp tác tư pháp với các nước thành viên khác, và các biện pháp chống tham nhũng.

Tổng thống Romania là nguyên thủ quốc gia. Tổng thống được bầu trực tiếp qua hai lần. Một cá nhân có thể phục vụ hai kỳ. Trong nhiệm kỳ của mình, Tổng thống có thể không là thành viên của bất kỳ đảng phái chính trị nào. Tổng thống hiện tại của România là Klaus Iohannis, từ ngày 21 tháng 12 năm 2014.

Tổ chức Tình báo Kinh tế đã đánh giá România là nước dân chủ thiếu sót vào năm 2016.

Quan hệ đối ngoại và quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Các nước có cơ quan đại diện ngoại giao thường trú của România

Từ tháng 12 năm 1989, România đã theo đuổi một chính sách tăng cường quan hệ với phương Tây nói chung, cụ thể hơn là với Hoa KỳLiên minh châu Âu, mặc dù vẫn có quan hệ với Nga. Nước này gia nhập NATO ngày 29 tháng 3 năm 2004, Liên minh châu Âu vào ngày 1 tháng 1 năm 2007, gia nhập Quỹ Tiền tệ Quốc tếNgân hàng Thế giới vào năm 1972. România là một thành viên sáng lập của Tổ chức Thương mại Thế giới[91].

Tổng thống đương nhiệm Klaus Iohannis cùng vói tổng thống Israel Reuven Rivlin

Chính phủ hiện nay tuyên bố mục tiêu tăng cường quan hệ với và giúp đỡ các nước khác (đặc biệt là Moldova, UkrainaGruzia) với quá trình hội nhập với các nước phương Tây[92]. Từ những năm 1990, nước này có những đóng góp đáng kể cho NATO và giúp đỡ cho các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ ở Đông Âu và khu vực Kavkaz trở thành thành viên EU [92]. Romania cũng tuyên bố sự hỗ trợ của chính phủ đối với Thổ Nhĩ Kỳ, và việc Croatia gia nhập Liên minh châu Âu[92]. Vì người Hungary là dân tộc thiểu số ở România, nước này cũng đã phát triển mối quan hệ mạnh mẽ với Hungary. România đã chọn ngày 1 tháng 1 năm 2007 để tham gia Khu vực Schengen và đề xuất ​thành viên của họ đã được Nghị viện châu Âu thông qua vào tháng 6 năm 2011, nhưng đã bị Hội đồng châu Âu loại bỏ vào tháng 9 năm 2011.

Tháng 12 năm 2005, Tổng thống Traian Băsescu và Ngoại trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice đã ký một thoả thuận cho phép sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại România, chủ yếu ở phía đông đất nước[93]. Tháng 5 năm 2009, Hillary Clinton, Ngoại trưởng Hoa Kỳ tuyên bố rằng "România là một trong những đối tác đáng tin cậy và đáng kính nhất của Mỹ"[94].

Mối quan hệ với Moldova là một trường hợp đặc biệt. Hai nước này đều chia sẻ cùng một ngôn ngữ và lịch sử chung. Một phong trào thống nhất của România và Moldova xuất hiện vào đầu những năm 1990 sau khi cả hai nước từ bỏ chế độ cộng sản[92], nhưng đã bị mất điểm vào giữa những năm 1990 khi một chính phủ Moldova mới theo đuổi một chương trình nghị sự nhằm bảo vệ một nước cộng hòa Moldova độc lập[95]. Sau cuộc biểu tình năm 2009 tại Moldova, quyền lực của đảng Cộng sản bị xóa bỏ, quan hệ giữa hai nước đã được cải thiện đáng kể[96].

Theo chiều kim đồng hồ: xe tăng TR-85M1, tàu khu trục Regele Ferdinand, chiến đấu cơ IAR-99 và quân đội România tại Afghanistan năm 2003

Lực lượng vũ trang România bao gồm lục quân, không quân và hải quân, được lãnh đạo bởi một Tổng tư lệnh dưới sự giám sát của Bộ Quốc phòng. Lực lượng vũ trang bao gồm khoảng 15.000 thường dân và 75.000 là quân nhân - 45.800 lực lượng lục quân, 13.250 trong lực lượng không quân, 6.800 trong lực lượng hải quân và 8.800 trong các đơn vị khác[97]. Tổng chi tiêu cho quốc phòng năm 2007 chiếm 2,05% tổng GDP quốc gia, khoảng 2,9 tỷ đô la Mỹ, với tổng số 11 tỷ đô la dành cho việc hiện đại hoá và mua sắm trang thiết bị mới từ năm 2006 đến năm 2011[98].

România đã đóng góp quân đội cho việc gìn giữ hòa bình ở Afghanistan từ năm 2002[99], với sự triển khai tối đa 1.600 quân năm 2010. Nghĩa vụ quân sự của nước này đã kết thúc vào năm 2014[100]. Quân đội România đã tham gia Các cuộc tấn công Iraq, với khoảng 730 lính, trước khi rút xuống còn 350 binh lính. România đã chấm dứt sứ mệnh của mình tại Iraq và rút quân vào ngày 24 tháng 7 năm 2009. Các tàu khu trục HMS Coventry (mua từ Vương quốc Anh) của România tham gia vào can thiệp quân sự năm 2011 tại Libya. Vào tháng 12 năm 2011, Thượng viện România đã nhất trí thông qua dự thảo luật phê chuẩn thoả thuận giữa România và Hoa Kỳ ký kết vào tháng 9 năm đó, cho phép thiết lập và vận hành hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo trên đất liền của Mỹ ở România như là một phần của NATO, nhằm xây dựng một lá chắn tên lửa lục địa[101].

Đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

România được chia thành 41 hạt (județe) và vùng đô thị Bucharest. Mỗi hạt được quản lý bởi một hội đồng hạt, chịu trách nhiệm về các vấn đề địa phương, cũng như một bộ trưởng chịu trách nhiệm quản lý các vấn đề quốc gia ở cấp hạt. Trưởng hạt được bổ nhiệm bởi chính quyền trung ương nhưng không thể là thành viên của bất kỳ đảng chính trị nào[102]. Mỗi hạt được chia nhỏ thành các thành phố và xã, có thị trưởng và hội đồng địa phương riêng. Có tổng cộng 319 (municipiu) thành phố, 217 thị trấn (oraş) và 2.686 xã (comună) ở România[103]. Tổng cộng có 103 thành phố lớn có trạng thái đô thị, mang lại quyền hành chính cao hơn đối với các vấn đề địa phương. Đô thị Bucharest là một trường hợp đặc biệt vì nó ngang bằng với một hạt. Nó được chia thành sáu vùng, có cấp hành chính như một hạt và có một hạt trưởng, một thị trưởng chung (primar), và một hội đồng thành phố chung[103].

Đơn vị cấp NUTS-3 của Liên minh châu Âu phản ánh cấu trúc lãnh thổ hành chính România, tương ứng với 41 hạt cộng với Bucharest[104]. Các thành phố và xã tương ứng với cấp NUTS-5, nhưng không có phân cấp cấp NUTS-4. Cấp NUTS-1 (bốn khu vực phát triển) và NUTS-2[105] (tám khu vực phát triển) tồn tại nhưng không có năng lực hành chính và được sử dụng để điều phối các dự án phát triển khu vực và mục đích thống kê[104].

Vùng Diện tích (km²) Dân số (2011)[106] Thành phố lớn nhất*[107]
Nord-Vest 34.159 2.600.132 Cluj-Napoca (411.379)
Centru 34.082 2.360.805 Brașov (369.896)
Nord-Est 36.850 3.302.217 Iași (382.484)
Sud-Est 35.762 2.545.923 Constanța (425.916)
Sud - Muntenia 34.489 3.136.446 Ploiești (276.279)
București - Ilfov 1.811 2.272.163 Bucharest (2.272.163)
Sud-Vest Oltenia 29.212 2.075.642 Craiova (356.544)
Vest 32.028 1.828.313 Timișoara (384.809)

Các vùng lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các vùng lịch sử của România

Theo truyền thống România được chia thành nhiều khu vực lịch sử không còn thực hiện bất kỳ chức năng quản trị nào:

  • Stema Dobrogei.png Dobruja (Dobrogea) là khu vực cực đông, kéo dài từ phía bắc sông Danube đến bờ Biển Đen.
  • Coat of arms of Moldavia.svg Moldavia (Moldova) trải dài từ Đông Karpat đến sông Prut trên biên giới Moldova và Ukraina.
  • Coat of arms of Wallachia.svg Wallachia (Românească) nằm ở phía nam, trải dài từ dãy núi Transylvanian Alps đến biên giới Bulgaria và chia tách Banatul Craiovei (Oltenia) - Stemă.png Oltenia bởi sông Olt ở phía tây và Stema Muntenia.png Muntenia ở phía đông. Sông Danube tạo thành biên giới tự nhiên giữa Stema Muntenia.png MunteniaStema Dobrogei.png Dobruja.
  • Vùng phía tây-trung, được gọi là Coat of arms of Transylvania.svg Transylvania (Transilvania), được giới hạn bởi vòng cung Karpat, tách nó khỏi vùng Stema Țării Maramureșului sec XIV.png Maramureș ở phía tây bắc bởi khu vực Ducatul Crișanei - Stemă.png Crișana, giáp với Hungary ở phía tây; và vùng Banat modern coat of arms.pngBanat ở phía tây nam, giáp với cả Hungary và Serbia. Đó là những khu vực phía tây của Karpat mà dân tộc thiểu số lớn nhất của quốc gia chiếm đa số - người Hungary, người Đức, và người Serbia.

Ranh giới bên ngoài của România là kết quả của các sự kiện tương đối gần đây. Vào thời điểm bùng nổ Thế chiến thứ nhất, lãnh thổ của đất nước chỉ bao gồm các tỉnh Walachia, Moldavia và Dobruja. Các khu vực này, được gọi là Regat hoặc Vương quốc Cũ, được thành lập với sự tan rã của Đế chế Ottoman vào giữa thế kỷ XIX. Vào cuối Thế chiến thứ nhất, România đã mua lại TransylvaniaBanat. Một số lãnh thổ này đã bị mất trong Thế chiến thứ hai, nhưng các cuộc đàm phán đã trả chúng cho România. Mặc dù các vụ mua lại này đã thống nhất khoảng 85% người nói tiếng România trong Đông Âu vào một quốc gia, nó để lại một số lượng đáng kể người gốc Hungary dưới sự cai trị của România. Tranh chấp giữa Hungary và România về lãnh thổ này sẽ thường xuyên xuất hiện, vì cả hai đều coi khu vực này là một phần di sản quốc gia của họ. Các câu hỏi cũng được nâng lên về giá trị lịch sử của biên giới Liên Xô - România. Coat of arms of Bucovina.svg Bukovina (Bucovina) và Coat of arms of Bessarabia.svg Bessarabia (Basarabia), trước đây là các tỉnh România, nơi có tỷ lệ phần trăm dân số nói tiếng România, là một phần của Liên Xô từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ II đến nay, và sau đó là một phần của các nhà nước (trước đây là các quốc gia Xô viết) UkrainaMoldova. Mặc dù các cuộc tranh chấp có thể xảy ra, tuy nhiên, kể từ năm 1989 România đã không có bất kỳ tuyên bố lãnh thổ để thực hiện.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử dân số
NămSố dân±%
18664.424.961—    
18875.500.000+24.3%
18995.956.690+8.3%
19127.234.919+21.5%
193018.057.028+149.6%
193919.934.000+10.4%
194113.535.757−32.1%
194815.872.624+17.3%
195617.489.450+10.2%
196619.103.163+9.2%
197721.559.910+12.9%
199222.760.449+5.6%
200221.680.974−4.7%
201120.121.641−7.2%
2016 (est.)19.474.952−3.2%
Các số liệu trước 1948 không phản ánh thực tại.
Bản đồ phân bố dân tộc ở România

Tính đến năm 2011, dân số România vào khoảng 20.112.641 người[2]. Giống như các nước khác trong khu vực, con số này dự kiến ​​sẽ giảm dần trong những năm tới do tỷ lệ sinh và tỷ lệ di cư giảm. Thống kê vào tháng 10 năm 2011,người România chiếm 88,9% dân số. Các dân tộc thiểu số lớn nhất là người Hungary (chiếm 6,5% dân số), và người Di-gan (chiếm 3,3% dân số)[108]. Người Hungary tại România sinh sống chủ yếu ở HarghitaCovasna. Các dân tộc thiểu số khác gồm người Ukraina, người Đức, người Thổ, người Lippovans, người Arumans, người Tatarngười Serb[109]. Năm 1930, 745.426 người Đức sống ở România[110], nhưng hiện nay chỉ còn lại 36.000 người[109]. Năm 2009, khoảng 133.000 người nhập cư sống ở România, chủ yếu đến từ MoldovaTrung Quốc[111].


Số lượng người România và các cá nhân gốc România sống ở nước ngoài ước tính khoảng 12 triệu[112]. Sau cuộc Cách mạng România năm 1989, một số lượng lớn người România di cư sang các nước châu Âu khác, Bắc Mỹ hoặc Úc[113]. Ví dụ, vào năm 1990, 96.919 người România định cư vĩnh viễn ở nước ngoài[114].

Dân số sinh sống ở nước ngoài[115] 2013 2015 2017
Tổng dân số 20,020,074 19,870,647 19,644,350
Toàn bộ 182,939 281,048 421,801
 Moldova 59,670 114,654 161,846
 Italia 22,486 38,580 56,515
 Tây Ban Nha 18,827 29,937 42,165
 Ukraina 8,743 11,900 16,729
 Vương quốc Anh 2,604 5,208 15,346
 Đức 3,759 6,552 15,121
 Pháp 3,780 6,471 12,589
 Bulgaria 11,163 10,465 10,646
 Hungary 5,795 6,420 8,184
 Thổ Nhĩ Kỳ 5,057 3 7,986
 Hy Lạp 4,085 4,653 6,494
 Nga 4,952 5,269 6,063
 Trung Quốc 2,978 3,722 5,068
 Hoa Kỳ 2,360 2,876 4,428
 Syria 2,295 2,576 3,492
 Israel 1,665 1,837 2,936
 Bỉ 54 1,102 2,650
 Iraq 1,136 1,419 2,338
 Serbia 1,529 5,783 2,296
 Áo 121 509 1,934
 Cộng hòa Ireland 22 657 1,876
 Tunisia 1,034 1,062 1,627
 Iran 1,114 1,261 1,464
 Bồ Đào Nha 81 364 1,377

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ phân bố tiếng România, màu càng đậm thể hiện tỷ lệ người nói tiếng România cao

Tiếng România là ngôn ngữ chính thức của nước này, đây là một ngôn ngữ Rôman thuộc nhóm ngôn ngữ gốc Ý của ngữ hệ Ấn-Âu, có nhiều điểm tương đồng với tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nhatiếng Bồ Đào Nha[116], trong đó thứ tiếng này gần với tiếng Ý nhất[116]. Bảng chữ cái România gồm 26 chữ cái giống bảng chữ cái La tinh chuẩn, chỉ có điều, thêm năm chữ cái bổ sung (cụ thể là 'ă', 'â', 'î', 'ț' và 'ș'), tổng cộng là 31.

Tiếng România được nói như là ngôn ngữ mẹ đẻ của 85% dân số, trong khi tiếng HungaryVlax Romani (một nhánh ngôn ngữ của tiếng România) được nói bởi những người bản xứ, chiếm 6,2% và 1,2% dân số. Có 25.000 người nói tiếng Đức và 32.000 người nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ sống ở România, cũng như gần 50.000 người nói tiếng Ukraina[117], tập trung ở một số khu vực nhỏ gần biên giới, nơi họ chiếm đa số[118]. Hiến pháp hội đồng địa phương quy định phải đảm bảo quyền lợi về ngôn ngữ của tất cả các dân tộc thiểu số, và trong cộng đồng nơi dân tộc thiểu số chiếm hơn 20% dân số nên các ngôn ngữ thiểu số có thể được sử dụng trong mục đích hành chính, hệ thống tư pháp và giáo dục. Người nước ngoài và người không quốc tịch sống ở Romania có quyền tiếp cận công lý và giáo dục bằng ngôn ngữ của họ[119]. Tiếng Anhtiếng Pháp là hai ngoại ngữ chính được giảng dạy tại các trường học[120][121]. Năm 2010, Cộng đồng Pháp ngữ xác định 4.756.100 người nói tiếng Pháp, chiếm 17% dân số. Khoảng 31% dân số nước này nói tiếng Anh[122].

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tôn giáo România
Circle frame.svg

Tôn giáo tại România (2011)

  Chính thống Giáo (81.0%)
  Công giáo Rôma (4.3%)
  Cải cách (3.0%)
  Phong trào Ngũ Tuần (1.8%)
  Công giáo Hy Lạp (0.7%)
  Báp-tít (0.6%)
  Phục Lâm (0.4%)
  Khác (1.8%)
  Không tôn giáo (0.2%)
  Không rõ (6.2%)
Chính thống giáo tại România (số liệu năm 2002)
Nhà thờ chính tòa Mitropolitana, nhà thờ Chính Thống giáo lớn nhất ở România, được xây dựng vào năm 1833.

România là một nhà nước thế tục và không có tôn giáo nào được công nhận quốc giáo. Tuy nhiên, đại đa số công dân của nước này tự nhận mình là Kitô hữu. 86,7% dân số của đất nước được xác định là Chính Thống giáo theo điều tra dân số năm 2002, phần lớn trong số đó thuộc về Giáo hội Chính thống România. Các giáo phái Kitô giáo khác là Tin Lành (5,2%), Công giáo Rôma (4,7%) và Giáo hội Công giáo nghi lễ Hy Lạp (0,9%).[123] Đây cũng là hai tổ chức tôn giáo phải chịu đựng sự đàn áp nặng nề nhất dưới chế độ Cộng sản. Giáo hội Công giáo nghi lễ Hy Lạp vẫn bị cấm bởi chính quyền cộng sản vào năm 1948,[124] sau đó, dưới chế độ Ceauşescu, một số nhà thờ ở Transilvania đã bị phá hủy. Tin Lành và Công giáo cũng tập trung ở Transilvania.

România cũng có một cộng đồng Hồi giáo tập trung ở Dobruja, chủ yếu là người Thổ Nhĩ KỳTatar với dân số 67.500 người.[125] Theo kết quả điều tra dân số năm 2002, có 66.846 công dân România theo đức tin Unitarian (0,3% tổng dân số). Trong tổng số các dân tộc thiểu số nói tiếng Hungary ở România, giáo phái Unitarians đại diện cho 4,55% dân số, là nhóm giáo phái Kitô lớn thứ ba sau Giáo hội Cải cách ở România (47,10%) và Công giáo (41,20%). Từ năm 1700, Giáo hội Unitarian đã có 125 giáo xứ, trong năm 2006, có 110 mục sư Unitarian và 141 nơi thờ tự ở România.

Ngày 27 tháng 12 năm 2006, một Luật mới về tôn giáo đã được phê duyệt, theo đó các giáo phái tôn giáo chỉ có thể nhận được sự công nhận chính thức của nhà nước nếu họ có ít nhất 20.000 thành viên, chiếm khoảng 0,1% tổng dân số của România.[126]

Đô thị hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù 54,0% dân số sống ở khu vực thành thị vào năm 2011[2], tỷ lệ này đã giảm từ năm 1996[127]. Các hạt có dân số đô thị cao hơn là Hunedoara, BrașovConstanța, có dân số ít hơn là Dâmbovița (30,06 %), GiurgiuTeleorman[2]. Bucharest là thủ đô và là thành phố lớn nhất ở România, với dân số hơn 1,8 triệu người vào năm 2011. Vùng đô thị Bucharest có dân số gần 2,2 triệu người[128], dự kiến ​​sẽ được đưa vào vùng đô thị lên đến 20 lần diện tích của thành phố thích hợp[129][130][131]. 19 thành phố khác có dân số trên 100.000 người như: Cluj-Napoca và Timișoara với hơn 300.000 dân, Iași, Constanța, Craiova và Brașov với hơn 250.000 dân, và Galați và Ploiești với hơn 200.000 người[107]. Các khu vực đô thị đã được thiết lập cho hầu hết các thành phố này.

Thành thị lớn nhất của România
Số liệu năm 2011[132]
Hạng Tên Hạt Dân số Hạng Tên Hạt Dân số.
Bucharest
Bucharest
Cluj-Napoca
Cluj-Napoca
1 Bucharest Bucharest 1.883.425 11 Brăila Brăila 180.302 Timișoara
Timișoara
Iași
Iași
2 Cluj-Napoca Cluj 324.576 12 Arad Arad 159.074
3 Timișoara Timiș 319.279 13 Pitești Argeș 155.383
4 Iași Iași 290.422 14 Sibiu Sibiu 147.245
5 Constanța Constanța 283.872 15 Bacău Bacău 144.307
6 Craiova Dolj 269.506 16 Târgu Mureș Mureș 134.290
7 Brașov Brașov 253.200 17 Baia Mare Maramureș 123.738
8 Galați Galați 249.432 18 Buzău Buzău 115.494
9 Ploiești Prahova 209.945 19 Botoșani Botoșani 106.847
10 Oradea Bihor 196.367 20 Satu Mare Satu Mare 102.411

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Giáo dục România
Đại học Bucharest và Bản đồ Tỷ lệ mù chữ tại các hạt (2011), màu mát cho thấy tỉ lệ mù chữ thấp và màu nóng cho thấy tỷ lệ mù chữ cao (tỷ lệ mù chữ trung bình cả nước: 1,22 %).

Giáo dục ở România dựa trên hệ thống giáo dục miễn phí, bình đẳng. Tiếp cận với giáo dục miễn phí được đảm bảo theo Điều 32 trong Hiến pháp România[133]. Giáo dục được quy định và thực thi bởi Bộ Giáo dục quốc gia[134], đều có hình thức tổ chức riêng và chịu sự điều chỉnh của các luật và chỉ thị khác nhau. Kể từ sự sụp đổ của chế độ cộng sản, hệ thống giáo dục România đã được thông qua một số cải cách.

Mẫu giáo là tùy chọn dưới sáu tuổi. Học tập bắt buộc bắt đầu từ sáu tuổi, với "năm học chuẩn bị" (clasa pregătitoare) để vào lớp một. Việc bắt buộc đi học cho đến lớp mười (tương ứng với mười sáu hay mười bảy tuổi). Chu kỳ giáo dục của một học sinh kết thúc vào lớp mười hai, khi sinh viên tốt nghiệp đại học. Giáo dục đại học được sắp xếp vào Khu vực Giáo dục Đại học Châu Âu. Ngoài hệ thống giáo dục chính thức, gần đây đã được thêm vào hệ thống tư nhân, dạy kèm, bán pháp lý và không chính thức.

Giáo dục đại học phù hợp với khu vực giáo dục đại học châu Âu. Kết quả của nghiên cứu đánh giá PISA tại các trường trong năm 2012 đã đưa România lên hạng 45 trong số 65 nước tham gia[135] và năm 2016 chính phủ România đã công bố số liệu thống kê cho thấy 42% trẻ 15 tuổi không biết đọc[136]. mặc dù România thường giành huy chương trong các kỳ thi olympic toán học[137][138][139]. Đại học Alexandru Ioan Cuza tại Iași, đại học Babeș-Bolyai Cluj-Napoca, đại học BucharestĐại học Tây Timișoara đã được đưa vào bảng xếp hạng top 800 của tạp chí QS World University Rankings[140].

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Y tế tại România
Bệnh viện Colțea

România có một hệ thống y tế toàn cầu và tổng chi tiêu y tế chiếm khoảng 5% GDP nước này[141]. Nó bao gồm khám bệnh, bất kỳ can thiệp phẫu thuật và chăm sóc y tế sau phẫu thuật nào, cũng như cung cấp các loại thuốc miễn phí hoặc trợ cấp cho nhiều loại bệnh khác nhau. Nhà nước có nghĩa vụ tài trợ cho các bệnh viện công và phòng khám. Nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong là bệnh tim mạch và ung thư. Các bệnh truyền nhiễm như bệnh lao, giang mai hoặc viêm gan siêu vi, phổ biến hơn ở Tây Âu[142]. Năm 2010, Romania có 428 bệnh viện công và 25 bệnh viện tư nhân[143], với 6,2 giường trên 1.000 dân[144] và hơn 200.000 nhân viên y tế, trong đó có hơn 52.000 bác sĩ[145]. Trong năm 2013, tỷ suất di cư y tế cao hơn so với mức trung bình của châu Âu là 2,5% 9%[146].

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Văn hóa România

România là một quốc gia đa dạng về văn hóa, thể hiện qua con người, địa lý và lịch sử riêng biệt. Người ta đưa ra giả thuyết và suy đoán rằng người România, (Protoromână, bao gồm Aromanians, Meglenoromână, và Istroromână) là hậu duệ của người La Mã và người dân bản địa. Người Daci, một trong những người bản xứ chủ yếu ở TrungĐông Nam Âu, là một trong những tổ tiên của người Protoromână. Người ta tin rằng người La Mã, người Daci, người Slavngười Illyria là tổ tiên của người România, người Aromania (Vlach), người Meglenoromână, và người Istroromână. Văn hoá România cũng có một số nét tương đồng với các nền văn hoá cổ xưa khác bên ngoài Balkans, chẳng hạn như văn hóa của người Armenia.

Văn học và nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Văn học România
Mihai Eminescu là nhà thơ có tầm ảnh hưởng nhất trong nền thi ca România

Chủ đề nguồn gốc người România được thảo luận vào khoảng cuối thế kỷ 18 giữa các học giả của trường Transylvania[147]. Một số nhà văn nổi tiếng đã xuất hiện trong thế kỷ 19, bao gồm George Cosbuc, Ioan Slavici, Mihail Kogălniceanu, Vasile Alecsandri, Nicolae Bălcescu, Ion Luca Caragiale, Ion Creangă. Mihai Eminescu, sau này được coi là nhà thơ quốc gia România và Moldova lớn nhất và có ảnh hưởng nhất, đặc biệt là bài thơ Luceafărul[148]. Các nghệ sĩ România trong thế kỷ 20 được sự ca ngợi của quốc tế, bao gồm Tristan Tzara, Marcel Janco, Mircea Eliade, Nicolae Grigorescu, Marin Preda, Liviu Rebreanu[149], Eugène Ionesco, Emil CioranConstantin Brancusi. Elie Wiesel - người România gốc Do Thái sống sót sau đại diệt chủng Holocaust đã nhận giải Nobel Hòa bình vào năm 1986, trong khi trong khi nhà văn Herta Müller đã nhận được giải Nobel Văn học năm 2009.

Các họa sĩ nổi tiếng của România gồm Nicolae Grigorescu, Ștefan Luchian, Ion Andreescu Nicolae TonitzaTheodor Aman. Các nhà soạn nhạc cổ điển România nổi tiếng của thế kỷ 19 và 20 bao gồm Ciprian Porumbescu, Anton Pann, Eduard Caudella, Mihail Jora, Dinu Lipatti và đặc biệt là George Enescu. Lễ hội George Enescu hàng năm được tổ chức tại Bucharest để tôn vinh các nhà soạn nhạc nổi tiếng của thế kỷ 20[150]. Các nhạc sĩ đương đại như Angela Gheorghiu, Gheorghe Zamfir[151][152], Inna[153], Alexandra Stan[154] và nhiều nhạc sĩ khác đã đạt được nhiều sự ca ngợi của quốc tế. Tại Eurovision Song Contest, các ca sĩ România đã đạt được vị trí thứ ba trong năm 2005 và 2010[155].

Trong điện ảnh, một số bộ phim của hãng Romania New Wave đã đạt được sự ca ngợi của quốc tế. Tại Liên hoan phim Cannes, 4 luni, 3 săptămâni și 2 zile (4 tháng, 3 tuần, 2 ngày) của đạo diễn Cristian Mungiu giành giải thưởng Cành cọ vàng năm 2007[156]. Tại Liên hoan phim quốc tế Berlin, Child Pose của Călin Peter Netzer giành giải Gấu vàng năm 2013[157].

Danh sách các di sản thế giới bao gồm sáu địa điểm văn hóa nằm trong România: Các nhà thờ Moldavia, nhà thờ gỗ ở Maramureş, các ngôi làng và nhà thờ-công sự ở Transilvania, Tu viện HorezuTrung tâm lịch sử Sighişoara[158]. Thành phố Sibiu được chọn là Thủ đô Văn hóa Châu Âu năm 2007[159]. Nhiều lâu đài vẫn còn tồn tại và nổi tiếng: Lâu đài Peleș[160], Lâu đài CorvinLâu đài Dracula[161].

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ẩm thực Romania
Các món ăn quốc gia România (theo chiều kim đồng hồ): Bulz, Mititei, BorșFasole cu ciolan

Ẩm thực România là một sự kết hợp đa dạng từ nhiều món khác nhau, nhưng nó cũng giữ nét đặc trưng riêng của. Nó ảnh hưởng chủ yếu bởi một loạt các món ăn châu Âu như các món ăn của Áo, ẩm thực Đức, ẩm thực Hy Lạp hay ẩm thực Hungary, tuy nhiên nó cũng bao gồm các yếu tố ẩm thực bắt nguồn từ những món ăn của người Slav Đông và Trung Âu, nổi bật là ẩm thực Serbia và Bulgaria, cũng như ẩm thực Ba Lan, Ukraina và Nga.

Có khá nhiều loại món ăn khác nhau, đôi khi được bao gồm trong một thuật ngữ chung; ví dụ: ciorbă bao gồm một loạt các món súp với vị chua đặc trưng. Đây có thể là súp thịt và rau, súp nội tạng (ciorbă de burtă), súp chân dê, hoặc súp cá, tất cả đều có vị chua từ nước cốt chanh, nước dưa cải, giấm, hoặc borș (theo truyền thống được làm từ cám). țuică (brandy mận) làm thuật ngữ chung cho loại spirit có cồn mạnh tại Romania, trong khi ở các nước khác, mỗi loại có tên gọi khác nhau.

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thể thao România
Gheorghe Hagi (phải) được bầu chọn là cầu thủ vĩ đại nhất của România thế kỷ 20.

Thể thao là một phần quan trọng trong nền văn hoá của România. Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất ở România, các câu lạc bộ thành công nhất là Steaua Bucharest đội bóng Đông Âu đầu tiên giành Cúp châu ÂuSiêu cúp châu Âu năm 1986. Các câu lạc bộ bóng đá quan trọng khác là FC Dinamo Bucureşti, Universitatea Craiova, FC Rapid BucureștiCFR Cluj. România là một trong bốn đội tuyển quốc gia từ châu Âu tham gia World Cup 1930. Các đội bóng đá quốc gia România đã tham gia bảy lần FIFA World Cup và đã thành công nhất trong suốt những năm 1990, khi họ vào vòng tứ kết giải bóng đá vô địch thế giới 1994, và để thua Thụy Điển tại vòng bán kết. Romania được FIFA xếp thứ ba vào năm 1997[162].

Các môn thể thao phổ biến khác bao gồm bóng ném, bóng chuyền, bóng rổ, bóng bầu dục, tennisthể dục dụng cụ[163]. Nhiều vận động viên România đã đạt được thành công đáng kể và đã giành được huy chương tại các kỳ thi quốc tế và châu Âu trong những năm qua. România lần đầu tiên tham gia Thế vận hội Mùa hè 1900 và đã tham gia 21 trong 28 trận đấu. România là một trong trong những nước thành công nhất tại Thế vận hội mùa hè, với tổng số 307 huy chương giành được, 25 trong số những huy chương vàng giành được đều nằm trong thể dục dụng cụ. Các vận động viên România cũng đã giành được huy chương vàng trong các môn thể thao Olympic khác, chẳng hạn như chèo thuyền, đấu vật, bắn súng, đấu kiếm, bơi, ném đĩa, cử tạ, boxingjudo. România cũng là quốc gia thành công nhất trong các giải của Balkan Championships[164].

Các ngày nghỉ lễ chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Tên địa phương Tên tiếng Việt Ghi chú
1/1 Anul Nou Tết Dương lịch
2/1 Anul Nou Ngày thứ hai sau Tết Dương lịch
24/1 Unirea Principatelor Române/Mica Unire Ngày Thống nhất Kỷ niệm sự thống nhất của Thân vương quốc Liên hiệp România vào năm 1859, là nền tảng của nhà nước România hiện đại.[165] Ngày nghỉ lễ này chỉ mới bắt đầu vào năm 2017.
tháng Tư/tháng Năm Paștele Lễ Phục sinh Lễ Phục sinh chính thức của Chính Thống giáo. Kỳ nghỉ lễ kéo dài ba ngày: Thứ Sáu Tuần Thánh,[166] Chủ Nhật Phục Sinh và Thứ Hai Phục Sinh, thứ ba không phải là một ngày nghỉ lễ.
1/5 Ziua Muncii Ngày Quốc tế Lao động
1/6 Ziua Copilului Ngày Quốc tế Thiếu nhi Nghỉ lễ bắt đầu từ năm 2017[167]
tháng Năm/tháng Sáu Rusaliile Lễ Hiện Xuống, thứ Hai sau Lễ Hiện Xuống Ngày thứ 50 và 51 sau lễ Phục Sinh Chính Thống giáo.
15/8 Adormirea Maicii Domnului/Sfânta Maria Mare Đức Mẹ an giấc Cũng là ngày lực lượng hải quân România (nhận Đức Mẹ Maria làm thánh bảo trợ Hải quân)
30/11 Sfântul Andrei Ngày thánh Anrê Thánh Anrê là vị thánh bảo trợ của România
1/12 Ziua Națională/Ziua Marii Uniri Quốc khánh/Đại Thống Nhất Cùng với Lễ kỷ niện ngày thống nhất Transylvania với România
25/12/26 Crăciunul Lễ Giáng sinh Ngày thứ hai sau Lễ Giáng sinh cũng là một ngày lễ. Ngày thứ ba không phải là ngày nghỉ lễ

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă "Annual official estimate".(PDF) 2017 Revision
  2. ^ a ă â b “Romanian 2011 census (final results)” (PDF) (bằng tiếng rumænsk). INSSE. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2012. 
  3. ^ a ă “Romania”. International Monetary Fund. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2017. 
  4. ^ “2016 Human Development Report Romania” (PDF). United Nations Development Programme. 2016. tr. 2–3. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2017. 
  5. ^ “Gini coefficient of equivalised disposable income (source: SILC)”. Eurostat Data Explorer. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015. 
  6. ^ Lỗi Lua: invalid capture index %2 in replacement string.
  7. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  8. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  9. ^ "Country Comparison: GDP - Real Growth Rate", CIA World Factbook, accessed 26 July 2017”. Cia.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  10. ^ “Explanatory Dictionary of the Romanian Languae, 1998; New Explanatory Dictionary of the Romanian Language, 2002” (bằng tiếng Romania). Dexonline.ro. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  11. ^ Verres, Andréas. Acta et Epistolae I. tr. 243. nunc se Romanos vocant 
  12. ^ Cl. Isopescu (1929). “Notizie intorno ai romeni nella letteratura geografica italiana del Cinquecento”. Bulletin de la Section Historique XVI: 1–90. ... si dimandano in lingua loro Romei ... se alcuno dimanda se sano parlare in la lingua valacca, dicono a questo in questo modo: Sti Rominest ? Che vol dire: Sai tu Romano, ... 
  13. ^ Holban, Maria (1983). Călători străini despre Țările Române (bằng tiếng Romanian) II. Ed. Științifică și Enciclopedică. tr. 158–161. Anzi essi si chiamano romanesci, e vogliono molti che erano mandati quì quei che erano dannati a cavar metalli ... 
  14. ^ Cernovodeanu, Paul (1960). Voyage fait par moy, Pierre Lescalopier l'an 1574 de Venise a Constantinople, fol 48. Studii și materiale de istorie medievală (bằng tiếng Romanian) IV. tr. 444. Tout ce pays la Wallachie et Moldavie et la plus part de la Transilvanie a eté peuplé des colonies romaines du temps de Traian l'empereur ... Ceux du pays se disent vrais successeurs des Romains et nomment leur parler romanechte, c'est-à-dire romain ... 
  15. ^ Ion Rotaru, Literatura română veche, "The Letter of Neacșu from Câmpulung" Lưu trữ 9 June 2011 tại Wayback Machine., București, 1981, pp. 62–65
  16. ^ See, for example, "Rumania: Remarkable Common Ground" Lưu trữ 31 December 2016 tại Wayback Machine., The New York Times (December 21, 1989).
  17. ^ See the Google Ngrams for Romania, Rumania, and Roumania.
  18. ^ “General principles” (bằng tiếng Romanian). cdep.ro. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  19. ^ http://news.bbc.co.uk/2/hi/science/nature/3129654.stm Hóa thạch người tại châu Âu - BBC
  20. ^ Herodotus (1859). The Ancient History of Herodotus By Herodotus [William Beloe]. Derby & Jackson. tr. 213–217. ISBN 0-19-521974-0. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008. 
  21. ^ “Statul National Unitar (România Mare 1919–1940)”. Truy cập 31 de agosto de 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |publicadopor= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |língua= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  22. ^ “his1”. Truy cập 15 de agosto de 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |publicadopor= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  23. ^ “VIDEO Înregistrare senzaţională cu Hitler: "Fără petrolul din România nu aş fi atacat niciodată URSS-ul". Truy cập 15 de agosto de 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |publicadopor= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  24. ^ Bản mẫu:Citar jornal
  25. ^ Giurescu, "«Alegeri" după model sovietic", p.17 (citing Berry), 18 (citing Berry and note); Macuc, p.40; Tismăneanu, p.113
  26. ^ “Romania: Country studies – Chapter 1.7.1 "Petru Groza's Premiership". Federal research Division, Library of Congress. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  27. ^ “Romania”. CIA – The World Factbook. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  28. ^ “Romania – Country Background and Profile”. ed-u.com. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  29. ^ Rîjnoveanu, Carmen (2003). “Romania's Policy of Autonomy in the Context of the Sino-Soviet Conflict” (PDF). Czech Republic Military History Institute, Militärgeschichtliches Forscheungamt. tr. 1. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. 
  30. ^ Roper, Stephen D. (2000). Romania: The Unfinished Revolution. London: Routledge. tr. 18. ISBN 90-5823-027-9. 
  31. ^ Cioroianu, Adrian (2005). On the Shoulders of Marx. An Incursion into the History of Romanian Communism (bằng tiếng Romanian). Bucharest: Editura Curtea Veche. tr. 68–73. ISBN 973-669-175-6. 
  32. ^ Stoica, Stan (2007). Dicționar de Istorie a României (bằng tiếng Romanian). Bucharest: Editura Merona. tr. 77–78; 233–34. ISBN 973-7839-21-8. 
  33. ^ Ionițoiu, Cicerone (2000). Victimele terorii comuniste. Arestați, torturați, întemnițați, uciși. Dicționar (bằng tiếng Romanian). Bucharest: Editura Mașina de scris. ISBN 973-99994-2-5. [cần số trang]
  34. ^ Consiliul National pentru Studierea Ahivelor Securității, Bande, bandiți si eroi; Grupurile de rezistență și Securitatea (1948–1968), Editura Enciclopedica, București, 2003
  35. ^ Raportul Comisiei Prezidențiale pentru Analiza Dictaturii Comuniste din România (Bản báo cáo). Comisia Prezidențială pentru Analiza Dictaturii Comuniste din România. 15 tháng 12 năm 2006. tr. 215–217. 
  36. ^ Political Tension 1968 (bằng tiếng rumænsk). Bucharest: British Pathé. 21 tháng 8 năm 1968. 
  37. ^ “Romania: Soviet Union and Eastern Europe”. Country Studies.us. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  38. ^ “Middle East policies in Communist Romania”. Country Studies.us. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  39. ^ Deletant, Dennis. “New Evidence on Romania and the Warsaw Pact, 1955–1989” (PDF). Cold War International History Project e-Dossier Series. 
  40. ^ Jeri Laber The Courage of Strangers
  41. ^ “Biroul Electoral Central, rezultate”. Biroul Electoral Central. 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  42. ^ “Curtea Constitutionala a invalidat referendumul cu scorul 6–3. Traian Basescu revine la Cotroceni”. Hotnews. 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  43. ^ Bucharest, Ian Traynor Roberta Radu in; agencies-GB (30 tháng 7 năm 2012). “Romania's president Basescu survives impeachment vote”. The Guardian. ISSN 0261-3077. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  44. ^ “Romania profile – Leaders – BBC News-GB”. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  45. ^ Carmen Paun (ngày 22 tháng 1 năm 2017). “Romanians protest government plan to commute sentences”. Politico. 
  46. ^ Digi24 (ngày 1 tháng 2 năm 2017). “Cel mai amplu protest din ultimii 25 de ani. Peste 300.000 de oameni au fost în stradă”. Digi24. 
  47. ^ “Geography, Meteorology and Environment” (PDF) (bằng tiếng Romanian). Romanian Statistical Yearbook. 2004. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  48. ^ “Romania Geography”. aboutromania.com. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  49. ^ a ă “Romania's Biodiversity”. Ministry of Waters, Forests and Environmental Protection of Romania (via enrin.grida.no). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008. 
  50. ^ Romania: largest cities and towns and statistics of their population World Gazetteer
  51. ^ “Protected Areas in Romania”. Romanian Ministry of Waters, Forests and Environmental Protection (via envir.ee). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008. 
  52. ^ a ă “Flora si fauna salbatica” (bằng tiếng Romanian). enrin.grida.no. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2009. 
  53. ^ “EarthTrends: Biodiversity and Protected Areas – Romania” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008. 
  54. ^ “Bears. Status Survey and Conservation Action Plan.” (PDF). Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  55. ^ “Canids: Foxes, Wolves, Jackals and Dogs. Status Survey and Conservation Action Plan” (PDF). IUCN/SSC Canid Specialist Group. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 23 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  56. ^ “Romania: Climate”. U.S. Library of Congress. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  57. ^ a ă “Permafrost Monitoring and Prediction in Southern Carpathians, Romania”. CliC International Project Office (CIPO). 22 tháng 12 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. 
  58. ^ “The 2004 Yearbook” (PDF) (bằng tiếng Romanian). Romanian National Institute of Statistics. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  59. ^ Clima Romaniei | Site-ul Administratiei Nationale de Meteorologie Lưu trữ 22 January 2016 tại Wayback Machine.
  60. ^ “Klimatafel von Rumänien”. Baseline climate means (1961–1990) from stations all over the world (bằng tiếng German). Deutscher Wetterdienst. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  61. ^ The World Factbook — Central Intelligence Agency
  62. ^ La pobreza en Rumanía despierta la nostalgia por la dictadura comunista
  63. ^ https://elpais.com/economia/2015/10/02/actualidad/1443795099_892369.html
  64. ^ Buenas cifras económicas en Rumanía
  65. ^ Economía: España no es el país de la UE que más crece: hay 15 estados que van más rápido. Noticias de Economía
  66. ^ Rumanía confía en adoptar el euro en 2022
  67. ^ “El Car”. Igero.ro. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011. 
  68. ^ “Length of roads in Romania 2015” (PDF). INSSE. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 13 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  69. ^ “Reteaua feroviara” (bằng tiếng Romanian). cfr.to. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2009. 
  70. ^ a ă â Romania. The Europa World Year Book 2 (ấn bản 48) (London and New York: Routledge). 2007. tr. 3734–3759. ISBN 978-1-85743-412-5. 
  71. ^ “Metrorex ridership” (bằng tiếng Romanian). Financial Week newspaper. 23 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. 
  72. ^ Ann.aero database Lưu trữ 26 March 2017 tại Wayback Machine.
  73. ^ a ă â [[[List of countries by electricity consumption]] “List of countries by electricity consumption”] Kiểm tra giao thức |url= (trợ giúp). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2017. 
  74. ^ “Archived copy” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2014. 
  75. ^ “Raport Anual 2015 energie” (PDF). Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  76. ^ Ana Hontz-Ward. “Romania Expects to be Energy Independent Despite Ukraine Crisis”. Voanews.com. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  77. ^ “Contractul pentru unitatile 3 si 4 de la centrala nucleara Cernavoda se va parafa in mai. Chinezii v-or avea 51% din actiuni – Nicolae Moga (PSD) – Energie – HotNews.ro”. Economie.hotnews.ro. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  78. ^ “Numărul conexiunilor la internet a crescut cu 22,8%. Câte milioane de români au acces la internet”. Gândul. 4 tháng 12 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  79. ^ • Chart: Blistering BroadBand: Europe's fastest downloaders -> Statista Lưu trữ 22 February 2017 tại Wayback Machine.
  80. ^ “Top 10: Where to Find the World's Fastest Internet”. Bloomberg. 23 tháng 1 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  81. ^ “Romanian city comes out first in the world in Internet download speed ranking”. Net Index. 3 tháng 7 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  82. ^ “Traian Vuia in a Century of Aviation”. Truy cập 7 de agosto de 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |publicadopor= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |página= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  83. ^ Ad Astra biên tập (2002). “Science in post-communist Romania” (PDF). Truy cập 6 de setembro de 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |autor= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  84. ^ “Laserul de la Magurele: Institutul de Cercetare pentru Fizica si Inginerie Nucleara a semnat contractul de 66 milioane euro pentru realizarea Sistemului Fascicul Gamma - Esential”. Truy cập 15 de agosto de 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |publicadopor= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  85. ^ “Bulgaria: Science fortunes of Balkan neighbours diverge – Novinite.com – Sofia News Agency”. 13 de janeiro de 2011. Truy cập 14 de março de 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |publicadopor= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  86. ^ “Science fortunes of Balkan neighbours diverge: Nature News”. Truy cập 14 de março de 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |publicadopor= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  87. ^ “Funeriu: Stiinta din Romania 'se imbunatateste', insa mai sunt multe lucruri de facut”. 13 de janeiro de 2011. Truy cập 14 de março de 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |publicadopor= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  88. ^ “Romania is to sign agreement on joining European space agency convention”. 20 de janeiro de 2011. Truy cập 14 de março de 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |publicadopor= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  89. ^ “Presentation”. High Court of Cassation and Justice -—Romania. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. 
  90. ^ “Romanian Legal system”. CIA Factbook. 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2008. 
  91. ^ “Understanding the WTO – members”. WTO. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  92. ^ a ă â b “Foreign Policy Priorities of Romania for 2008” (bằng tiếng Romanian). Romanian Ministry of Foreign Affairs. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  93. ^ “Background Note: Romania – U.S.-Romanian Relations”. U.S. Department of State. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  94. ^ [1] Lưu trữ 12 May 2009 tại Wayback Machine.
  95. ^ Gabriel Andreescu; Valentin Stan; Renate Weber (30 tháng 10 năm 1994). “Romania'S Relations with the Republic of Moldova”. International Studies (Centre for International Studies). Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. 
  96. ^ “Moldova, Romania open new chapter in bilateral relations”. People's Daily. 29 tháng 4 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  97. ^ “Press conference” (Thông cáo báo chí). Ministry of National Defense of Romania. 21 tháng 1 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. 
  98. ^ “MoND Budget as of 2007” (bằng tiếng Romanian). Ziarul Financiar. 30 tháng 10 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. 
  99. ^ “Romania: 2 soldiers killed, 1 injured in Afghanistan”. Colorado Springs Gazette. Associated Press. 7 tháng 5 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  100. ^ “Romania To Send 450 More Troops To Afghanistan”. Radio Free Europe/Radio Liberty. 21 tháng 12 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  101. ^ Romania ratifies US missile shield agreement. SpaceWar. 6 tháng 12 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  102. ^ “Geografia Romaniei” (bằng tiếng Romanian). descopera.net. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2009. 
  103. ^ a ă “1.8”. Administrative Organisation of Romanian Territory, on December 31, 2005 (PDF) (Bản báo cáo) (bằng tiếng Romania). Romanian National Institute of Statistics. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  104. ^ a ă “Hierarchical list of the Nomenclature of territorial units for statistics – NUTS and the Statistical regions of Europe”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. 
  105. ^ “LEGE nr. 151 din 15 iulie 1998” (bằng tiếng Romanian). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  106. ^ “2011 Regions Population”. INSSE. 4 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2018.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  107. ^ a ă “Population at 20 October 2011” (bằng tiếng Romanian). INSSE. 5 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2018.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)[liên kết hỏng]
  108. ^ “European effort spotlights plight of the Roma”. usatoday. 10. februar 2005. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  109. ^ a ă Official site of the results of the 2002 Census (Bản báo cáo) (bằng tiếng rumænsk). Bản gốc lưu trữ 5. februar 2012. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate=, |accessdate= (trợ giúp)
  110. ^ “German Population of Romania, 1930–1948”. hungarian-history.hu. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2009.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate=, |accessdate= (trợ giúp)
  111. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên hdrstats.undp.org
  112. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên diaspora
  113. ^ “Focus-Migration: Romania”. focus-migration.hwwi.de (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  114. ^ MIGRATION AND ASYLUM IN CENTRAL AND EASTERN EUROPE Lưu trữ 16 September 2015 tại Wayback Machine. European Parliament
  115. ^ “Population on 1 January by age group, sex and country of birth”. Eurostat. 
  116. ^ a ă Stoica, Vasile (1919). The Roumanian Question: The Roumanians and their Lands. Pittsburgh: Pittsburgh Printing Company. tr. 50. 
  117. ^ “2011 census results by native language” (xls). www.recensamantromania.ro, website of the Romanian Institute of Statistics. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2015. 
  118. ^ “IARNA UCRAINEANĂ - Află care sunt localitățile din Maramureș în care se prăznuiesc sărbătorile de iarnă după rit vechi” [Ukrainian winter: find out in which communes of Maramureș are the Winter holidays celebrated by the old calendar], Infomm.ro, truy cập 5. maj 2015  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  119. ^ “Constitutia României”. Cdep.ro. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  120. ^ “Two-thirds of working age adults in the EU28 in 2011 state they know a foreign language” (PDF). Eurostat. 26 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2014.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  121. ^ “Roumanie - Organisation internationale de la Francophonie”. francophonie.org. 
  122. ^ “EUROPEANS AND THEIR LANGUAGES, REPORT” (PDF). Eurostat. 2012. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2014.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  123. ^ http://www.recensamant.ro/pagini/rezultate.html
  124. ^ Harper-Collins Encyclopedia of Catholicism, 1132; Niessen, "The Greek Catholic Church and the Romanian Nation," 59–60
  125. ^ (Report). Recensamant.ro. Truy cập 2008-01-01
  126. ^ "Romania President Approves Europe's "Worst Religion Law"
  127. ^ “Urbanization of Romania: how urban population increased from 3.7 million in 1948 to 12 million in 1989”. Businessday.ro. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2012. 
  128. ^ “Urban Audit”. Urban Audit. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011. 
  129. ^ “Proiect – Zona metropolitana Bucuresti”. Zmb.ro. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  130. ^ “Metropolitan Zone of Bucharest will be ready in 10 years” (bằng tiếng Romanian). Romania Libera. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  131. ^ “Official site of Metropolitan Zone of Bucharest Project” (bằng tiếng Romanian). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  132. ^ Rezultatele finale ale Recensământului din 2011: Bản mẫu:Citat web
  133. ^ “Art. 32 – Dreptul la învățătură”. Constituția României. 
  134. ^ “Misiune”. edu.ro. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2016. 
  135. ^ Rezultate PISA 2012: Aproape 40% dintre elevii romani au dificultati sa citeasca si sa inteleaga un text si pot rezolva doar exercitii de baza la Matematica (Bản báo cáo). Hotnews.ro. 3 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  136. ^ “Over 40pct of Romania’s children struggling with functional literacy | Nine O`Clock”. www.nineoclock.ro-US. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  137. ^ “Romania's brains rank first in Europe, 10th in the world after Math Olympiad” (bằng tiếng Romanian). romania-insider.com. 16 tháng 7 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  138. ^ “Romanian students win four medals, two gold, at the European Girls Mathematical Olympiad”. business-review.eu. 16 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  139. ^ “Romanian students win 32 medals at SEEMOUS International Mathematical Olympiad”. AGERPRES. 11 tháng 3 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  140. ^ “QS World University Rankings 2013”. topuniversities.com. Tháng 10 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp) All four universities are ranked at 700+ which means they are ranked among the 701–800 places.
  141. ^ "Ritli: Ministry of Health budget for 2012 can provide the assistance at least at the level of previous year", Mediafax.ro
  142. ^ "Romania, 4th in Europe in TB", România Liberă
  143. ^ "Our patients vs. theirs: How many hospitals has Romania compared to other EU countries", Wall-Street.ro Acessado em 8 de outubro de 2015.
  144. ^ "Fewer hospital beds for sick Romanians",România Liberă
  145. ^ "Personalul medico-sanitar pe categorii, forme de proprietate, sexe, macroregiuni, regiuni de dezvoltare și județe", Institutul Național de Statistică
  146. ^ "«De profesie: medic în România». Cum încearcă ministrul Nicolăescu să-i țină pe doctori în țară", Adevărul, 2 de abril de 2013
  147. ^ “Cultural aspects”. National Institute for Research & Development in Informatics, Romania. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2008. 
  148. ^ “Mihai Eminescu” (bằng tiếng Romanian). National Institute for Research & Development in Informatics, Romania. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2008. 
  149. ^ Ștefănescu, Alex. (1999). Nichita Stănescu, The Angel with a Book in His Hands (bằng tiếng Romanian). Mașina de scris. tr. 8. ISBN 978-973-99297-4-5. 
  150. ^ “George Enescu, the composer”. International Enescu Society. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  151. ^ “Sounds Like Canada feat. Gheorghe Zamfir”. CBC Radio. 17 tháng 1 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. 
  152. ^ “Gheorghe Zamfir, master of the pan pipe”. Gheorghe Zamfir, Official Homepage. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  153. ^ “Inna Biography”. BBC. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  154. ^ “10 One-Hit Wonders to Be or Not to Be?”. vh1.i. 7 tháng 3 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2014. 
  155. ^ Arsenie, Dan. “Paula Seling despre rezultatul la Eurovision 2010: "Mai bine de atât nu se putea!". EVZ.ro. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  156. ^ “Cannes 2007 Winners”. Alternative Film Guide. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  157. ^ Mike Collett-White (16 tháng 2 năm 2013). “Romanian film "Child's Pose" wins Berlin Golden Bear”. Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  158. ^ “World Heritage Site – Romania”. UNESCO. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2008. 
  159. ^ “Report on the Nominations from Luxembourg and Romania for the European Capital of Culture 2007” (PDF). The Selection Panel for the European Capital of Culture (ECOC) 2007. 5 tháng 4 năm 2004. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. 
  160. ^ “Muzeul National Peles | Site-ul oficial al castelelor Peles si Pelisor”. Peles.ro. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  161. ^ “Castelul Bran”. Viaromania.eu. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  162. ^ “Men's Ranking”. FIFA.com. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2014. 
  163. ^ “What’s the most popular sport in Romania?”. CESport.eu. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2016. 
  164. ^ “Romania ranks 1st at Balkan Athletics Championships”. balkan-athletics.eu. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2015. 
  165. ^ “Legea prin care 24 ianuarie a fost declarată zi liberă nelucrătoare a fost promulgată de Iohannis”. Mediafax (bằng tiếng Romanian). 7 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2016. 
  166. ^ “Iohannis a promulgat legea prin care Vinerea Mare este sărbătoare legală nelucrătoare”. Mediafax (bằng tiếng Romanian). 12 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2018. 
  167. ^ Inteligo. “Din 2017, salariații vor sta acasă și de Ziua Copilului. 1 iunie, inclusă de azi pe lista liberelor legale”. Avocatnet.ro. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết văn hóa, lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

{{template group|title = Thành viên tổ chức