Ruồi xê xê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ruồi xê xê
Tsetse head-proboscis.jpeg
Ruồi xê xê
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Arthropoda
Lớp (class)Insecta
Bộ (ordo)Diptera
Phân nhánh động vật (subsectio)Calyptratae
Liên họ (superfamilia)Hippoboscoidea
Họ (familia)Glossinidae
Theobald, 1903
Chi (genus)Glossina
Wiedemann, 1830
Range of the tsetse fly
Range of the tsetse fly
Species groups
  • morsitans ("savannah" species)
  • fusca ("forest" species)
  • palpalis ("riverine" species)

Ruồi xê xê hay ruồi tse-tse/Tsetse (Danh pháp khoa học: Glossina là một loài ruồi vùng nhiệt đới châu Phi thuộc Họ Glossinidae trong liên họ Hippoboscoidea, trong đó chỉ có một chi bao gồm các loài ruồi xê rê ở châu Phi mang và truyền bệnh, đặc biệt là chứng ngủ thiếp khi châm vào người và động vật. Chúng chủ yếu thấy ở châu Phi.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Ruồi có hình dạng ương tự các loại ruồi lớn khác. Loại ruồi này có một chiếc vòi luôn duỗi thẳng ra phía trước khi không chích. Là động vật hút máu, sống bằng máu con người và các loài động vật khác, vòi của chúng được sử dụng để hút máu cả người và động vật. Có thể sinh sản đến 4 lần trong năm. Sau khi giao phối, trứng sẽ nở và ở lại trong người con cái trong khoảng từ 9 đến 10 ngày trước khi chúng từ ấu trùng nở thành nhộng.

Truyền bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ruồi xê xê là tác nhân truyền bệnh buồn ngủ gây chết người và lây lan bởi trùng tripanosoma (trùng mũi khoan). Khi bị ruồi xê xê châu Phi đốt, nạn nhân có triệu chứng cúm, mệt mỏi, sốt, đau đầu nghiêm trọng, sưng tấy và trong nhiều trường hợp sốt cao, nói lắp và động kinh sau đó là buồn ngủ và hôn mê sâu. Các vết cắn của ruồi ảnh hưởng đến gần nửa triệu người mỗi năm, trong đó có người bị chết do bệnh ngủ. Bệnh ngủ là một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất ở châu Phi.

Hiểm hoạ của đói nghèo[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Phi hoang dã bị hủy diệt được nhìn thấy trong các bộ phim tài liệu về động vật hoang dã được hình thành vào thế kỷ 19 bởi bệnh tật, một sự kết hợp giữa dịch bệnh gia súcruồi tsetse.

Năm 1887, vi rút về bệnh dịch gia súc vô tình được lây tuyền ra vật nuôi do một lực lượng viễn chinh Ý đến Eritrea.

Nó lây lan nhanh chóng tới Ethiopia vào năm 1888, bờ biển Đại Tây Dương vào năm 1892, và Nam Phi vào năm 1897. Bệnh dịch ở Trung Á, đã giết chết hơn 90% gia súc của những người mục vụ như Masai ở phía đông châu Phi. Không có khả năng miễn dịch tự nhiên, phần lớn gia súc - khoảng 5,5 triệu gia súc - đã chết ở miền nam châu Phi.

Các mục sư bị bỏ lại không có động vật, nguồn thu nhập của họ; nông dân đã bị tước đoạt gia súc để cày và tưới tiêu. Đại dịch trùng với thời kỳ hạn hán, gây ra nạn đói lan rộng. Người chết đói đã chết vì bệnh đậu mùa, bệnh tả, thương hàn và bệnh tật từ châu Âu. Người ta ước tính rằng hai phần ba người Masai mất năm 1891.

Vùng đất này bị bỏ trống, tạo điều kiện cho các cường quốc ĐứcAnh tiếp quản TanzaniaKenya với ít nỗ lực kháng cự.

Với chăn nuôi giảm đáng kể, đồng cỏ biến thành bụi rậm. Cây cỏ cắt tỉa chặt đã được thay thế trong một vài năm bằng đồng cỏ và gai rừng, môi trường sống lý tưởng cho ruồi tsetse. Các quần thể thú hoang dã tăng nhanh, kèm theo ruồi tsetse. Đông Phi vốn không có ruồi tsetse đã bị xâm hại bởi dịch bệnh, kèm theo bệnh ngủ, cho đến lúc đó chưa được biết đến trong khu vực. Hàng triệu người đã chết vì căn bệnh này vào đầu thế kỷ 20.

Các khu vực bị chiếm đóng bởi ruồi tsetse phần lớn bị cấm để chăn nuôi. Bệnh ngủ được gọi là "cai ngục trò chơi tốt nhất ở châu Phi".

Giải pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tsetse ruồi được coi là một nguyên nhân chính gây ra đói nghèo ở nông thôn ở vùng cận Sahara châu Phi vì chúng ngăn chặn canh tác hỗn hợp.

Đất bị nhiễm ruồi tsetse thường được trồng bởi những người sử dụng cuốc thay vì động vật hiệu quả hơn vì nagana, bệnh truyền qua tsetse sẽ làm suy yếu và thường giết chết những con vật này.

Những con bò sống sót sản xuất ít sữa, bò cái mang thai thường hủy bỏ bê của chúng, và phân không có sẵn để bón phân cho đất bị mòn.

Tsetse bay từ Burkina Faso Bệnh nagana hay trypanosomiasis gây suy giảm sức khỏe dần dần ở gia súc bị nhiễm bệnh, làm giảm sản lượng sữa và thịt, làm tăng tỷ lệ sẩy thai, và động vật cuối cùng không chịu nổi bệnh (số ca tử vong hàng năm do nó gây ra ước tính khoảng 3 triệu).

Điều này có tác động rất lớn đến sinh kế của nông dân sống ở các khu vực bị nhiễm khuẩn, vì động vật bị nhiễm bệnh không thể được sử dụng để cày xới đất, và nuôi gia súc chỉ khả thi khi động vật được giữ trong điều trị dự phòng liên tục với thuốc trypanocidal, thường các vấn đề liên quan đến kháng thuốc, thuốc giả, và liều tối ưu. Tổng tiềm năng mất mát trực tiếp hàng năm trong chăn nuôi và sản xuất cây trồng ước tính khoảng 4,5 tỷ USD.

Tsetse bay trong gần 10.000.000 kilômét vuông (4.000.000 sq mi) ở vùng cận Sahara châu Phi (phần lớn là rừng nhiệt đới ẩm) và nhiều phần của khu vực rộng lớn này là mảnh đất phì nhiêu không được cải tạo - một cái gọi là sa mạc xanh, không được con người sử dụng và gia súc. Hầu hết 37 quốc gia bị nhiễm tsetse đều nghèo, nợ nần, và kém phát triển. Trong số 39 quốc gia bị nhiễm, 32 quốc gia có thu nhập thấp, thiếu lương thực, 29 quốc gia kém phát triển nhất, và 30 quốc gia nằm trong số 40 nước nghèo mắc nợ nặng nề nhất.

Ngoài tác động trực tiếp này, sự hiện diện của tsetse và trypanosomiasis không cho việc sử dụng gia súc lai và bò lai hiệu quả hơn, làm giảm sự tăng trưởng và ảnh hưởng đến sự phân bố quần thể vật nuôi, làm giảm cơ hội tiềm năng cho chăn nuôi và trồng trọt.

Tsetse ruồi truyền bệnh tương tự cho con người, được gọi là trypanosomiasis Châu Phi - trypanosomiasis ở người châu Phi (HAT) hoặc bệnh ngủ. Ước tính khoảng 70 triệu người ở 20 quốc gia có mức độ rủi ro khác nhau và chỉ có 3-4 triệu người được giám sát tích cực.

Chỉ số DALY (tuổi thọ được điều chỉnh theo tàn tật), một chỉ số để định lượng gánh nặng bệnh tật, bao gồm tác động của cả thời gian mất đi do chết sớm và thời gian sống chung với tình trạng khuyết tật. Gánh nặng bệnh ngủ hàng năm ước tính khoảng 2 triệu DALY.

Vì bệnh có xu hướng ảnh hưởng đến người lớn hoạt động kinh tế, tổng chi phí cho một gia đình có bệnh nhân là khoảng 25% thu nhập của một năm.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dữ liệu liên quan tới Ruồi xê xê tại Wikispecies
  • Maudlin, I., Holmes, P.H. & Miles M.A. (2004) "The Trypanosomiases" CAB International.
  • Buxton, P. (1955) The Natural History of Tsetse Flies: An Account of the Biology of the Genus Glossina (Diptera). London, UK: H.K. Lewis & Co.
  • Glasgow, J. (1963) The Distribution and Abundance of Tsetse International Series of Monographs on Pure and Applied Biology, No. 20. Oxford, UK: Pergamon Press.
  • Mulligan, H. & Potts, W. (1970) The African Trypanosomiases London, UK: George Allen and Unwin, Ltd.
  • Ford, J. (1971) The Role of the Trypanosomiases in African Ecology. Oxford, UK: Clarendon Press.
  • Leak, S. (1998) Tsetse Biology and Ecology: Their role in the Epidemiology and Control of Trypanosomiasis. New York, NY, USA: CABI Publishing. book site
  • McKelvey Jr., J. (1973) Man Against Tsetse: Struggle for Africa. Ithaca, NY, USA: Cornell University Press.
  • Ruồi xê xê truyền bệnh buồn ngủ gây chết người

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]