Ruộng muối

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ruộng muối là khoảnh đất thấp và phẳng dùng để khai thác muối từ nước biển hoặc nước mặn.

Năng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Ruộng muối ở Marakkanam, Ấn Độ

Ở Việt Nam vùng ven biển người dân thường đào ao hoặc hồ cạn làm "đùng"[1] rồi thông cho nước biển chảy vào đầy, sau đó đóng lại. Cạnh bên đùng thì làm hai cấp sân, thấp dần khoảng 15 cm. Mỗi sân đều san phẳng, đắp bờ chia ô vuông vắn; mỗi ô là 4 m x 10 m. Đó là ruộng muối.

Khi làm muối thì tát nước từ đùng lên sân trên cho đầy. Đợi khoảng năm ngày thì tháo nước cho trút xuống sân dưới. Mỗi khi sân dưới gần cạn nước vì nước bốc hơi thì lại tháo nước từ sân trên xuống. Cứ châm liên tiếp mỗi dăm ngày đến khoảng một tháng thì sân trên sẽ cạn và muối đóng thành hột. Người làm muối theo đó gạt muối lên, đánh thành gò cho khô thì xúc lên đem bán. Muối dùng để ăn và làm nước mắm.

Năng suất ruộng muối cổ truyền theo cách làm muối trên thì mỗi ô có thể sản xuất 500 kg muối/tháng.[1]

Năm 1953 trước khi Việt Nam bị chia đôi thì sản lượng muối là hơn 106.000 tấn. Lượng tiêu thụ quốc nội chỉ chiếm 1/3, phần còn lại đem xuất cảng.[1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c Phan Xuân Hòa. Việt Nam gấm vóc. Paris: Institut de l'Asie du Sud-est, 1960. tr 298-9.