Russian Alsos

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Các nhà khoa học người Đức đang được hồi hương trở về nước từ Sukhumi, tháng 2 năm 1958

Soviet Alsos hoặc Russian Alsos là tên ký hiệu của chiến dịch đặc biệt của Liên Xô tiến hành vào năm 1945-1946 trên lãnh thổ Đức, Áo, và Tiệp Khắc, nhằm khám phá các cơ sở liên quan đến chương trình hạt nhân của Đức Quốc Xã, vật liệu hạt nhân, và các nhà khoa học hạt nhân của Đức. Từ đó giúp đẩy nhanh tiến độ của chương trình hạt nhân của Liên Xô.

Các nhà khoa học hạt nhân của Liên Xô đã được giúp đỡ nhờ hoạt động gián điệp của Liên Xô trong Dự án Manhattan, cuối cùng đã có thể chế tạo quả bom nguyên tử đầu tiên của họ mà không cần phụ thuộc vào công nghệ và các nhà khoa học Đức. Tuy nhiên những đóng góp của các nhà khoa học Đức đã được ghi nhận qua rất nhiều Giải thường Liên Xô cùng với các giải thưởng khác sau khi Liên Xô thử thành công quả bom nguyên tử thứ 2 của mình. Các nhà khoa học Đức cũng giúp đỡ Liên Xô trong việc sản xuất uranium và tách đồng vị. Những đóng góp của các nhà khoa học nguyên tử Đức cùng với các tài liệu liên quan đến chương trình hạt nhân của Đức đã khiến Liên Xô tiết kiệm khoản tiền nghiên cứu đáng kể.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối và sau chiến tranh thế giới 2, cả Liên Xô và Đồng minh phương Tây đều có những chiến dịch để thu thập tin tức, tài liệu kỹ thuật của người Đức, cùng với đó là đưa các nhà khoa học Đức về nước mình qua các chiến dịch Cái kẹp giấy [1][2][3] của Mỹ. Đối với Liên Xô, họ triển khai các nhà khoa học theo sát các lực lượng quân sự tuyến đầu để có thể thu thập các tài liệu kỹ thuật của Đức. Trong lĩnh vực kỹ thuật hạt nhân, người Mỹ đã triển khai Chiến dịch Alsos và Liên Xô cũng có chiến dịch tình báo tương tự.[4]

Đội đặc nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 18/9/1944, một sắc lệnh được ký qua đó thành lập một đội đặc nhiệm nằm trong biên chế của NKVD để hỗ trợ trong việc thuyết phục các nhà khoa học Đức sang phục vụ cho Liên Xô. Trưởng nhóm là Trung tướng Avram Pavlovich Zavenyagin.[5][6]

Ngày 23/3/1945, tại phòng làm việc của Stalin, Lavrentiy Beria đã đề xuất lập một đội đặc biệt gồm có các nhà khoa học để gửi đến Đức để nghiên cứu về kỹ thuật hạt nhân và các nhà khoa học của Đức. Ngay hôm sau, Beria đã chỉ đạo Igor' Vasil'evich Kurchatov, khi đó đang là giám đốc của phòng thí nghiệm số 2,[7] lập danh sách các nhà khoa học hạt nhân Liên Xô để chuẩn bị sang Đức, Áo, và Tiệp Khắc để thu thập thông tin công nghệ hạt nhân. Ngay ngày hôm đó, Beria cũng đã ký một chỉ thị bổ nhiệm cấp phó của mình, Zavenyagin, phụ trách hoạt động xác định vị trí và đưa về Liên Xô các nhà khoa học nguyên tử Đức hoặc bất kỳ người nào khác có thể sử dụng cho dự án bom nguyên tử của Liên Xô. Theo đó, nhóm sẽ hoạt động cùng với lực lượng phản gián đặc biệt SMERSH của quân đội. Lev Andreevich ArtsimovichYulij Borisovich Khariton là hai nhà khoa học chịu trách nhiệm cố vấn cho chương trình. Trong khi toàn bộ các nhà khoa học còn lại thuộc viện nghiên cứu số 2 về nguyên tử của Liên Xô, được gửi sang Đức.[8][9]

Nhóm chính-hoạt động tại Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Trận đánh Berlin là một trong những trận đánh lớn nhất trong Chiến tranh thế giới 2 tại chiến trường châu Âu. Berlin cũng là nơi tập trung các cơ sở sản xuất, trung tâm nghiên cứu ở vùng ngoại ô, nên đây cũng là mục tiêu chính để nhóm thu thập tinh tức tình báo về chương trình hạt nhân của Đức. Việc thu thập phải diễn ra khẩn trương do quân đội Hoa Kỳ đang tiến gần tới Berlin. Các đơn vị Hồng quân Liên Xô đã phá vỡ bức tường phòng thủ Berlin vào ngày 25/4/1945,[6] và Berlin thất thủ ngày 2/5. Nhóm thu thập tin tức tình báo chính, dẫn đầu bởi Thượng tướng Zavenyagin đã đến Berlin vào ngày 3/5; bao gồm Thượng tướng V. A. Makhnjov, và nhà khoa học hạt nhân Yulij Borisovich Khariton, Isaak Konstantinovich Kikoin, và Lev Andreevich Artsimovich. Mục tiêu ưu tiên hàng đầu của cả nhóm nghiên cứu là Kaiser-Wilhelm Institut für Physik (KWIP, Viện nghiên cứu vật lý Kaiser Wilhelm), Đại học Berlin, và Technische Hochschule Berlin.[10]

Tuy nhiên, viện nghiên cứu vật lý Kaiser Wilhelm trước đó phần lớn đã được chuyển đến Hechingen trong giai đoạn 1943-1944, khu vực rìa Black Forest, mà bây giờ thuộc vùng kiểm soát của người Pháp. Điều này tạo vận may cho người Mỹ khi họ dễ dàng tiếp cận với một lượng lớn các nhà khoa học hạt nhân người Đức (Xem thêm Sứ mệnh AlsosChiến dịch Epsilon). Phân viện duy nhất vẫn còn nằm ở Berlin là phân viện nghiên cứu vật lý nhiệt độ thấp, do Ludwig Bewilogua đứng đầu.[11]

Các nhà khoa học Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Von Ardenne, Hertz, Thiessen, and Volmer[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà vật lý Manfred von Ardenne, giám đốc của phòng thí nghiệm Forschungslaboratorium für Elektronenphysik,[12] Gustav Ludwig Hertz, người từng đoạt giải Nobel Vật Lý và là giám đốc của Phòng thí nghiệm Siemens II tại Berlin-Siemensstadt, Peter Adolf Thiessen, giáo sư tại Đại học Friedrich-Wilhelms (nay là Đại học Humboldt Berlin) và giám đốc của Kaiser-Wilhelm-Institut für physikalische Chemie und Elektrochemie (KWIPC Viện Hóa Lý và Hóa Điện tử Kaiser Wilhelm), và Max Volmer, giáo sư, giám đốc Viện Hóa Lý của Đại học Kỹ thuật Berlin, đã ký một bản giao kèo, rằng nếu có người nào đó liên lạc với người Nga thì sẽ phải nói với cả nhóm còn lại. Bản giao kèo có 3 ý chính: (1) Ngăn chặn việc cướp bóc xảy ra ở các viện nghiên cứu, (2) Tiếp tục công việc nghiên cứu mà họ đang làm với điều kiện bị gián đoạn tối thiểu, và (3) Đảm bảo bảo vệ họ khỏi các khởi tố do các công việc trước đây họ từng thực hiện cho Đức Quốc Xã.[13] Trước khi chiến tranh kết thúc, Thiessen, một thành viên của Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên cũng có liên lạc với phe Cộng sản.[14] Ngày 27/4/1945, Thiessen tới Viện nghiên cứu của von Ardenne trên xe thiết giáp cùng với một vị tướng Hồng quân, người đồng thời cũng là một nhà hóa học hàng đầu của Liên Xô, và họ đã gửi cho Manfred von Ardenne một bức thư niêm phong (Schutzbrief).[15][16]

Thượng tướng Makhnjov cùng với Artsimovich, Flerov, Kikoin, và Migulin đến viện von Ardenne vào ngày mùng 10. Sau khi kết thúc cuộc họp, tướng Makhnjov đã đề nghị Ardenne tiếp tục công việc nghiên cứu của mình tại Liên Xô, Ardenne đã chấp nhận đề nghị của vị tướng Liên Xô. Ngày 19/5, Zavenyagin thông báo với Ardenne rằng chính phủ Liên Xô đề nghị ông lên làm lãnh đạo viện nghiên cứu vật lý và tiếp tục công việc nghiên cứu của mình. Hai ngày sau, Ardenne cùng với vợ, bố dượng, và thư ký riêng Elsa Suchland, cùng với nhà sinh học Wilhelm Menke, đáp chuyến bay tới Moskva. Ngay sau đó, những thành viên còn lại trong gia đình Ardenne và các tài liệu từ phòng thí nghiệm của ông[17] cũng được chuyển đến Liên Xô.[18][19][20]

Von Ardenne sau khi sang Liên Xô đã lập nên viện nghiên cứu hạt nhân Institute A,[21] đặt tại Sinop,[22][23] ngoại ô Sukhumi. Trong buổi gặp đầu tiên với Lavrentij Beria, von Ardenne được yêu cầu tham gia vào phát triển bom, nhưng von Ardenne nhanh chóng nhận ra rằng việc tham gia vào dự án sẽ khiến ông sau này khó có thể trở về quê hương, vì vậy ông xin tham gia vào quy trình làm giàu uranium và được đồng ý. Các mục tiêu nghiên cứu của Institute A của Ardenne bao gồm:

(1) Phân tách đồng vị phóng xạ bằng điện từ trường, với von Ardenne làm chủ nhiệm dự án,

(2) Kỹ thuật sản xuất các tường rào xốp sử dụng để phân tạch đồng vị phóng xạ, với Peter Adolf Thiessen làm chủ nhiệm,

(3) Kỹ thuật hạt nhân trong phân tách đồng vị uranium, với Max Steenbeck là chủ nhiệm; Steenbeck là đồng nghiệp của Hertz tại Siemens. Trong khi Steenbeck phát triển lý thuyết về quá trình tách đồng vị ly tâm, Gernot Zippe, một nhà vật lý hạt nhân người Áo, từng tham gia chương trình hạt nhân của Đức đứng đầu bộ phận thử nghiệm của Steenbeck.[24] Dù cho đã được phát triển từ cách 2 thập kỷ nhưng ngày nay công trình phát triển máy siêu ly tâm (máy ly tâm của Zippe).[23][25]

KWIPC là viện duy nhất của Kaiser-Wilhelm Gesellschaft which had not been moved out of Berlin in 1943 or 1944. Thiessen and a dozen of his most important colleagues were sent to the Soviet Union. At Institute A, Thiessen became leader for developing techniques for manufacturing porous barriers for isotope separation.[11][26]

All of the equipment from Hertz's laboratory and his personnel were taken to the Soviet Union. Hertz was made head of a new institute created for him, Institute G, in Agudseri (Agudzery),[22][23] about 10 km southeast of Sukhumi and a suburb of Gul'rips (Gulrip'shi). Topics assigned to Institute G included: (1) Separation of isotopes by diffusion in a flow of inert gases, for which Gustav Hertz was the leader, (2) Development of a condensation pump, for which Justus Mühlenpfordt was the leader, (3) Design and build a mass spectrometer for determining the isotopic composition of uranium, for which Werner Schütze was the leader, (4) Development of frameless (ceramic) diffusion partitions for filters, for which Reinhold Reichmann was the leader, and (5) Development of a theory of stability and control of a diffusion cascade, for which Heinz Barwich was the leader.[27][28]

Volmer was initially assigned to Institute G. Late in January 1946, Volmer was assigned to the Nauchno-Issledovatel'skij Institut-9 (NII-9, Scientific Research Institute No. 9),[29] in Moscow; he was given a design bureau to work on the production of heavy water. Volmer's group with Victor Bayerl (physical chemist) and Gustav Richter (physicist) was under Alexander Mikailovich Rosen, and they designed a heavy water production process and facility based on the counterflow of ammonia. The installation was constructed at Norilsk and completed in 1948, after which Volmer's organization was transferred to Zinaida Yershova's group, which worked on plutonium extraction from fission products.[30]

Nikolaus Riehl[sửa | sửa mã nguồn]

From 1939 to 1945, Nikolaus Riehl was the director of the scientific headquarters of the Auergesellschaft in Rheinsberg (Brandenburg). In 1939, he realized that the large stocks of "waste" uranium from the corporation's extraction of radium, had potential for nuclear energy. He worked with the Heereswaffenamt (HWA, Army Ordnance Office) which eventually provided an order for the production of uranium oxide, which took place in the Auergesellschaft plant in Oranienburg, north of Berlin.[31][32][33]

Near the close of World War II, as American, British, and Soviet military forces were closing in on Berlin, Riehl and some of his staff moved to a village west of Berlin, to try and assure occupation by British or American forces. However, in mid-May 1945, with the assistance of Riehl's colleague Karl Günter Zimmer, the Soviet nuclear physicists Georgy Flerov and Lev Artsimovich showed up one day in NKVD colonel's uniforms. The two colonels requested that Riehl join them in Berlin for a few days, where Riehl met with nuclear physicist Yulii Borisovich Khariton, also in the uniform of an NKVD colonel. Riehl was detained at the search team's facility in Berlin-Friedrichshagen for a week. This sojourn in Berlin turned into 10 years in the Soviet Union. Riehl and his staff, including their families, were flown to Moscow on 9 July 1945.[34][35][36]

From 1945 to 1950, Riehl was in charge of uranium production at Plant 12 in Ehlektrostal' (Электросталь[37]).[38] After the detonation of the Soviet uranium bomb, uranium production was going smoothly and Riehl's oversight was no longer necessary at Plant No. 12. Riehl then went, in 1950, to head an institute in Sungul', where he stayed until 1952. Essentially the remaining personnel in his group were assigned elsewhere, with the exception of H. E. Ortmann, A. Baroni (PoW), and Herbert Schmitz (PoW), who went with Riehl. However, Riehl had already sent Born, Catsch, and Zimmer to the institute in December 1947. The institute in Sungul' was responsible for the handling, treatment, and use of radioactive products generated in reactors, as well as radiation biology, dosimetry, and radiochemistry. The institute was known as Laboratory B, and it was overseen by the 9th Chief Directorate of the NKVD (MVD after 1946), the same organization which oversaw the Soviet Alsos operation. The scientific staff of Laboratory B – a ShARAShKA – was both Soviet and German, the former being mostly political prisoners or exiles, although some of the service staff were criminals.[39][40] (Laboratory V, in Obninsk, headed by Heinz Pose, was also a sharashka and working on the Soviet atomic bomb project. Other notable Germans at the facility were Werner Czulius, Hans Jürgen von Oertzen, Ernst Rexer, and Carl Friedrich Weiss.[41])

Laboratory B was known under another cover name[42] as Объект 0211 (Ob'ekt 0211, Object 0211), as well as Object B.[43][44][45][46] (In 1955, Laboratory B was closed. Some of its personnel were transferred elsewhere, but most of them were assimilated into a new, second nuclear weapons institute, Scientific Research Institute-1011, NII-1011, today known as the Russian Federal Nuclear Center All-Russian Scientific Research Institute of Technical Physics, RFYaTs–VNIITF. NII-1011 had the designation предприятие п/я 0215, i.e., enterprise post office box 0215 and Объект 0215; the latter designation has also been used in reference to Laboratory B after its closure and assimilation into NII-1011.[47][48][49][50])

One of the prisoners in Laboratory B was Riehls' colleague from the KWIH, N. V. Timofeev-Resovskij, who, as a Soviet citizen, was arrested by the Soviet forces in Berlin at the conclusion of the war and eventually sentenced to 10 years in the Gulag. In 1947, Timofeev-Resovskij was rescued out of a harsh Gulag prison camp, nursed back to health, and sent to Sungul' to complete his sentence, but still make a contribution to the Soviet atomic bomb project. At Laboratory B, Timofeev-Resovskij headed a biophysics research department.[39][40][50]

Until Riehl's return to Germany in June 1955, which Riehl had to request and negotiate, he was quarantined in Agudseri (Agudzery) starting in 1952. The home in which Riehl lived had been designed by Volmer and had been previously occupied by Hertz, when he was director of Laboratory G.[51]

Karl-Hermann Geib[sửa | sửa mã nguồn]

In 1946, Max Vollmer proposed a new method of heavy water production and was transferred from Institute G to NII-9 in Moscow, whereupon the Soviet Union deported en masse from Leunawerke, at 4:15 a.m. on 21 October 1946, all former Nazi Germany heavy water scientists, including Karl-Hermann Geib who, in parallel with Jerome S. Spevack, in 1943, invented the Girdler sulfide process for filtering out of natural water the heavy water used in particle research that is still used today.[52][không khớp với nguồn] After applying to the Canadian Embassy in Moscow for asylum (exact date classified) giving the name of Professor E. W. R. Steacie as a reference, Geib was told to come back the next day. That was the last time he was seen and his wife in Germany received his effects in the mail.[53]

Other personnel[sửa | sửa mã nguồn]

Few of the scientists sent to the Soviet Union by Zavenyagin in the first six weeks complained.[33] Take the case of Heinz Barwich. In addition to his leftist political views, he stated that he was motivated to go to work in the Soviet Union as he was 33 years old, married, had three small children with a fourth on the way, and unemployed.[54]

Ludwig Bewilogua, head of the KWIP's low temperature physics section, had remained behind and in charge of the exponential uranium pile after the other sections were moved to Hechingen. He, his staff, and the entire facility contents were taken to the Soviet Union. Other scientists sent to the Soviet Union included Robert Döpel (atomic scientist from Leipzig), Wilhelm Eitel (chemist), Reinhold Reichmann (isotope separation, sent to work with Barwich), Gustav Richter (a colleague of Hertz at Siemens and assigned to heavy water production at NII-9), W. Schütze (isotope separation and cyclotrons) and Karl Günter Zimmer (atomic physicist and biologist from the Kaiser-Wilhelm Gesellschaft Institute for Brain Research in Berlin-Buch[55] and also working with Riehl at Auergesellschaft).[56][57]

To get an appreciation for the numbers eventually sent to the Soviet Union for the Soviet atomic bomb project, Oleynikov cites that by the end of the 1940s, there were nearly 300 Germans working at von Ardenne's Institute A, and they were not the entire workforce at the institute. Nor were the 300 there the total German personnel sent to work on the Soviet atomic bomb project.[58]

Zavenyagin's search teams were aggressive in identifying technology and personnel for use in the Soviet atomic bomb project and sending materiel, equipment, and personnel to the Soviet Union. There can be no doubt that the success of the Soviet "Alsos" influenced the even grander and broader exploitative Operation Osoaviakhim. On the night of 21 October 1946, NKVD and Soviet Army units, commanded by Beria's chief deputy Colonel General Ivan Serov, began rounding up in short order thousands of German scientists and technicians of all types across the Eastern zone, along with their families, and transporting them to the Soviet Union in 92 different trains for work in the Soviet armaments industry.[59]

State prizes[sửa | sửa mã nguồn]

In 1947, Ardenne was awarded a Stalin Prize for his development of a table-top electron microscope. In 1953, before his return to Germany, he was awarded a Stalin Prize, first class, for contributions to the atomic bomb project; the money from this prize, 100,000 Rubles, was used to buy the land for his private institute in East Germany. According to an agreement that Ardenne made with authorities in the Soviet Union soon after his arrival, the equipment which he brought to the Soviet Union from his laboratory in Berlin-Lichterfelde was not to be considered as reparations to the Soviet Union. Ardenne took the equipment with him in December 1954 when he went to East Germany.[60][61]

In 1951, Hertz was awarded a Stalin Prize, second class, with Barwich.[62] Hertz remained in the Soviet Union until 1955, when he went to East Germany.[63] Thiessen received a Stalin Prize, first class, for the development of uranium enrichment technologies.[62] He went to East Germany in the mid-fifties.[64] Riehl was awarded a Stalin Prize (first class), Lenin Prize, and Hero of Socialist Labor. As part of the awards, he was also given a Dacha west of Moscow; he did not use the dacha.[65][66][67] In 1955 he passed through East Germany on his way to West Germany.[68]

Uranium[sửa | sửa mã nguồn]

In the early stages, the Soviet atomic bomb project was in critical need of uranium. In May 1945, the sole atomic laboratory, Laboratory No. 2, only had seven tons of uranium oxide available. The critical nature of their stock can be realized when compared to the amounts needed for their first uranium reactor F-1 and their first plutonium production reactor "A" in the Urals. The first load of F-1 required 46 tons. The first load of reactor "A" required 150 tons.[69]

The Soviet search teams deployed to Germany, Austria, and Czechoslovakia were aware of the Soviet needs for uranium. However, Major General Leslie Groves, the director of the Manhattan Project was also aware of the needs of his effort and that of the Soviet atomic bomb project for uranium. Hence, he arranged for the Alsos Mission to remove 1,200 tons of uranium ore from a salt mine near Stassfurt, an area due to fall within the Soviet occupation zone. This stash turned out to be the bulk of the German stock of uranium ore.[70]

As soon as the Soviet troops occupied Vienna, a search team was sent to Austria. Vladimir Shevchenko, director of Scientific Research Institute No. 9 (NII-9), and atomic scientist Igor' Nikolaevich Golovin from Laboratory No. 2 stayed in Vienna from 13 April to 10 May 1945. In Vienna, they interviewed scientists from the Radium Institute of the Academy of Sciences and from the Second Physical Institute of the University of Vienna. Information collected provided an overview of German organizations involved in the uranium project, including companies potentially engaged in metallic uranium production. In an Auergesellschaft building there, they retrieved 340 kilograms of metallic uranium, a precursor to what would be found in Germany, as indeed Auergesellschaft was a main producer.[15][71]

The Auergesellschaft facility in Oranienburg had nearly 100 metric tons of fairly pure uranium oxide, which a search team found. The Americans had bombed the facility near the end of the war to deny the works to the Soviets. The Soviet Union took this uranium as reparations, which amounted to between 25% and 40% of the uranium taken from Germany and Czechoslovakia at the end of the war. Khariton said the uranium found there saved the Soviet Union a year on its atomic bomb project.[72][73][74][75]

Khariton and Kikoin, not knowing about the find in Oranienburg, started an intensive search of their own. From inspecting a plant in the Grunau district, they learned that the company Rohes had shipped several hundred tons of uranium, but they could not then determine the final destination. While in Potsdam, they determined the name of the head of the Belgian office of Rohes. The services of SMERSh military counterintelligence were used to find and arrest the man and bring him to the two physicists. Under questioning by SMERSh, the man revealed that the uranium was in Neustadt. Unfortunately, there were about 20 towns in Germany with that name, 10 of them were in the Soviet zone of occupation. In Neustadt-Glewe, they found more than 100 tons of uranium oxide. Another major find for the Soviet atomic bomb project.[74]

See also[sửa | sửa mã nguồn]

Notes and references[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Gimbel, 1986, 433–451. The author, in Reference #3 on page 434, points out that the Soviets protested to President Truman about U.S. and British removal in June 1945 of equipment, documents, and personnel from regions which were to fall within the Soviet zone of occupation. General Eisenhower investigated and reported that the Soviets were correct about the removals, but what had been done had exceeded their claims.
  2. ^ Naimark, 1995, 205–207. The author also points out that denying scientific and technical personnel to the Soviets was as much an objective as was acquiring their services for the West.
  3. ^ Gimbel, 1990.
  4. ^ Oleynikov, 2000, 3.
  5. ^ Some sources transliterate Zavenyagin's name as "Zaveniagin", which is not according to the scheme which has a one-to-one transformation of the Russian alphabet into English. The name in Cyrillic is: Завенягин.
  6. ^ a b Oleynikov, 2000, 4.
  7. ^ Laboratory No. 2 was later known as the Kurchatov Institute of Atomic Energy.
  8. ^ Oleynikov, 2000, 4–5.
  9. ^ As cited in Oleynikov, 27, Reference #38: Albrecht, Heinemann-Grüder, and Wellmann, 2001, 48.
  10. ^ Oleynikov, 2000, 5–6.
  11. ^ a b Naimark, 1995, 208–209.
  12. ^ sachen.de Lưu trữ 25 tháng 3 2008 tại Wayback MachineZur Ehrung von Manfred von Ardenne.
  13. ^ Heinemann-Grüder, 2002, 44.
  14. ^ Hentschel, 1996, Appendix F; see the entry for Thiessen.
  15. ^ a b Oleynikov, 2000, 5.
  16. ^ Ardenne, 1997, 222–223.
  17. ^ For a private laboratory, von Ardenne had praiseworthy equipment, which included an electron microscope, a 60-ton cyclotron, and plasma-ionic isotope separation installation. See Oleynikov, 2000, 6–7.
  18. ^ Oleynikov, 2000, 6–7.
  19. ^ Ardenne, 1997, 227–229.
  20. ^ Naimark, 1995, 210.
  21. ^ Institute A was later used as the basis for the Sukhumi Physical-Technical Institute. See Oleynikov, 2000, 12.
  22. ^ a b Oleynikov, 2000, 11–12.
  23. ^ a b c Naimark, 1995, 213.
  24. ^ Zippe, a POW from the Krasnogorsk camp, joined the group in the summer of 1946.
  25. ^ Oleynikov, 2000, 10–11, 22–23, and 26.
  26. ^ Oleynikov, 2000, 11.
  27. ^ Oleynikov, 2000, 12–13 and 18.
  28. ^ Kruglov, 2002, 131.
  29. ^ Today, NII-9 is the Bochvar All-Russian Scientific Research Institute of Inorganic Materials, Bochvar VNIINM. See Oleynikov, 2000, 4.
  30. ^ Oleynikov, 2000, 12–13.
  31. ^ Hentschel and Hentschel, 1996, 369, Appendix F, see the entry for Riehl, and Appendix D, see the entry for Auergesellschaft.
  32. ^ Riehl and Seitz, 1996, 8 and 13.
  33. ^ a b Naimark, 1995, 211.
  34. ^ Riehl and Seitz, 1996, 71–72.
  35. ^ Oleynikov, 2000, 7.
  36. ^ Hentschel and Hentschel, 1996, Appendix F, see the entry for Riehl.
  37. ^ "Электросталь" is sometimes transliterated as "Elektrostal". A one-to-one transliteration scheme transliterates the Cyrillic letter "Э" as "Eh", which distinguishes it from that for the Cyrillic letter "Е" given as "E". Transliterations often also drop the soft sign "ь".
  38. ^ Riehl and Seitz, 1996, 89–104.
  39. ^ a b Riehl and Seitz, 1996, 121–128, and 202.
  40. ^ a b Oleynikov, 2000, 15–17.
  41. ^ Polunin, V. V. and V. A. Staroverov Personnel of Special Services in the Soviet Atomic Project 1945–1953 [In Russian] (FSB, 2004) Lưu trữ 15 tháng 12 2007 tại Wayback Machine.
  42. ^ The Russian people used various types of cover names for facilities to obfuscate both the location and function of a facility; in fact, the same facility could have multiple and changing designations. The nuclear design bureau and assembly plant Arzamas-16, for example, had more than one designation – see Yuli Khariton and Yuri Smirnov The Khariton Version, Bulletin of the Atomic Scientists, 20–31 (May 1993). Some facilities were known by post office box numbers, почтовом ящике (pochtovom yashike), abbreviated as п/я. See Maddrell, 2006, 182–183. Also see Demidov, A. A. On the tracks of one "Anniversary" [In Russian] 11 August 2005, which relates the history changing post office box designations for Arzamas-16.
  43. ^ Timofeev-Resovskij, N. V. Kratkaya Avtobiograficheskaya Zapiska (Brief Autobiographical Note) (14 October 1977) Lưu trữ 30 tháng 6 2012 tại Archive.today.
  44. ^ "Я ПРОЖИЛ СЧАСТЛИВУЮ ЖИЗНЬ" К 90-летию со дня рождения Н. В. Тимофеева-Ресовского ("I Lived a Happy Life") – In Honor of the 90th Anniversary of the Birth of Timofeev-Resovskij, ИСТОРИЯ НАУКИ. БИОЛОГИЯ (History of Science – Biology), 1990, № 9, 68–104 (1990). This commemorative has many photographs of Timofeev-Resovskij.
  45. ^ Ratner, V. A. Session in Memory of N. V. Timofeev-Resovskij in the Institute of Cytology and Genetics of the Siberian Department of the Russian Academy of Sciences [In Russian], Vestnik VOGis Article 4, No. 15 (2000).
  46. ^ Izvarina, E. Nuclear project in the Urals: History in Photographs [In Russian] Nauka Urala Numbers 12–13, June 2000 Lưu trữ 8 tháng 2 2007 tại Wayback Machine.
  47. ^ Sulakshin, S. S. (Scientific Editor) Social and Political Process of Economic Status of Russia [In Russian] 2005[liên kết hỏng].
  48. ^ RFYaTS-VNIITF Creators Lưu trữ 9 tháng 2 2008 tại Wayback Machine – See the entry for УРАЛЕЦ Александр Константинович (URALETs Aleksandr Konctantinovich) [In Russian].
  49. ^ RFYaTS-VNIITF Creators Lưu trữ 9 tháng 2 2008 tại Wayback Machine – See the entry for ТИМОФЕЕВ-РЕСОВСКИЙ Николай Владимирович (TIMOFEEV-RESOVSKIJ Nikolaj Vladimorovich) [In Russian].
  50. ^ a b Penzina, V. V. Archive of the Russian Federal Nuclear Centre of the All-Russian Scientific Research Institute of Technical Physics, named after E. I. Zababakhin. Resource No. 1 – Laboratory "B". [In Russian] (VNIITF Lưu trữ 11 tháng 11 2013 tại Wayback Machine). Penzina is cited as head of the VNIITF Archive in Snezhinsk.
  51. ^ Riehl and Seitz, 1996, 141–142.
  52. ^ Oleynikov, 2000
  53. ^ Waltham, Chris (tháng 8 năm 1998). An Early History of Heavy Water (Bản báo cáo). University of British Columbia. arXiv:physics/0206076.
  54. ^ Barwich and Barwich Das rote Atom (1967) 19–20.
  55. ^ Riehl and Seitz, 1996, 121–122.
  56. ^ Naimark, 1995, 212–213.
  57. ^ Oleynikov, 2000, 13.
  58. ^ Oleynikov, 2000, 10–11.
  59. ^ Naimark, 1995, 220–228, 230, and 250.
  60. ^ Oleynikov, 2000, 18.
  61. ^ Ardenne – Deutsches Historisches Museum.
  62. ^ a b Oleynikov, 2000, 21.
  63. ^ Mehra and Rechenberg, 2001, 197.
  64. ^ “Historical Review of the Fritz-Haber-Institut”. Fritz-Haber-Institut der Max-Planck-Gesellschaft. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2012.
  65. ^ Oleynikov, 2000, 21–22.
  66. ^ Riehl and Seitz, 1996, 103.
  67. ^ Maddrell, 2006, 211.
  68. ^ Riehl and Seitz, 1996, pp. 148–149.
  69. ^ Oleynikov, 2000, 8–9.
  70. ^ Holloway, 1994, 111.
  71. ^ Naimark, 1995, Ref 23 p 523.
  72. ^ Naimark, 1995, 236.
  73. ^ Holloway, 1995, 111.
  74. ^ a b Oleynikov, 2000, 9.
  75. ^ Riehl and Seitz, 1996, 77–79.

Bibliography[sửa | sửa mã nguồn]

  • Albrecht, Ulrich, Andreas Heinemann-Grüder, and Arend Wellmann Die Spezialisten: Deutsche Naturwissenschaftler und Techniker in der Sowjetunion nach 1945 (Dietz, 1992, 2001) ISBN 3-320-01788-8
  • Ardenne, Manfred von Erinnerungen, fortgeschrieben (Droste, 1997) ISBN 3-7700-1088-4
  • Barwich, Heinz and Elfi Barwich Das rote Atom (Fischer-TB.-Vlg., 1984)
  • Gimbel, John Science, Technology, and Reparations: Exploitation and Plunder in Postwar Germany (Stanford University Press, 1990)
  • Gimbel, John U.S. Policy and German Scientists: The Early Cold War, Political Science Quarterly Volume 101, Number 3, 433–451 (1986)
  • Heinemann-Grüder, Andreas Die sowjetische Atombombe (Westfaelisches Dampfboot, 1992)
  • Heinemann-Grüder, Andreas Keinerlei Untergang: German Armaments Engineers during the Second World War and in the Service of the Victorious Powers in Monika Renneberg and Mark Walker (editors) Science, Technology and National Socialism 30–50 (Cambridge, 2002 paperback edition) ISBN 0-521-52860-7
  • Hentschel, Klaus (editor) and Ann M. Hentschel (editorial assistant and translator) Physics and National Socialism: An Anthology of Primary Sources (Birkhäuser, 1996) ISBN 0-8176-5312-0
  • Holloway, David Stalin and the Bomb: The Soviet Union and Atomic Energy 1939–1956 (Yale, 1994) ISBN 0-300-06056-4
  • Kruglov, Arkadii The History of the Soviet Atomic Industry (Taylor and Francis, 2002)
  • Maddrell, Paul "Spying on Science: Western Intelligence in Divided Germany 1945–1961" (Oxford, 2006) ISBN 0-19-926750-2
  • Mehra, Jagdish, and Helmut Rechenberg The Historical Development of Quantum Theory. Volume 1 Part 1 The Quantum Theory of Planck, Einstein, Bohr and Sommerfeld 1900–1925: Its Foundation and the Rise of Its Difficulties. (Springer, 2001) ISBN 0-387-95174-1
  • Naimark, Norman M. The Russians in Germany: A History of the Soviet Zone of Occupation, 1945–1949 (Belknap, 1995)
  • Oleynikov, Pavel V. German Scientists in the Soviet Atomic Project, The Nonproliferation Review Volume 7, Number 2, pp. 1–30, (2000), ISSN 1073-6700, Monterey Institute of International Studies. The author has been a group leader at the Institute of Technical Physics of the Russian Federal Nuclear Center in Snezhinsk (Chelyabinsk-70).
  • Riehl, Nikolaus and Frederick Seitz Stalin's Captive: Nikolaus Riehl and the Soviet Race for the Bomb (American Chemical Society and the Chemical Heritage Foundations, 1996) ISBN 0-8412-3310-1.
  • Max Steenbeck Impulse und Wirkungen. Schritte auf meinem Lebensweg. (Verlag der Nation, 1977)