Bước tới nội dung

Kim Ryeo-wook

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Ryeowook)
Ryeowook
Ryeowook vào năm 2019
SinhKim Ryeo-wook
21 tháng 6, 1987 (38 tuổi)
Incheon, Hàn Quốc
Nghề nghiệp
  • Ca sĩ
  • nhạc sĩ
  • vũ công
  • diễn viên
Phối ngẫu
Ari (cưới 2024)
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụPiano
Năm hoạt động2005–nay
Hãng đĩaSM
Websiteryeowook.smtown.com
Kim Ryeo Wook
Hangul
김려욱
Hanja
金厲旭
Romaja quốc ngữGim Ryeo-uk
McCune–ReischauerKim Ryŏ-uk
Hán-ViệtKim Lệ Húc

Kim Ryeo-wook (sinh ngày 21 tháng 6 năm 1987), thường được biết đến với nghệ danh Ryeowook, là một nam ca sĩ, nhạc sĩ và diễn viên người Hàn Quốc. Anh là một trong 3 giọng ca chính của nhóm nhạc Super Junior, và cũng là thành viên của Super Junior-K.R.YSuper Junior-M, hai nhóm nhỏ của Super Junior. Cùng với 4 thành viên khác của Super Junior, anh trở thành một trong những nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên xuất hiện trên tem thư của Trung Quốc.[1]

Trước khi ra mắt

[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Ryeowook được phát hiện qua CMB Youth ChinChin Festival vào năm 2004 và ký hợp đồng với SM Entertainment ngay sau khi đã gây được ấn tượng mạnh với ban giám khảo bởi khả năng ca hát của mình.[2] Được đào tạo trong lĩnh vực ca hát, nhảy và diễn xuất, Kim Ryeowook đặc biệt chú tâm vào việc luyện thanh và soạn nhạc - hai lĩnh vực mà anh quan tâm nhất.

Sự nghiệp âm nhạc

[sửa | sửa mã nguồn]

2005 đến nay: Super Junior

[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Ryeowook là người cuối cùng gia nhập Super Junior trước Kyuhyun, anh được chỉ định thay thế một thành viên khác chỉ vài tuần trước khi chính thức ra mắt thế hệ đầu của Super Junior - Super Junior 05. Vào ngày 6 tháng 11 năm 2005, Kim Ryeowook đã ra mắt cùng với 11 thành viên khác trong Super Junior 05 trên chương trình ca nhạc Inkigayo của đài SBS với phần biểu diễn đĩa đơn đầu tiên "TWINS (Knock Out)". Nhóm đã phát hành toàn bộ album 1 tháng sau, và album ra mắt này đã xếp vị trí #3 trên bảng xếp hạng album hàng tháng MIAK K-pop.[3] Sau khi ra mắt đĩa đơn thứ 2 "Miracle", công ty đã định chiêu mộ các thành viên mới cho thế hệ thứ hai của Super Junior - Super Junior 06, và vẫn có Ryeowook như 1 thành viên chưa tốt nghiệp của Super Junior. Tuy nhiên, kế hoạch đã thay đổi khi công ty thêm vào nhóm thành viên thứ 13 Kyuhyun, và khẳng định rằng những thế hệ Super Junior tương lai chỉ là lời đồn. Nhóm đã bỏ từ cuối "05" và chính thức trở thành Super Junior. Nhóm mới đã đạt được thành công vang dội sau khi ra mắt đĩa đơn đầu tiên "U" vào mùa hè năm 2006, bản thu đạt #1 đầu tiên của họ. Ngày 20 tháng 9 năm 2007, nhóm phát hành album thứ hai - Don't Don, trở thành album bán chạy thứ hai ở Hàn Quốc trong năm với 164 058 bản.[4]

Ngày 12 tháng 3 năm 2009, album thứ ba của nhóm - Sorry, Sorry ra mắt, trở thành album tiếng Triều Tiên bán chạy nhất tại Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc và Phillippin với tổng số 260 000 bản được bán ra. Trong album này, Kim Ryeowook không chỉ tham gia với tư cách là một giọng ca chính của nhóm, mà còn là một nhạc sĩ với tác phẩm "Love you more" mà anh đã cùng sáng tác với Sungmin- một thành viên khác của nhóm.

Cuối năm 2006, Kim Ryeowook trở thành thành viên của nhóm con đầu tiên, Super Junior KRY. Phân nhóm này ra mắt ngày 5 tháng 11 năm 2006 trên chương trình Music Bank của đài KBS. Đến đầu năm 2008, Ryeowook lại được sắp xếp vào một phân nhóm mới, Super Junior-M, chuyên hát những bài hát tiếng Quan Thoại, gồm cả những bài hát chuyển thể từ tiếng Hàn sang tiếng Trung của Super Junior, đưa ảnh hưởng của K-pop tới ngành công nghiệp âm nhạc Trung Quốc. Nhóm con gồm 7 thành viên này đã ra mắt tại Trung Quốc ngày 8 tháng 4 năm 2008 trong Annual Music Chart Awards lần thứ 8 với single U. Ngày 2 tháng 5 năm 2008, Super Junior-M đã phát hành album tiếng Trung đầu tiên, Me. Đến tháng 9 năm 2009, phân nhóm này đã cho ra mini album đầu tiên có tựa đề "Super Girl" gồm 5 bài với 2 music video là Super girl (ra ngày 14 tháng 9 năm 2009) và Blue tomorrow (ra ngày 7 tháng 11 năm 2009).

Ryeowook cũng hợp tác với K.Will trong bài hát "Teardrops".[5] Ryeowook là thành viên đầu tiên của Super Junior có bài hát solo trong album thứ tư của nhóm là Bonamana với bài One Fine Spring Day.

Hoạt động khác

[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn xuất

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2007, Ryeowook có vai diễn đầu tay trong phim Attack on the Pin-Up Boys, một bộ phim hài gồm chuỗi những sự kiện bí ẩn xảy ra tại trường trung học với sự tham gia của các thành viên Super Junior (trừ Kyuhyun). Anh đóng vai vị phó chủ tịch lập dị của hội học sinh. Vai diễn của Kim Ryeowook nhận được nhiều phản hồi tích cực từ các nhà phê bình và nhận hai đề cử cho hạng mục "Nam diễn viên phụ xuất sắc" và "Diễn xuất hài xuất sắc" của Giải thưởng Điện ảnh Hàn Quốc.

Danh sách đĩa nhạc

[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa mở rộng (EP)

[sửa | sửa mã nguồn]
Nhan đề Chi tiết Vị trí cao nhất Doanh số
Hàn

[6]

Nhật

[7]

Mỹ

[8]

The Little Prince
  • Phát hành: 28 tháng 1 năm 2016
  • Hãng: SM Entertainment
  • Định dạng: CD, tải nhạc số
Danh sách ca khúc
  1. "Like A Star"
  2. "One and Only" (우리의 거리)
  3. "People You May Know"
  4. "POOM"
  5. "Hello"
  6. "Foxy Girl"
1 5
  • Hàn: 44,556[9]
Drunk on Love
  • Phát hành: 2 tháng 1 năm 2019
  • Hãng: SM Entertainment
  • Định dạng: CD, tải nhạc số
Danh sách ca khúc
  1. "I'm Not Over You" (너에게)
  2. "One and Only" (우리의 거리)
  3. "Drunk in the Morning" (취해)
  4. "Without You"
  5. "Something Good"
  6. "Sugar"
  7. "The 2nd Story" (파란별)
2
A Wild Rose
  • Phát hành: May 3, 2022
  • Hãng: SM Entertainment
  • Định dạng: CD, digital download
Danh sách ca khúc
  1. "Bluebird" (파랑새)
  2. "My Dear"
  3. "Everlasting Love" (찬란한 나의 그대)
  4. "Crying"
  5. "To Me" (나에게)
  6. "Angel's Wing"
  7. "Hiding Words" (오늘만은)
7 14
  • Hàn: 28,232[11]
  • Nhật: 1,498 (v.lý)[12]
"—" cho biết tác phẩm không lọt vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở khu vực này.

Đĩa đơn

[sửa | sửa mã nguồn]
Nhan đề Năm Vị trí cao nhất Doanh số

(Tải nhạc)

Album/EP
Hàn

[13]

JPN

[14]

Hàn Quốc
"The Little Prince" 2016 16 The Little Prince
"One and Only" 2018 Drunk on Love
"I'm Not Over You" 2019
"Drunk in the Morning"
"Hiding Words" (오늘만은) 2022 [a] A Wild Rose
"Bluebird" (파랑새)
"It's Okay" 2023 Đĩa đơn không thuộc album
"Lingering" 2023
Nhật Bản
"Sakura no Hana ga Sakukoro"

(桜の花が咲く頃)

2019 22 Đĩa đơn không thuộc album
"Akane Iro ni Somaru Sora no Shita"

(茜色に染まる空の下)[17]

2022
"—" cho biết tác phẩm không lọt vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở khu vực này.

Danh sách phim

[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Tựa đề Vai Ghi chú
2007 Attack on the Pin-Up Boys Ryeowook Phát hành giới hạn tại Hàn Quốc
2010 Super Show 3 3D Bản thân
2012 I AM. - SM Town Live World Tour in Madison Square Garden
2013 Super Show 4 3D

Phim truyền hình

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Kênh Tựa đề Vai Ngôn ngữ
2009 CCTV2 Stage Of Youth Lixu (Khách mời) tiếng Trung

Nhạc kịch

[sửa | sửa mã nguồn]

Ryeowook đã diễn cùng Park Hyungsik (ZE:A) và Lim Jeonghee trong vở nhạc kịch "The temptation of Wolves" (Sự quyến rũ của bầy sói). Vở nhạc kịch này đã bắt đầu công chiếu từ ngày 12 tháng 7 và kéo dài đến ngày 3 tháng 10 năm 2011.

Các vở nhạc kịch khác là: Agatha, The Goddess is watching và kịch nói: The Curious Incident Of the Dog In the Night Time

Soạn nhạc

[sửa | sửa mã nguồn]

Ryeowook đã sáng tác một ca khúc có tên "Memories in Breeze"[18]

Bài hát đầu tiên do Ryeowook sáng tác được tung ra một cách chính thức là "Love U More", nằm trong phiên bản repackaged của Sorry, Sorry Version C. Anh đã sáng tác phần nhạc của bài hát này và cùng viết lời với một thành viên Super JuniorSungmin. Ryeowook cũng được nêu là người sắp xếp (arrangement) bài hát này trong phần chú thích của album.

Giải thưởng và đề cử

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Giải thưởng Hạng mục Tác phẩm đề cử Kết quả TK
2007 Giải thưởng Điện ảnh Hàn Quốc Nam diễn viên phụ xuất sắc Attack on the Pin-Up Boys Đề cử [19]
Diễn xuất hài xuất sắc Đề cử
2012 2011 Golden Ticket Awards Musical Up and Comer Award Temptation of the Wolves Đề cử [20]
2015 KBS Entertainment Awards Radio DJ Award Kiss The Radio Đoạt giải [21]
  1. ^ "Hiding Words" không lọt vào bảng xếp hạng Gaon Digital Chart, nhưng ra mắt ở vị trí thứ 83 trên Gaon Download Chart.[16]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "Super Junior-M xuất hiện trên tem thư". Newsen (bằng tiếng Hàn). ngày 8 tháng 12 năm 2008. tr. 1. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2008.
  2. ^ Lee Sul-young (ngày 4 tháng 6 năm 2009). "디지털케이블TV쇼 개막…케이블TV, 집 밖으로 나오다" [Opening of digital cable TV... Cable TV from houses]. Naver (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2020.
  3. ^ "Doanh số bán album tháng 12 năm 2005". Hiệp hội Công nghiệp thu âm của Hàn Quốc (bằng tiếng Hàn). tr. 1. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2007.
  4. ^ "Super Junior, SG Wananbe hai vị trí đầu bảng album bán chạy nhất 2007". Moneytoday (bằng tiếng Hàn). ngày 12 tháng 12 năm 2007. tr. 1. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2007.
  5. ^ "K WILL TEARDROPS (ft. RYEOWOOK)".
  6. ^ "Gaon Album Chart". Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2019.
    • "The Little Prince". ngày 30 tháng 1 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2019.
    • "Drunk on Love". ngày 5 tháng 1 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2019.
    • "A Wild Rose". ngày 7 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2022.
  7. ^ "A Wild Rose". ngày 23 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2022.
  8. ^ "Ryeowook Chart History - World Albums". Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2019.
  9. ^ 2016년 Album Chart [2016 Album Chart]. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2019.
  10. ^ 2019년 상반기 Album Chart (see #75). Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2019.
  11. ^ 2022년 05월 Album Chart [May 2022 Album Chart]. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2022.
  12. ^ 週間 アルバムランキング 2022年05月23日付 (2022年05月09日~2022年05月15日) [Weekly Album Ranking dated May 23, 2022 (May 9, 2022–May 15, 2022)] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2022.
  13. ^ "Gaon Digital Chart". Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2019.
  14. ^ a b "週間 CDシングルランキング 2019年04月01日付" [Weekly CD Single Ranking for April 1, 2019]. Oricon (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2019.
  15. ^ 2016년 상반기 결산 Download Chart [First half of 2016 Download Chart]. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). tr. 2. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2019.
  16. ^ 2022년 19차 Download Chart. Gaon Music Chart. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2022.
  17. ^ Super Junior リョウク、日本オリジナル曲配信リリース 来月から来日7公演 [Super Junior Ryeowook sẽ phát hành bài hát tiếng Nhật và có 7 buổi biểu diễn tại Nhật Bản bắt đầu từ tháng sau]. Oricon (bằng tiếng Nhật). ngày 19 tháng 10 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2022.
  18. ^ "Ryeowook's Piano Composition - Memories in Breeze. (Một bản nhạc trên piano, không có lời hát)".
  19. ^ Kim Kwan-myung (ngày 14 tháng 10 năm 2007). "'타짜' 조승우 김혜수, 대한민국영화연기대상 남녀주연상 수상". Star News (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
  20. ^ "2011 Golden Ticket Awards". Interpark. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2012.
  21. ^ Kim Hye-in (ngày 26 tháng 12 năm 2015). "[KBS연예대상] 슈퍼주니어 려욱, 라디오DJ상 수상 '이특 대리 수상'" [[KBS Entertainment Awards] Super Junior Ryeowook received the Radio DJ Award, 'award received by Leeteuk']. Korea Economic Daily (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2022 – qua Naver.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]