Bước tới nội dung

Sài Gòn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Sài Gòn là một địa danh tại miền Nam Việt Nam. Trong lịch sử, địa danh này được sử dụng cho nhiều đơn vị hành chính khác nhau. Hiện tại, địa danh này được dùng chính thức để chỉ đến phường Sài Gòn, một đơn vị hành chính cấp xã thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Nguồn gốc

[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng đất này từng được gọi là ព្រៃនគរ, nghĩa đen là "thành trong rừng", theo tiếng Khmer của người dân bản địa.[1] Sách Chân Lạp phong thổ ký (1297) của Chu Đạt Quan có phần nói về các thuộc quận của Chân Lạp, có liệt kê một quận tên Trĩ Côn (tiếng Trung: 雉棍; bính âm: zhìgùn). Có thể đây là cách phiên âm của Sài Gòn.[2] Vì sự sụp đổ của đế chế Khmer, vùng Nam Bộ trở thành đất vô chủ, về sau đã sáp nhập vào Đại Việt nhờ công cuộc khai phá miền Nam của chúa Nguyễn. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập huyện Tân Bình thuộc phủ Gia Định, đánh dấu sự ra đời thành phố. Phủ Gia Định khi đó bao gồm Sài Gòn và các tỉnh xung quanh hiện nay (Tây Ninh, Long An...), còn huyện Tân Bình là chỉ vùng đất Sài Gòn.[3]

Sài Gòn 柴棍 viết trong Phủ biên tạp lục.

Địa danh Sài Gòn có trên 300 năm và từng được dùng để chỉ một khu vực với diện tích khoảng 1 km² (Chợ Lớn) có đông người Hoa sinh sống trong thế kỷ 18. Địa bàn đó gần tương ứng với khu Chợ Lớn ngày nay.[3] Năm 1747, theo danh mục các họ đạo trong Launay, Histoire de la Mission Cochinchine, có ghi chép "Rai Gon Thong" (Sài Gòn Thượng) và "Rai Gon Ha" (Sài Gòn Hạ). Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674, Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ "Lũy Sài Gòn" (theo chữ Hán viết là 柴棍 – "Sài Côn").[1] Đây là lần đầu tiên chữ "Sài Gòn" xuất hiện trong sử liệu của người Việt. Vì họ mượn âm của chữ 棍 – "Côn" được dùng thế cho "Gòn". Nếu đọc theo chữ Nôm là "Gòn", còn đọc theo chữ Hán thì là "Côn". Trong tiếng Trung thì Sài Gòn còn được gọi là "Tây Cống" (chữ Hán: 西貢, bính âm: Xī Gòng, Việt bính: Sai1Gung3).[4] Sau đó, danh xưng Sài Gòn được dùng để chỉ các khu vực nằm trong "lũy Lão Cầm" (năm 1700), "lũy Hoa Phong" (năm 1731) và "lũy Bán Bích" (năm 1772), chỉ với diện tích 5 km². Ngoài ra theo một số nhà nghiên cứu thì Thụ Nại cũng từng là tên gọi của vùng đất Sài Gòn xưa trước khi Nguyễn Hữu Cảnh đến khai phá.[3][5]

Sau khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản chính quyền và quyết định hợp nhất Đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định thành Thành phố Sài Gòn – Gia Định. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Việt Nam tái thống nhất và Quốc hội nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên "Sài Gòn – Gia Định" thành "Hồ Chí Minh", theo tên Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[cần dẫn nguồn]

Những thay đổi trong lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b Sơn Hòa (ngày 1 tháng 5 năm 2016). "Ba lý giải về tên gọi Sài Gòn - VnExpress". Báo điện tử VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2020.
  2. ^ 參見周達觀《眞臘風土記·屬郡》,夏鼐校注,北京中華書局2000年版,172-173頁
  3. ^ a b c Lê Công Sơn (ngày 11 tháng 4 năm 2020). "Sài Gòn từng là địa danh nằm tuốt trong...Chợ Lớn?". Báo Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2020.
  4. ^ Như Châu (ngày 9 tháng 1 năm 2020). "Nguồn gốc và ý nghĩa tên gọi "Sài Gòn"". Báo Văn Nghệ Thái Nguyên. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2020.
  5. ^ Văn Bảy (ngày 3 tháng 4 năm 2014). "Những cung bậc Sài Gòn". thethaovanhoa.vn. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2020.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]