Sân bay Phù Cát

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Sân bay Phù Cát
Cảng hàng không Phù Cát
Phucat2006.jpg
Mã IATA
UIH
Mã ICAO
VVPC
Vị trí
Thành phố Qui Nhơn
Độ cao 24 m ({{{elevation-f}}} ft)
Tọa độ 13°57′18″B 109°02′32″Đ / 13,955°B 109,04222°Đ / 13.95500; 109.04222Tọa độ: 13°57′18″B 109°02′32″Đ / 13,955°B 109,04222°Đ / 13.95500; 109.04222
UIH trên bản đồ Việt Nam
UIH
UIH
Vị trí sân bay ở Việt Nam
Thông tin chung
Kiểu sân bay Dân dụng/quân sự
Cơ quan quản lý Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam
Các đường băng
Hướng Chiều dài (m)) Bề mặt
15/33 3.051 Bê tông
Thống kê (2014)
Số khách 427.000[1]
Nguồn: GCM,[2] STV[3]
Nhà ga cũ tổng thể nhìn từ bên ngoài
Bên trong nhà ga hành khách cũ
Bên trong nhà ga mới được đưa vào khai thác tháng 4 năm 2018

Sân bay Phù Cát mã sân bay IATA: UIH, mã sân bay ICAO: VVPC là một sân bay hỗn hợp quân sự và dân dụng ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, miền Trung Việt Nam. Sân bay này do Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam, một cơ quan của Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam, quản lý.[1] Năm 2014, sân bay này phục vụ 427.000 lượt khách.[1]

Sân bay Phù Cát còn là nơi huấn luyện quân sự và là căn cứ của Trung đoàn không quân 925 thuộc Sư đoàn không quân 372.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bay này được xây năm 1966, lúc đó có tên gọi là Sân bay Gò Quánh, làm căn cứ không quân của Không lực Việt Nam Cộng hoà. Sau năm 1975, sân bay này được bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý và đến tháng 9 năm 1984 thì chuyển thành sân bay hỗn hợp quân sự và dân sự. Sân bay Phù Cát cách trung tâm Quy Nhơn khoảng 30 km về phía tây bắc, tại huyện Phù Cát.[1]

Ngày 17 tháng 1 năm 2015, Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam đã khởi công dự án mở rộng, nâng cấp sân bay Phù Cát thành sân bay quốc tế. Nhà ga hành khách có năng lực phục vụ 600 hành khách giờ cao điểm, công suất thiết kế 1,5 triệu hành khách/năm, có khả năng mở rộng để nâng công suất lên 2,4 triệu hành khách/năm. Dự án hoàn thành đưa vào khai thác giữa năm 2018.[1] Dự án mở rộng sân đỗ đảm bảo 07 vị trí đậu máy bay A320/A321 và tương đương (tăng 3 vị trí đậu máy bay so với trước khi mở rộng). Hệ thống đèn chiếu sáng sân đỗ, đèn hiệu được đầu tư bổ sung, đảm bảo Cảng hàng không Phù Cát có thể khai thác các chuyến bay đêm. Dự án này hoàn thành và đưa vào khai thác trong năm 2015.[1]

Kế hoạch nâng cấp thành sân bay quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam (ACV) đã quyết định đầu tư nâng cấp Sân bay Phù Cát theo hướng sẽ trở thành Cảng hàng không quốc tế với 3 hạng mục chính: mở rộng sân đỗ, xây dựng mới Nhà ga hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế và nâng cấp đường băng.

Theo thiết kế, Nhà ga hành khách gồm 2 tầng, lấy ý tưởng thiết kế từ hình ảnh của Đàn Nam Giao. Tầng 1 có hình vuông tượng trưng cho Đất, tầng 2 có hình tròn tượng trưng cho Trời, ở giữa nhà ga có khoảng trống hình tròn thông suốt từ tầng trệt lên mái nhà ga để hấp thụ trực tiếp ánh sáng và khí trời.

Trên mái của tầng 1 sẽ trồng cỏ và cây xanh làm cho nhà ga mát mẻ vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông, đồng thời tạo cảnh quan và không gian xanh mát cho nhà ga.

Nhà ga hành khách có năng lực phục vụ 600 hành khách giờ cao điểm, công suất thiết kế 2,5 triệu hành khách/năm, có khả năng mở rộng để nâng công suất lên 4 triệu hành khách/năm.

Sau khi mở rộng sân đậu, sân bay Phù Cát sẽ đảm bảo 10 vị trí đậu máy bay A321-200 và tương đương (tăng 3 vị trí so với hiện nay), đáp ứng nhu cầu khai thác trong thời gian tới. Hệ thống đèn chiếu sáng sân đỗ, đèn hiệu được đầu tư bổ sung, đảm bảo Cảng hàng không Phù Cát có thể khai thác các chuyến bay đêm.

Việc mở rộng sân đỗ máy bay đảm bảo kết nối đồng bộ với hệ thống sân đường khu bay đã tính đến việc phát triển mở rộng sân đỗ trong tương lai.

Nhà ga dân dụng mới của sân bay Phù Cát

Các hãng hàng không và tuyến bay[sửa | sửa mã nguồn]

Hãng hàng khôngCác điểm đến
VietJet Air Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh
Vietnam Airlines Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh
Jetstar Pacific AirlinesHà Nội, Tp. Hồ Chí Minh

Thống kê[4][sửa | sửa mã nguồn]

Năm Số hành khách thông qua
2011 220.000
2012 240.000
2013 300.000
2014 427.000
2015 700.000
2016 1.000.000
2017 1.500.000

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]