Sói đài nguyên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sói đài nguyên
Волк 3.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Carnivora
Họ (familia)Canidae
Chi (genus)Canis
Loài (species)C. lupus
Danh pháp hai phần
Canis lupus
Linnaeus, 1753
Danh pháp ba phần
Canis lupus albus

Sói đài nguyên hay sói Turukhan (Canis lupus albus, Cabrera 1907) là một phân loài của sói xám. Loài sói này sinh sống ở đài nguyên Á-Âu và vùng lãnh nguyên rừng từ Phần Lan đến Bán đảo Kamchatka. Phân loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1792 bởi Robert Kerr, người đã mô tả nó là sống xung quanh Yenisei, và có một tấm da có giá trị cao. [3] Nó là một phân loài lớn, với những con đực trưởng thành đo 118–137 cm (46,5–54 in) trong chiều dài cơ thể, và con cái 112–136 cm (44–53,5 in). Mặc dù thường được viết lớn hơn C. l. lupus, điều này là không đúng sự thật, vì các thành viên nặng hơn của phân loài thứ hai đã được ghi lại. Trọng lượng trung bình là 40–49 kg (88–108 lb) đối với nam và 36,6–41 kg (81–90 lb) đối với cá cái. Trọng lượng cao nhất được ghi nhận trong số 500 con sói bị bắt tại bán đảo Taymyr và Bán đảo Kanin trong thời gian 1951-1961 là từ một người đàn ông già bị giết trên Taymyr ở phía bắc sông Dudypta nặng 52 kg (115 lb). Lông rất dài, dày đặc, mịn và mềm, và thường có màu sáng và xám. Lông thấp hơn có màu xám chì và lông trên có màu xám đỏ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]