Sông Công (thành phố)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Sông Công (thị xã))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sông Công
Thành phố trực thuộc tỉnh
150px
Thành phố Sông Công
Địa lý
Diện tích 98,37 km²
Dân số (2015)  
 Tổng cộng 109.409[1]
 Thành thị 83.433 người (2014)
 Nông thôn 25.976 người (2014)
 Mật độ 1.112 người/km² (2015)
Dân tộc chủ yếu là người Kinh
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc
Tỉnh Thái Nguyên
Nâng cấp thành phố 1 tháng 7 năm 2015
Đô thị loại 3 2010
 Chủ tịch UBND Lê Văn Khôi
 Chủ tịch HĐND Lê Văn Khôi
 Bí thư Thành ủy Nguyễn Khắc Lâm
 Trụ sở UBND Đường CMT8, phường Thắng Lợi, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
Phân chia hành chính 7 phường và 4 xã
Website http://songcong.gov.vn

Sông Côngthành phố trực thuộc tỉnh Thái Nguyên. Thành phố Sông Công tiền thân là Thị xã Sông Công được thành lập trên cơ sở thị trấn Mỏ Chè, các xã Cải Đan, Tân Quang và Bá Xuyên của huyện Phổ Yên theo quyết định số 113/HĐBT ngày 11 tháng 4 năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam, ban đầu gồm 3 phường: Lương Châu, Mỏ Chè, Thắng Lợi và 3 xã: Bá Xuyên, Cải Đan, Tân Quang, khi đó thuộc tỉnh Bắc Thái. Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tái lập tỉnh Thái Nguyên từ tỉnh Bắc Thái, thị xã Sông Công trực thuộc tỉnh Thái Nguyên.

Ngày 10 tháng 4 năm 1999, thị xã Sông Công thành lập phường Phố Cò và xã Vinh Sơn theo Nghị định số 18/1999/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam. Cũng theo quyết định này, xã Cải Đan đổi thành phường Cải Đan, xã Bình Sơn thuộc huyện Phổ Yên chuyển về thị xã Sông Công quản lý[2]. Ngày 18 tháng 10 năm 2010, Bộ Xây dựng ban hành quyết định số 925/QĐ-BXD công nhận thị xã Sông Công là đô thị loại III [3]. Ngày 13 tháng 1 năm 2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/NQ-CP giải thể thị trấn nông trường và điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập thị trấn thuộc các huyện Phổ Yên, Đồng Hỷ, Đại Từ; thành lập phường thuộc thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; theo đó, thành lập phường Bách Quang trên cơ sở điều chỉnh 852,5 ha diện tích tự nhiên và 9.260 nhân khẩu của xã Tân Quang [4].

Ngày 15 tháng 5 năm 2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công; thành lập phường thuộc thị xã Sông Công và thành lập thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; theo đó, chuyển giao toàn bộ 1.560,80 ha diện tích tự nhiên và 23.865 nhân khẩu của xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên về thị xã Sông Công quản lý; thành lập phường Lương Sơn thuộc thị xã Sông Công trên cơ sở toàn bộ 1.560,80 ha diện tích tự nhiên và 23.865 nhân khẩu của xã Lương Sơn; thành lập thành phố Sông Công trên cơ sở toàn bộ 9.837,07 ha diện tích tự nhiên và 109.409 nhân khẩu của thị xã Sông Công.

Sông Công là thành phố công nghiệp, trung tâm kinh tế, hành chính, văn hóa - xã hội phía Nam của tỉnh Thái Nguyên; là đầu mối giao thông, giao lưu phát triển kinh tế - xã hội quan trọng của vùng Đông Bắc Bắc Bộ. Với vị trí chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du, Sông Công có các tuyến giao thông quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua nối với Thủ đô Hà Nội ở phía Nam và thành phố Thái Nguyên ở phía Bắc, là điều kiện rất thuận lợi để đẩy mạnh giao thương với các vùng kinh tế Bắc Thủ đô Hà Nội, phía Nam vùng Trung du miền núi phía Bắc mà Trung tâm là thành phố Thái Nguyên và các vùng kinh tế Tam Đảo - Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang. Với lợi thế đặc biệt, Sông Công từ lâu đã được xác định là trung tâm công nghiệp lớn và là đô thị bản lề, trung chuyển kinh tế giữa các vùng trong và ngoài tỉnh Thái Nguyên.

Ngày 1 tháng 7 năm 2015, Sông Công long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 30 năm thành lập thị xã Sông Công, công bố thành lập Thành phố Sông Công và đón nhận huân chương lao động hạng Ba cùng với sự hiện diện của nhiều đại biểu đến từ các thành phố, thị xã trong khu vực miền bắc[5]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Sông Công giáp thành phố Thái Nguyên về phía bắc; giáp Thị xã Phổ Yên về phía Nam. Hướng Đông và Tây giáp thành phố Thái Nguyên, huyện Phú Bình và thị xã Phổ Yên. Thành phố có vị trí khá thuận lợi: cách thủ đô Hà Nội 65 km về phía Bắc, cách thành phố Thái Nguyên 15 km về phía Nam, cách sân bay quốc tế Nội Bài 45 km, cách hồ Núi Cốc 17 km.

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Sông Công hiện có 109.409 nhân khẩu, tập trung ở các đô thị và nhà máy, xí nghiệp.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên đơn vị hành chính Diện tích (ha) Dân số

sau quy đổi (người)

Mật độ dân số (người/km²)
I Khu vực nội thành 4.237,23 83.433 1.969 người/km²
1 P. Mỏ Chè 165,00 10.075 6.181 người/km²
2 P. Thắng Lợi 430,00 12.095 2.813 người/km²
3 P. Lương Châu 230,00 4.154 1.806 người/km²
4 P. Cải Đan 533,00 10.150 1.904 người/km²
5 P. Phố Cò 465,00 12.530 2.695 người/km²
6 P. Bách Quang 852,00 10.564 1.240 người/km²
7 P. Lương Sơn 1552,23 23.865 1.522 người/km²
II Khu vực ngoại thành 5.600,77 25.976 463,8 người/km²
7 Tân Quang 1.106,50 7.890 713,1 người/km²
8 Xã  Bá Xuyên 867,27 5.665 653 người/km²
9 Xã  Vinh Sơn 827,00 3.112 376 người/km²
10 Bình Sơn 2.800,00 9.309 332,46 người/km²
Toàn thành phố 98.3700 109.409 1.112 người/km²

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình tương đối bằng phẳng, mang đặc điểm của miền trung du, nền dốc dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, có nhiều ngọn cao vài trăm mét. Nơi cao nhất trong khu vực nội thành là ngọn núi Tảo (54 m), cao độ nền trung bình thường ở mức 15 – 17 m. Thành phố Sông Công được dòng sông Công chia làm 2 khu vực phía Đông và phía Tây tạo 2 nhóm cảnh quan chính: Khu vực phía Đông có địa hình đồng bằng, xen lẫn gò đồi nhỏ và thấp, có độ cao trung bình từ 25 – 30 m, phân bố dọc theo thung lũng sông thuộc các xã Bá Xuyên, xã Tân Quang và các phường Lương Châu, Thắng Lợi, Cải Đan, Phố Cò, Bách Quang: - Khu vực phía Tây có địa hình chủ yếu là gò đồi và núi thấp với độ cao 80 – 100 m; một số đồi cao khoảng 150 m và núi thấp trên 300 m, phân bố dọc theo ranh giới phía Tây thị xã trên địa phận các xã Bình Sơn và Vinh Sơn.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Sông Công thuộc vùng trung du Bắc Bộ.

  • Nhiệt độ không khí trung bình 23 °C, nhiệt độ tháng cao nhất là 28 °C, nhiệt độ tháng thấp nhất là 16,1 °C, nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,4 °C và nhiệt độ thấp tuyệt đối là 3 °C
  • Độ ẩm trung bình năm (%): 82%, độ ẩm trung bình tháng cao nhất là 86%, độ ẩm trung bình tháng thấp nhất là 78%, độ ẩm thấp tuyệt đối là 16%.
  • Lượng mưa trung bình hàng năm là 2168 mm, số ngày mưa hàng năm là 142 ngày, lượng mưa tháng lớn nhất là 443 mm, lượng mưa tháng nhỏ nhất 22 mm, số ngày mưa trên 50 mm là 12 ngày, số ngày mưa trên 100 mm là 2-3 ngày, lượng mưa ngày lớn nhất là 353 mm, lượng mưa tháng lớn nhất là 1103 mm, lượng mưa tăng dần từ đầu mùa đến cuối mùa và đạt tới mức lớn nhất vào tháng 8.

Thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Dòng Sông Công nhìn từ trên cầu treo

Sông Công bắt nguồn từ vùng Đèo Khế, tỉnh Thái Nguyên, chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Sau khi ra khỏi hồ Núi Cốc ở phía Tây thành phố Thái Nguyên, nó chia thành hai nhánh. Nhánh chính chảy qua trung tâm thành phố Sông Công, qua thị xã Phổ Yên để hội lưu với sông Cầu từ bên phải tại ranh giới ba xã Thuận Thành (thị xã Phổ Yên), Trung Giã (huyện Sóc Sơn, Hà Nội) và Hợp Thịnh (huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang). Nhánh phụ nhỏ hơn chảy qua phía Bắc thành phố Sông Công, huyện Phú Bình rồi chảy vào thị xã Phổ Yên để nối với sông Cầu tại ranh giới ba xã Tân Phú, Thuận Thành (thị xã Phổ Yên), Đại Thành (huyện Hiệp Hòa).

Sông này dài 96 km. Diện tích lưu vực 951 km², cao trung bình 224 m, độ dốc trung bình 27,3%, mật độ sông suối 1,20 km/km². Tổng lượng nước 0,794 km³ ứng với lưu lượng trung bình năm 25 m³/s, môđun dòng chảy năm 26 l/s.km². Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, chiếm 74,7% lượng nước cả năm; tháng 8 có lượng dòng chảy lớn nhất chiếm 19,30% lượng nước cả năm; tháng cạn kiệt nhất chiếm 1,8% lượng nước cả năm.

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vùng Gò Đầm có nền đất tốt, cường độ chịu lực R = 2-2,5 Kg/cm^2
  • Vùng ven sông địa hình lòng chảo có cường độ chịu lực thấp hơn R = 1-1,5 Kg/cm^2
  • Mực nước ngầm thường xuất hiện ở độ sâu từ 4–5 m.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân dân thành phố Sông Công luôn tự hào với truyền thống lịch sử vẻ vang của mình. Trong các cuộc kháng chiến chống sự xâm lược của phong kiến phương Bắc trước đây đều có sự tham gia tích cực của nhân dân thành phố Sông Công. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta nhân dân thành phố đã tích cực hưởng ứng cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế năm 1886khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917.[6]

Căng (camp:trại) Bá Vân được xây dựng khoảng năm 1941 nằm ở trung tâm xã Bình Sơn. Từ đầu năm 1942, thực dân Pháp đưa gần 200 tù chính trị, phần lớn là các chiến sĩ cộng sản từ Bắc Mênhà tù Sơn La về giam giữ tại Bá Vân. Hiện tại có nhà bia di tích Căng Bá Vân - Bình Sơn.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trên địa bàn thành phố có một số ngôi chùa:

Các tuyến đường, phố chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đường Cách mạng tháng 10
  • Đường Thắng Lợi
  • Đường 3/2
  • Đường 30/4
  • Đường Lương Sơn
  • Đường Cách mạng tháng tám
  • Đường Thống Nhất
  • Đường Trần Phú
  • Đường Trần Hưng Đạo
  • Đường Lê Hồng Phong
  • Đường Nguyễn Văn Cừ
  • Đường Vũ Xuân
  • Đường Lý Thường Kiệt
  • Phố An Châu
  • Phố Tôn Thất Tùng
  • Phố Ngô Sỹ Liên
  • Phố Kim Đồng
  • Phố Nguyễn Lương Bằng
  • Phố Nguyễn Khuyến

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Sông Công cũng là một trung tâm giáo dục của tỉnh Thái Nguyên sau TP.Thái Nguyên. Tại đây có các trường: Trường Cao đẳng Công nghiệp Việt Đức, Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế công nghiệp (Cơ sở 2) , cao đẳng cơ khí luyện kim...

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hồ Núc Nác thuộc xã Vinh Sơn.
  • Hồ Ghềnh chè thuộc xã Bình Sơn.
  • Nhà tù Căng Bá Vân thuộc xã Bình Sơn
  • Trại Ngựa thuộc xã Bình Sơn

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Khu công nghiệp Sông Công I thuộc thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Khu công nghiệp Sông Công là một trong những công trình trọng điểm. Dự án khả thi xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Sông Công được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt số: 181 ngày 01/9/1999. Diện tích theo quy hoạch tổng thể: 320 ha; diện tích giai đoạn I: 70 ha. Năm 2011, thành phố Sông Công đạt được những thành tựu kinh tế sau: Tổng giá trị sản xuất (tính theo giá hiện hành) ước đạt gần 5,9 nghìn tỷ đồng, bằng 102,1% kế hoạch, tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2010; giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn ước đạt trên 660 tỷ đồng (33,2 triệu USD), bằng 184% kế hoạch, tăng 202% so với cùng kỳ năm 2010; thu nhập bình quân đầu người ước đạt 24,6 triệu đồng/người/năm, tăng 4,6 triệu đồng/người/năm so với cùng kỳ năm 2010; thu ngân sách thành phố ước đạt trên 115 tỷ đồng, bằng 169,2% kế hoạch tỉnh giao, bằng 152% kế hoạch thành phố, tăng 43% so với cùng kỳ năm 2010; sản lượng lương thực cây có hạt ước đạt trên 17 nghìn tấn, bằng 101% kế hoạch tỉnh giao, 104% kế hoạch thành phố, tăng 0,94% so với cùng kỳ 2010; tỷ lệ hộ nghèo còn 7,21%, giảm 3,08% so với kế hoạch (tính theo tiêu chí mới)[7].

Quy hoạch[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Sông Công được quy hoạch là một đô thị công nghiệp theo hướng hiện đại. Hiện tại, trên địa bàn thành phố Sông Công đã và đang thu hút nhiều dự án đầu tư về đô thị như: Khu đô thị Kosy 40ha, khu dân cư đường Thống Nhất 20ha, khu đô thị 2 đầu cầu cứng Sông Công... sẽ góp phần tăng tỉ lệ đô thị hóa trên địa bàn thành phố.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]