Sơn dương Caucasus phía đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Dê hoang Daghestan
Daghestanischer Tur Ostkaukasischer Steinbock Capra cylindricornis Zoo Augsburg-02.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Artiodactyla
Họ (familia)Bovidae
Phân họ (subfamilia)Caprinae
Chi (genus)Capra
Loài (species)C. caucasica
Phân loài (subspecies)C. c. cylindricornis
Danh pháp ba phần
Capra caucasica cylindricornis
Blyth, 1841
Danh pháp đồng nghĩa
Capra cylindricornis

Dê núi miền đông Caucasia hay còn gọi là Dê núi Daghestan (Danh pháp khoa học: Capra caucasica cylindricornis) là một phân loài của loài núi Capra caucasica. Đây là phân loài chỉ có ở nửa phía đông của dãy núi Caucasus Lớn. Dê núi miền đông sống ở địa hình đồi núi gồ ghề, nơi nó ăn chủ yếu là cỏ và lá cây, chúng là con mồi hay bị săn của sói và linh miêu. Nó đôi khi được coi là một phân loài của dê núi miền tây, và đôi khi là một loài đầy đủ theo đúng nghĩa của nó.

Môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm vi phân loài này được giới hạn dãy núi Caucasus lớn giữa 800 và 4.000 m (2.600 ft và 13,100) so với mực nước biển, khoảng kéo dài từ núi Shkhara (Gruzia) ở phía tây đến núi Babadag (Azerbaijan) ở phía đông. Rìa phía tây của dãy núi phân bố của Dê núi miền đông vẫn chưa có rõ ràng, vì nó trùng lắp với dê núi miền tây (Capra caucasica).

Hầu hết các quần thể các loài động của con người và tránh vào trong địa hình mở vì vô cùng cứng và cao khoảng 3.000 m. Tại các khu vực không có hoặc có rất ít hoạt động của con người, Dê chiếm chỗ ở địa hình thoai thoải và thấp hơn nhiều. Một mảnh của một vùng đất có địa hình tối ưu, khí hậu và mức độ tác động của con người cho các loài có nhiều khả năng chứa các loài nếu diện tích của chúng lớn hơn và khoảng cách của nó tới các loài trong quần thể gần nhất.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ thể[sửa | sửa mã nguồn]

Dê núi miền đông là loài động vật giống dê với các cơ quan lớn nhưng hẹp và chân ngắn, và biểu hiện sự lưỡng hình giới tính đáng kể về mặt tổng thể đối với kích thước và sự phát triển sừng. Con đực trưởng thành khi đứng cao khoảng 105 cm (41 in) tính đến vai, và đo được 190 cm (75 in) chiều dài đầu-cơ thể, và chúng nặng khoảng 140 kg (310 lb). Các thông số tương đương với con cái trưởng thành là 85 cm (33 in) cho chiều cao vai, 138 cm (54 in) cho chiều dài đầu-cơ thể, và chỉ nặng 56 kg (123 lb). Con đực có sừng hơi mang hình lyre đã đạt tới 70–90 cm (28–35 in) về chiều dài, trong khi ở những con cái thường chỉ dài từ 20–22 cm (7,9-8,7 in).

Những lớp lông khoác mùa hè là ngắn và có màu cát vàng, với phần dưới màu trắng bẩn. Ngoài ra, các đường sọc màu nâu sẫm dọc theo bề mặt trước chân và trên bề mặt trên của cái đuôi. Trong mùa đông, lớp lông của con đực và con cái còn tơ trở nên hơi xám màu, nhưng nếu không vẫn tương tự. Tuy nhiên, lớp lông mùa đông của con đực trưởng thành có một màu nâu sẫm rắn rỏi, không có các dải nhìn thấy được trên hai chân.

Con đực phát triển một bộ râu dê với lớp lông vào mùa đông của chúng trong năm thứ hai và đạt chiều dài đầy đủ của khoảng 12 cm (4,7 in) vào năm thứ tư hoặc thứ năm của chúng. So với các phân loài dê khác, râu của Dê núi miền đông là tương đối cứng, và dự phần nào về phía trước chĩa ra, chứ không rủ xuống. Các bộ râu là nhỏ hoặc hoàn toàn không thấy ở con cái, và ở con đực trong lớp lông mùa hè của chúng.

Tập tính ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Một con dê đực đang ăn cỏ khô

Trong những tháng ấm áp, chúng thường ăn uống trong khoảng thời gian trong suốt buổi chiều muộn, đêm và buổi sáng, với thời gian nóng nhất trong ngày chúng sẽ nghỉ ngơi ở những nơi có bóng râm. Vào mùa đông, những đàn có thể vẫn còn lảng vảng trong đồng cỏ mở suốt ngày, luân phiên ăn uống và nghỉ ngơi. Phạm vi hoạt động hàng ngày có thể bao gồm từ 15 đến 20 km (9,3-12,4 mi). Chúng ăn hầu như tất cả các loại thực vật có sẵn, nhưng thích các loài hoa vào mùa xuân và mùa hè, các loại cỏ, cây cối và cây bụi vào mùa thu và mùa đông.

Di cư theo mùa của chúng bao gồm một khoảng cách từ 1.500 đến 2.000 m (4.900 ft đến 6600), với một động lực thúc đẩy chúng treo lên đó trong tháng năm và một cuộc rút lui xuống thấp trong tháng Mười. Con đực trưởng thành thường sống ở độ cao cao hơn so với con cái và con non của chúng. Chúng cùng tham gia cùng bầy đàn trong mùa sinh sản. Trong suốt mùa hè, các con dê núi cũng làm một cuộc di cư hàng ngày, di chuyển nhiều đến 1.000 m (3.300 ft) theo chiều dọc giữa đồng cỏ để ăn và thời gian ban đêm để nghỉ ngơi.

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh đẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Dê nuôi con bắt đầu từ cuối tháng 11 đến đầu tháng Giêng, với ca sinh diễn ra vào tháng Năm và tháng Sáu, sau một thời gian mang thai của 160-165 ngày. Dê con sơ sinh cân nặng 3,4-4,1 kg (7,5-9,0 lb); chúng thường là động vật sống đơn độc và sinh con một lứa, mặc dù khoảng 3% thai kỳ kết quả trong cặp sinh đôi. Dê non cực kỳ nhanh nhẹn, có khả năng leo dốc lớn về sau khi sinh ra chỉ một ngày trong cuộc đời.

Chúng thường bắt đầu ăn mẫu cỏ sau một tháng, nhưng vẫn tiếp tục bú cho đến khoảng tháng Mười Hai. Tăng trưởng của chúng tương đối chậm, với con cái sẽ không đạt kích thước đầy đủ của chúng trong năm năm, và các dê đực tơ vào khoảng 10 hay 11 tuổi. Con cái trưởng thành thuần thục về tình dục lúc hai năm tuổi, nhưng, trong tự nhiên, thường là không nuôi được con cho đến khi lên bốn tuổi. Dê núi miền đông có thể lai giống với Dê núi miền tây và với dê nhà mặc dù điều này là không phổ biến trong tự nhiên.

Cạnh tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian động dục, các cuộc cạnh tranh mạnh mẽ phát sinh giữa những con đực tranh giành quyền giao phối. Những con đực lớn tuổi chiếm ưu thế hơn những con đực trẻ hơn, và chúng sẽ đi rà rà, me me bên con cái và sử dụng tư thế đe dọa, đổ xô vào những con đực lảng vảng khác và các cuộc đụng độ thường xuyên với sừng của chúng. Các trận đánh giữa những con đực có kích thước bằng nhau là khá khốc liệt, bắt đầu với cả hai con vật nuôi trên hai chân sau và bạng nhau, trận chiến kết thúc khi một con bạng cho con kia lăn xuống sườn dốc và thúc thủ rời khỏi nhóm. Trong mùa này, con đực cũng đánh dấu lãnh thổ của mình bằng cách để lại mùi hương đánh dấu trên thân cây và các nhánh cây.

Ngoài mùa giao phối, những con cái sống trong các nhóm ổn định với mức trung bình khoảng bảy cá thể, thường bao gồm một vài con đực chưa trưởng thành. Những con đực lớn tuổi sống trong đó, nhóm đơn tính lớn hơn, với mức trung bình khoảng 12 thành viên, trong khi một số con đực trẻ đi theo nhóm của khoảng hai hoặc ba con. Những nhóm liên minh con đực này sẽ tan rã khoảng tháng mười một, khi mùa giao phối bắt đầu và nhóm hỗn hợp quan hệ tình dục trở thành nhóm tiêu chuẩn, việc này lập lại một lần nữa vào tháng Giêng hoặc tháng Hai. Trong khu vực bảo vệ, mật độ của các loài động vật khác nhau giữa khoảng từ 5 đến 16 / km2 (13 và 41/sq mi).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Weinberg, P. (2008). Capra cylindricornis. In: IUCN 2008. IUCN Red List of Threatened Species. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2009. Database entry includes a brief justification of why this species is of near threatened status.
  • Weinberg, P.J. (2002). "Capra cylindricornis". Mammalian Species: Number 695: pp. 1–9. doi:10.1644/1545-1410(2002)695<0001:CC>2.0.CO;2.
  • Gavashelishvili, A. (2004). "Habitat selection by East Caucasian tur (Capra cylindricornis)". Biological Conservation 120 (3): 391–398.
  • Brent Huffman, 2004, www.ultimateungulate.com
  1. ^ Weinberg, P. (2008). Capra cylindricornis. 2008 Sách đỏ IUCN. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế 2008. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2009. Database entry includes a brief justification of why this species is of near threatened status.